1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
oOo
LÊ THỊ KIM CHĂM
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
oOo
LÊ THỊ KIM CHĂM
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN VĨNH HÙNG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao
chép của ai. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin được đăng
tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Lê Thị Kim Chăm
4
MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu 5
1.5 Dữ liệu 5
1.6 Phương pháp nghiên cứu 5
1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài 5
1.8 Kết cấu của nghiên cứu: 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7
2.1 Các nghiên cứu về tác động của thông báo cổ tức đến giá cổ phiếu 9
2.1.1 Các nghiên cứu tại thị trường đã phát triển. 9
2.1.2 Nghiên cứu tại thị trường mới nổi 10
2.1.3Các nghiên cứu tại thị trường Đông Nam Á 12
2.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức 14
2.2.1 Các nghiên cứu tại thị trường đã phát triển 14
2.1.2 Các nghiên cứu tại thị trường mới nổi 15
2.1.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Dữ liệu và Mẫu 19
5
3.2 Phương pháp nghiên cứu 19
3.2.1 Tác động của công bố cổ tức đến giá cổ phiếu 19
3.2.2 Phương pháp Event Study 20
3.2.3 Các biến sử dụng trong mô hình hồi quy tác động đến chính sách cổ tức 22
3.2.4 Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức 28
3.2.5 Xử lý dữ liệu hồi quy 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Phương pháp Event Study-Ảnh hưởng của công bố cổ tức đến giá cổ phiếu 30
4.1.1 Ngành công nghiệp 30
4.1.2 Ngành tiêu dùng 35
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức 41
4.2.1 Ngành công nghiệp 42
4.2.2 Ngành hàng tiêu dùng 46
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 52
6
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
Trang
Bảng 3.1: Thống kê số công ty trong mỗi ngành 19
Bảng 4.1Số lần công bố cổ tức từ 2007 đến 2012 của
các công ty trong ngành công nghiệp 30
Bảng 4.2: Thống kê mô tả tỷ lệ cổ tức tiền mặt của các công ty
trong ngành công nghiệp 30
Bảng 4.3 Lợi nhuận bất thường trung bình của 209 lần công bố cổ tức tăng
trong khung sự kiện từ ngày thứ -20 đến +20 của các công ty trong ngành công
nghiệp 31
Bảng 4.4 Lợi nhuận bất thường cộng gộp của 209 lần công bố cổ tức tăng
trong khung sự kiện -20 đến +20 của các công ty ngành công nghiệp 32
Bảng 4.5: Lợi nhuận bất thường trung bình của 199 lần công bố cổ tức tăng
trong khung sự kiện từ ngày thừ -20 đến +20 của các công ty
ngành công nghiệp 34
Bảng 4.6: Lợi nhuận bất thường cộng gộp của 199 lần công bố cổ tức giảm
trong khung sự kiện -20 đến +20 của các công ty ngành công nghiệp 35
Bảng 4.7 Số lần công bố cổ tức từ 2007 đến 2012 của các công ty trong
ngành công nghiệp 35
Bảng 4.8 Thống kê mô tả tỷ lệ cổ tức tiền mặt của các công ty trong
7
ngành hàng tiêu dùng 36
Bảng 4.9: Lợi nhuận bất thường trung bình của 48 lần công bố cổ tức tăng trong
khung sự kiện từ ngày thừ -20 đến +20 của các công ty ngành hàng tiêu dùng 37
Bảng 4.10: Lợi nhuận bất thường cộng gộp của 48 lần công bố cổ tức tăng trong
khung sự kiện -20 đến +20 của các công ty ngành hàng tiêu dùng 38
Bảng 4.11: Lợi nhuận bất thường trung bình của 43 lần công bố cổ tức giảm
trong khung sự kiện từ ngày thừ -20 đến +20 của các công ty
ngành hàng tiêu dùng 40
Bảng 4.12: Lợi nhuận bất thường cộng gộp của 43 lần công bố cổ tức giảm
trong khung sự kiện -20 đến +20 của các công ty ngành hàng tiêu dùng 40
Bảng 4.13: Thống kê mô tả tỷ lệ chi trả cổ tức và các nhân tố ảnh hưởng
ngành công nghiệp 42
Bảng 4.14: Bảng phân tích tương quan tỷ lệ cổ tức và các nhân tố
ảnh hưởng của các công ty trong ngành công nghiệp 43
Bảng 4.15: Bảng hồi quy của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ cổ tức ngành
công nghiệp 44
Bảng 4.16: Hệ số tương quan và kiểm định Fcủa ngành công nghiệp 44
Bảng 4.17: Thống kê mô tả của tỷ lệ cổ tức và các biến ảnh hưởng
trong ngành hàng tiêu dùng 47
Bảng 4.18: Phân tích phương sai của tỷ lệ cổ tức và các yếu tố
ảnh hưởng trong ngành hàng tiêu dùng 48
8
Bảng 4.19: 7 Bảng hồi quy của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ cổ tức
ngành hàng tiêu dùng 49
Bảng 4.20: Hệ số tương quan và kiểm định F của ngành hàng tiêu dùng. 49
1
TÓM TẮT
- Từ năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động mạnh mẽ,
trải qua nhiều biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng, thị trường chứng khoán đã và đang tiềm ẩn rất nhiều yếu tố có thể tác
động đến nhà đầu tư. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2007, nhà đầu tư ít
quan tâm đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt, khuyến khích doanh
nghiệp giữ lại lợi nhuận để tiếp tục đầu tư. Tuy nhiên, bắt đầu sau năm 2008,
bước vào giai đoạn khủng hoảng, thì việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt gia tăng.
- Tác động của chính sách cổ tức đến giá trị của doanh nghiệp đã được nghiên
cứu nhiều, nhưng chủ yếu tập trung ở các nước phát triển. Nghiên cứu này tìm
kiếm những tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại thị trường có
nền kinh tế mới nổi. Mục tiêu mong muốn xác định chính sách cổ tức ảnh
hưởng đến giá của các công ty trên sàn chứng khoán Việt Nam thuộc hai ngành
công nghiệp và tiêu dùng. Nghiên cứu này phân tích khi cổ tức được công bố
thì khả năng truyền tải thông điệp mà các nhà quản lý muốn gửi đến nhà đầu tư
không và nó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay không. Sau đó tìm ra yếu tố tác
động lên chính sách cổ tức mà cụ thể là yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định tỷ
lệ chi trả cổ tức tiền.
- Dựa trên nghiên cứu tại thị trường mới nổi và tại Việt Nam trong quá khứ, ở cả
hai ngành tác động của công bố tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt tăng không ảnh
hưởng nhiều đến giá của cổ phiếu, và chỉ tác động trong vài ngày sau khi cổ tức
được chính thức đưa đến thị trường. Tuy nhiên khi cổ tức giảm đã có tác động
mạnh đến giá cổ phiếu, đặc biệt là nó truyền tải thông tin đến nhà đầu tư về lợi
nhuận, dòng tiền thuần không khả quan. Với 7 biến trong nghiên cứu, cả hai
ngành đều cho thấy ảnh hưởng của dòng tiền thuần đến tỷ lệ chi trả cổ tức, điều
này cho thấy tầm quan trọng của dòng tiền thuần đối với quyết định chi trả cổ
tức. Qua đó, nghiên cứu cũng cho thấy khi cổ tức giảm, các yếu tố tác động đến
2
chính sách cổ tức sẽ được các nhà đầu tư nhận thấy có dấu hiệu không tốt, điều
này ảnh hưởng và làm giảm giá cổ phiếu.
- Từ kết quả của nghiên cứu này, nhà quản lý sẽ cân nhắc để tối đa hoá giá trị
của cổ đông thông qua giá của cổ phiếu bằng chính sách cổ tức phù hợp.
Nghiên cứu ngày sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu trong tương lai đối với các
vấn đề liên quan đến cổ tức, đặc biệt là với thị trường chứng khoán còn trong
giai đoạn hoàn thiện của Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
- Thực hiện một chính sách chi trả cổ tức như thế nào vẫn đang là một trong mười
câu hỏi chưa có được đáp án trong lĩnh vực tài chính. Tuy có rất nhiều nghiên cứu
về các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức tại các quốc gia phát triển, song với
các nền kinh mới nổi thì các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức có thể không
giống nhau, vì phong tục tập quán, thông tin ít hiệu quả hơn, mô hình quản trị
doanh nghiệp, thuế và các yếu tố khác của nền kinh tế. Glen et al 1995 cũng đã tìm
thấy có sự khác biệt trong chính sách cổ tức giữa thị trường mới nổi và thị trường
phát triển,trong khi đó (Aivazian et al 2003) đã so sánh mẫu của các công ty hoạt
động trên 8 thị trường mới nổi và 99 công ty tại Mỹ và có kết luận ngược lại với
nghiên cứu của Glen et al (1995), vì ông cho rằng tỷ lệ chi trả cổ tức của các công
ty ở thị trường mới nổi cũng tương đương với các công ty tại Mỹ. Điều này đã làm
tăng sự tranh cãi về chính sách cổ tức.
- Lý thuyết “ The bird in the hand” của Myro Gordon và John Lintner đã được đưa
ra để các nhà quản lý có chính sách cổ tức tối ưu. Là lý thuyết ưa chuộng những
điều gì xảy ra trong hiện tại. Theo lý thuyết này thì những việc giữ lại lợi nhuận,
không chi trả cổ tức và tái đầu tư là yếu tố không chắc chắn. Công ty nên thiết lập
tỷ lệ chi trả cổ tức cao để tối đa hoá giá trị cổ phiếu. Do đó “the bird in the hand
explanation” khẳng định là chi trả cổ tức cao làm tăng giá trị của công ty vì cổ tức
đại diện cho điều gì đó là chắc chắn.
- Lý thuyết thị trường hiệu quả đã đưa ra mối liên hệ giữa tập hợp những thông tin
đang có trong thị trường với giá cổ phiếu. Lý thuyết cho rằng giá cả hoàn toàn
được định giá dựa trên những thông tin đang có. Và do đó, không thể kiếm được
lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã có hay những hình thái biến động
của giá trong quá khứ. Những thông tin này bao gồm các thông báo, bảng cáo
bạch, các chỉ số tài chính ( EPS, ROE, ROI…) và những thông tin khác được công
ty công bố. Và một trong những thông báo quan trọng của công ty đó là công bố tỷ
lệ chi trả cổ tức.
4
- Và chính sách cổ tức tác động đến giá trị công ty hay không đã được Miller và
Modigliani (1961) với giả thiết một thị trường hào hảo gồm các điều kiện không
thuế, không chi phí chuyển đổi, theo hai ông thì chính sách cổ tức không ảnh
hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. Với một đồng chi cho cổ tức thì nó tương ứng
nó sẽ làm giảm giá cổ phiếu xuống 1 đồng, đồng thời giá trị của doanh nghiệp
cũng giảm tương ứng với cổ tức. Đó là quan niệm của trường phái trung dung.
Tuy nhiên, điều kiện mà Mill và Modigliani đưa ra là những yếu tố không thể có
trong thế giới hiện tại.
- Sự khác biệt giữa hai môi trường kinh tế đã đưa đến những kết quả không tương
đồng nhau trong các nghiên cứu giữa thị trường mới nổi và thị trường phát triển.
Song, thị trường chứng khoán của các nước mới nổi cũng là một thị trường còn
đang phát triển, vì thế ở một mức độ nào đó, thị trường chứng khoán Việt Nam
cũng sẽ có sự tương tự. Vì vậy, cơ sở lý thuyết và mô hình trong nghiên cứu này
được dựa theo một số các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi như Ấn Độ, Ả
Rập, Jordan, Pakistan, Singapore, Indonesia….
- Môi trường kinh tế khác nhau sẽ tác động lên các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách
cổ tức, song song với nó, sự khác biệt giữa các ngành cũng sẽ có những tác động
nhất định với chính sách cổ tức. Do đặc điểm từng ngành khác nhau, nên nhu cầu
vốn cũng khác nhau, vì thế cũng sẽ khác nhau theo từng ngành đối với yếu tố ảnh
hưởng đến các quyết định cho chính sách cổ tức.
- Thông qua các nghiên cứu trước tại thị trường mới nổi, bài nghiên cứu này muốn
tìm kiếm xem chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu hay không bằng cách
thông qua công bố cổ tức và lợi nhuận bất thường của trước và sau khi công bố
được đưa tới thị trường thông qua các dữ kiện của ngành công nghiệp và hàng tiêu
dùng được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Đồng thời tìm các nhân tố
ảnh hưởng đến chính sách cổ tức, thông qua ảnh hưởng của công bố cổ tức để xem
các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức có được truyền đến nhà đầu tư khi cổ
tức tăng hay giảm không?
5
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu này tập trung vào 2 mục tiêu:
- Chính sách cổ tức có truyền tải thông tin và tác động thay đổi giá của cổ phiếu
không.
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tác động đến chính sách cổ tức, gồm có 7 biến:
tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ đòn bẩy, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, quy mô công ty,
dòng tiền thuần, rủi ro.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Khi cổ tức được công bố tăng/giảm, giá cổ phiếu có tăng/giảm không?
- Trong 7 yếu gồm tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ đòn bẩy, khả năng thanh khoản, lợi
nhuận, quy mô công ty, dòng tiền thuần, rủi ro, sự tác động của 7 biến trên đến
chính sách cổ tức như thế nào?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng của 135 công ty thuộc ngành công nghiệp và
hàng tiêu dùng đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP HCM từ
2006 đến 2012
1.5 Dữ liệu
- Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính tại website www.cophieu68.com
trong 6 năm từ 2006 đến 2012. Các biến số trong mô hình được xây dựng từ báo
cáo tài chính hàng năm cho tất cả các công ty trong mẫu nghiên cứu của hai ngành
gồm ngành công nghiệp và ngành hàng tiêu dùng.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp Event Study để xem xét chính sách cổ tức có tác động đến
giá cổ phiếu thông qua công bố của cổ tức.
- Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy đa biến để định lượng các yếu tố
tác động đến chính sách cổ tức trong ngành công nghiệp và hàng tiêu dùng.
1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài
- Với thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam, nghiên cứu xem chính sách
cổ tức có tác động đến giá trị của cổ phiếu hay không và các nhân tố nào có tác
6
động đến quyết định chính sách cổ tức của các nhà quản trị là vô cùng quan trọng.
Trong những giai đoạn khác nhau, thì các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức
và giá của cổ phiếu sẽ khác nhau. Vì thế kết quả của nghiên cứu này sẽ đóng góp
làm nền tảng cho các nghiên cứu trong tương lai.
- Song song đó, nghiên cứu sẽ giúp giám đốc tài chính lựa chọn chính sách cổ tức
phù hợp với cổ đông và nâng cao giá trị của cổ phiếu.
1.8 Kết cấu của nghiên cứu:
- Bài nghiên cứu được trình bày như sau
- Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận
7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
- Chính sách cổ tức là một trong những đối tượng được tranh luận kể từ khi lý
thuyết Miller và Modigliani (1961), ra đời với các giả thiết chỉ có trong thị
trường hoàn hảo như không thuế, không chi phí chuyển đổi, mọi thông tin đều
được công khai thì chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của doanh
nghiệp hay giá cổ phiếu. Tuy nhiên, lý thuyết Miller và Modigliani (1961)cũng
thừa nhận rằng chính sách cổ tức có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
nếu một trong các giả thiết bị vị phạm. Thực tế là môi trường không đạt được
hết những giả thiết của Miller và Modigliani (1961) nên các nhà nghiên cứu đã
đưa ra các lý thuyết ngược lại của hai ông. Điển hình là lý thuyết “the bird in
hand” của Gordon (1959).
- Gordon (1959) đã đưa ra lý thuyết “ the bird in hand”. Ông cho là cổ tức nhận
giá trị tương lai là điều không chắc chắn, cổ đông thích những điều chắc chắn
dưới dạng cổ tức vì thế những cố phiếu có cổ tức cao sẽ có giá cao hơn những
công ty chi trả cổ tức thấp.
- Trong những thập niên 70 và 80, một vài nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về
mối liên hệ giữa thuế và chính sách cổ tức ( Litzenberger và Ramaswamy
1979; John và Williams 1985; Poterba và Summers 1984, Miller và Rock 1985,
Ambarish et al 1987, Pettit 1972). Giả thuyết này cho là cổ tức bị đánh thuế cao
hơn lợi nhuận vốn cổ phần, cổ tức sẽ bị đánh thuế trực tiếp, trong khi thuế của
vốn cổ phần thì chỉ phải đóng khi cổ phần được bán. Do đó, các nhà đầu tư ưa
thích công ty giữ lại lợi nhuận hơn là phân phối dưới dạng tiền mặt. Với sự
thuận tiện vì không bị đánh thuế ngay của vốn cổ phần, nên nhà đầu tư thích
chi trả cổ tức thấp thay vì trả cổ tức cao. Một sự giải thích khác cho chính sách
cổ tức đó là chi phí chuyển đổi và lý thuyết phần dư. Lý thuyết này cho rằng
các công ty phải gánh chịu chi phí chuyển đổi lớn, vì thể việc cắt giảm cổ tức
để tránh các chi phí tài chính trên (Mueller 1967, Crutchley và Hansen 1989,
8
Alli et al 1993). Đồng thời, một giải thích liên quan đến chi phí đại diện, trong
trường hợp này, chi phí đại diện là chi phí chi ra cho hoạt động quản lý công ty
để tránh các hành vi không phù hợp. Chi trả cổ tức cao giảm các dòng tiền bên
trong, để các nhà quản lý nổ lực tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài và tiếp
đó, tạo cho họ tìm đến các nhà cung cấp vốn, do đó, sẽ giảm được chi phí đại
diện. (Rozeff 1982; Easterbrook 1984; Crutchley và Hansen 1989; Dempsey
và Laber 1992; Saxena 1999)
- Bhattacharya (1979) đã cho rằng cố tức là một dấu hiệu và dòng tiền mong đợi
trong thị trường không hoàn hảo và cổ tức là công cụ tiền để truyền tải thông
tin bất cân xứng với cổ đông về khả năng hoạt động kinh doanh của công ty
trong tương lai.
- Trong đầu thập niên 80, lý thuyết dấu hiệu ( signal theory) đã được phân tích.
Sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông bên ngoài chấp
nhận cho các nhà quản lý sử dụng cổ tức như là công cụ truyền tải thông tin về
thành quả hoạt động của công ty (Asquith và Mullin 1986), Miller và Rock
1985 , John và Williams 1985 đã cho rằng những công ty thay đổi chính sách
chi trả cổ tức để thể hiện thành quả hoạt động trong tương lai. Bởi vì các nhà
quản lý biết nhiều thông tin hơn các cổ đông nên đó là cách duy nhất để đưa
thông tin của công ty đến thị trường. Asquith và Mullin 1986 đã điều tra thông
báo cổ tức đầu tiên trong lịch sử của các doanh nghiệp hay cổ tức đầu tiên sau
mỗi giai đoạn 10 năm và thấy là thị trường phản ứng mạnh hơn nếu hình thức
thông báo cổ tức biến động mạnh Travol et al 2001 đã tìm thấy phản ứng của
thị trường chứng khoản Anh, Ai-len, và Cyprus, họ tìm thấy bằng chứng tương
tự là giá cổ phiếu tác động trực tiếp khi những thay đổi cổ tức và tác động cùng
chiều với thông tin được đưa ra.
- Đã có rất nhiều nghiên cứu tác động của những công bố chính sách cổ tức tác
động đến giá cổ phiếu như thế nào và cũng đã có rất nhiều ý kiến trái chiều
nhau như Ball, Brow , Finn & Officer (1979), họ đã tìm thấy mối liên hệ giữa
cổ tức và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán từ 1960-1969. Với mối liên
9
hệ cùng chiều trong nghiên cứu của Acker (1999), Gordon (1959), trong khi
một số nghiên cứu khác lại tìm được mối liên hệ ngược chiều như
Easton&Sinclair (1989), Loughlin (1982).
Như đã nói ở trên, đối với những thị trường khác nhau thì các yếu tố tác động
đến chính sách cổ tức sẽ khác nhau, và tác động của các thông báo cổ tức cũng
khác nhau. Việc tìm hiểu các nghiên cứu khác nhau sẽ cho chúng ta thấy vấn đề
trên rõ hơn
2.1 Các nghiên cứu về tác động của thông báo cổ tức đến giá cổ phiếu
2.1.1 Các nghiên cứu tại thị trường đã phát triển.
- Trong nghiên cứu của Pyung Sig Yoon & Starks (1995) đã tìm kiếm những tác
động của thông báo cổ tức, trong giai đoạn 1969 đến 1988 của các công ty trên
sàn chứng khoán NYSE, dữ liệu với 3.748 công bố cổ tức tăng và giảm. Kết
quả nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của mô hình dấu hiệu khi cổ tức tăng đã đưa
ra thông tin của nhà quản lý về dòng tiền trong hiện tại hơn là tiền trong tương
lai.
- Elisabete Vieria (2007) đã nghiên cứu khả năng truyền tải tín hiệu của thông
báo cổ tức của 3 nước tại Châu Âu là Pháp, Anh và Bồ Đào Nha từ năm 1995
đến 2002 tại Pháp và Anh và 1989 đến 2002 với thị trường Bồ Đào Nha, gồm
84 công ty với 380 sự kiện công bố cổ tức tại Bồ Đào Nha, 93 công ty với 356
công bố cổ tức tại Pháp và 524 công ty với 3.278 sự kiện tại Anh. Theo lý
thuyết dấu hiệu của cổ tức, khi cổ tức thay đổi sẽ tạo ra lợi nhuận bởi nó truyền
tải thông tin thay cho công bố của các giám đốc tài chính về lợi nhuận trong
tương lai của công ty. Nghiên cứu đã không cho kết quả về mối quan hệ cùng
chiều giữa công bố cổ tức với phản ứng giá của thị trường tại các công ty Pháp,
và có tác động yếu với các công ty Bồ Đào Nha và Anh.
- Một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của Eyup Kadioglue (2008) đã phân tích tác
động của công bố cổ tức tiền mặt đến giá cổ phiếu. Tác giả tìm xem công bố cổ
tức tiền mặt đến lợi nhuận bất thường từ t=-5 đến t=15. Với nguồn dữ liệu từ
88 công ty với 330 công bố từ 2003 đến 2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy
10
mối liên hệ ngược chiều giữa cổ tức tiền mặt đối với lợi nhuận bất thường sau
khi được công bố. Khi cổ tức tiền mặt giảm, lợi nhuận bất thường dương trong
khung sự kiện sau ngày công bố cổ tức và điều này tiếp tục ít nhất là 15 ngày
sau đó. Không có mối liên hệ có ý nghĩa của giai đoạn trước khi công bố cổ tức
tạo ra lợi nhuận bất thường. Công bố của cổ tức trên giá cổ phiếu cao hơn thì
lợi nhuận bất thường càng giảm nhiều, và cổ tức trên giá cổ phiếu thấp hơn thì
lợi nhuận bất thường giảm ít hơn.
- Để tìm sự khác biệt ở nhiều nước đã phát triển trên thế giới, Anders Isaksson
(2013) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm về giá của cổ phiếu với công
bố cổ tức với các cổ phiếu bule-chip tại Mỹ, Anh, Nhật và Trung Quốc trong
giai đoạn từ 2005 đến 2009. Nghiên cứu này đánh giá sự thay đổi giá của các
cổ phiếu có tình thanh khoản cao tại ngày không giao dịch không hưởng quyền
trong giai đoạn khủng hoàng tài chính ở 4 thị trường vốn lớn của thế giới. Đối
với thị trường New York và Shanghai, tác giả tìm thấy giá cổ phiếu giảm giá
không bằng với giá trị cổ tức vào ngày giao dịch không hưởng quyền và cũng
không có bằng chứng cho lợi nhuận bất thường. Tại sàn chứng khoán Tokyo,
giá cổ phiếu giảm nhiều hơn với cổ tức tiền mặt. Tại thị trường London và
Tokyo kết quả cho thấy lợi nhuận bất thường và giao dịch ngắn hạn xảy ra
xung quanh ngày không hưởng cổ tức.
2.1.2 Nghiên cứu tại thị trường mới nổi
- Trong nghiên cứu của Sujata Kapoor (2009) tìm kiếm lợi nhuận bất thường khi
thông báo cổ tức được công bố tại Ấn Độ. Bằng phương pháp Event Study,
trong 3 ngành IT, FMCG, và dịch vụ từ 2001- 2008. Nghiên cứu tìm thấy cổ
tức tiền mặt không luôn tạo ra lợi nhuận bất thường cho cổ đông. Với ngành
FMCG các nhà đầu tư phản ứng cùng chiều với thông báo cổ tức khi tăng hay
giảm, cổ tức được chào đón trong ngành này. Lợi nhuận bất thường được tìm
thấy trong ngành dịch vụ nhưng không liên tục trong thời gian xem xét. Ngành
IT thì không thể hiện có dấu hiểu truyền tải thông tin trong thông báo cổ tức.
Thông báo cổ tức tạo ra lợi nhuận bất thường cho 2 ngành FMCG và dịch vụ.
11
- Mohamad (2009) đã nghiên cứu tác động của công bố cổ tức lên giá của cổ
phiếu của sàn chứng khoán Kualar Lumpur từ 2001- 2005. Bằng phương pháp
Event Study, kết quả nghiên cứu là khi thông báo cổ tức tăng đã tạo ra tác động
cùng chiều và được chào đón bởi các nhà đầu tư. Nhưng khi công bố cổ tức
giảm, ngay lập tức lợi nhuận bất thường mua và bán sẽ âm nhưng không có ý
nghĩa, tuy nhiên có một số căn cứ thể hiện các nhà đầu tư phản ứng không tốt
trong giai đoạn công bố cổ tức giảm
- Một nghiên cứu khác tại Bangladesh, Mohammad Ali(2010) đã nghiên cứu giá
cổ phiếu của ngành ngân hàng với thông báo cổ tức. Nghiên cứu quan sát phản
ứng của giá cổ phiếu trong vòng 44 ngày của ngày công bố cổ tức. Mục tiêu
chính của bài này là xem thông báo cổ tức có truyền tại thông tin đến thị trường
để giá cổ phiếu bị điều chỉnh hay không? Mẫu là 55 ngân hàng niêm yết, dự
liệu lấy từ các công bố cổ tức từ tháng 1/2008 đến tháng 9/2008. Bằng phương
pháp Event Study, kết quả là giá cổ phiếu không bị tác động bởi thông báo cổ
tức. Thông báo cổ tức không truyền tải thông tin bởi sự cung cấp thông tin
mạnh mẽ của các nhà giao dịch bên trong cũng như các nhân tố khác trong thị
trường vốn.
- Muhammad Aamir (2011) thực hiện nghiên cứu cho 26 thông báo cổ tức của
những công ty trong ngành xi măng- dầu khí và gas tại Pakistan trong giai đoạn
2004-2008. Tác động của thông báo cổ tức đến giá cổ phiếu của công ty và đối
thủ cạnh tranh của nó được phân tích và cho thấy là thông báo cổ tức có dấu
hiệu cùng chiều với giá cổ phiếu tại thời điểm công bố cũng như sau đó.
- Madiha Irum, Mahira Rafique và Arshad Hassan (2012) đã thực hiện nghiên
cứu trên thị trường mới nổi Pakistan ngành dầu khí trên sàn Karachi từ năm
2005- 2010 về ảnh hưởng của thông báo cổ tức lên giá cổ phiếu. Sử dụng
phương pháp Event Study với độ trễ trước và sau 10 ngày kể từ ngày công bố
cổ tức. Kiểm định T – Test để ước lượng lợi nhuận bất thường ( AAR). Thông
báo cổ tức có truyền tải dấu hiệu cùng chiều đến cổ đông và kết quả là tăng
trong giá cổ phiếu khi cổ tức tăng và giảm khi cổ tức giảm.
12
- Một nghiên cứu ảnh hưởng của thông báo cổ tức đến giá trị của cổ đông được
thực hiện bởi Hamid Uddin (2003) cho thị trường Bhaka tại Bangladesh, với
137 công bố cổ tức. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư không thu
được lợi nhuận với công bố cổ tức tăng hay giảm. Trong suốt giai đoạn trước
khi công bố cổ tức, lợi nhuận bất thường trung bình tìm thấy có ý nghĩa trong
những ngày -6. -11, -12,-20, tuy nhiên phần trăm lợi nhuận của những ngày này
ít hơn ngày -4. Còn những ngày khác thì không có ý nghĩa. Điều này cho thấy
là phản ứng của thị trường trước khi công bố cổ tức một vài ngày là có. Trong
giai đoạn sau khi công bố cổ tức, lợi nhuận bất thường trung bình không có ý
nghĩa trừ ngày +7, +23, +28. Nhìn chung lợi nhuận bất thường trung bình cho
thấy tác động công bố của cổ tức đến thị trường nhưng không mạnh tại thị
trường Dhaka. Kết quả cũng cho thấy nhà đầu tư mất nhiều giá trị trong giai
đoạn sau khi công bố cổ tức hơn là trước khi công bố cổ tức. Điều này chứng
minh là thông báo cổ tức không mang thông tin về lợi nhuận trong tương lai
của công ty.
2.1.3 Các nghiên cứu tại thị trường Đông Nam Á
- Trong báo cáo thực nghiệm của Cheong Hoy Weng và cộng sự (2011) đánh giá
tính hiệu quả của thị trường ở cả hai sàn chứng khoán Malaysia và Singapore
bằng cách xem xét sự thay đổi của giá cổ phiếu khi cổ tức thay đổi. Mẫu
nghiên cứu là 149 công ty ở Malaysia và 96 công ty ở Singapore từ 2004 đến
2009. Kết quả là có sự tác động mạnh mẽ giữa công bố cổ tức với khả năng
truyền tải viễn cảnh tương lai của các công ty.
Đối với thị trường Malaysia: Khi cổ tức tăng, thông tin được
truyền tải đến nhà đầu tư tại mức ý nghĩa 5%, lợi nhuận bất
thường cộng gộp tăng. Cổ tức tăng, làm cho giá cổ phiếu tăng vì
nó truyền tải thông tin về dòng tiền thuần trong tương lai tăng.
Khi cổ tức giảm, lợi nhuận bất thường cộng gộp giảm chỉ có ý
nghĩa từ ngày -10 đến -6, nhưng sau đó bắt đầu tăng trở lại. Cho
thấy cổ tức giảm là một tin tốt đối với nhà đầu tư.
13
Đối với thị trường Singapore: Khi cổ tức tăng, lợi nhuận bất
thường cộng gộp tăng đều trong khung sự kiện, kết quả cho thấy
tác động mạnh mẽ giữa việc công tức tăng và có ý nghĩa làm cho
nhà đầu tư nhận thấy công ty sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn trong
tương lai khi cổ tức tăng. Khi cổ tức giảm, lợi nhuận bất thường
có xu hướng giảm từ ngày -10 đến -6 và tăng lại trong những
ngày tiếp theo, tuy nhiên, lợi nhuận bất thường cộng gộp âm và
dương trong hai giai đoạn không có ý nghĩa thống kê nên nghiên
cứu đề nghị là cổ tức giảm truyền tải thông tin xấu đến nhà đầu
tư.
- Năm 2013 một nghiên cứu tại thị trường Indonesia của Henny Medyawati đã
nghiên cứu thay đổi lợi nhuận của trước và sau ngay giao dịch không hưởng
quyền của 27 công ty trong nhóm 50 sử dụng vốn thị trường lớn nhất. Mục tiêu
của nghiên cứu này phân tích hiệu quả của trước và sau ngày công bố cổ tức
đến giá của cổ phiếu từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2010. Khi công bố cổ tức
giảm không tác động đến giá của cổ phiếu. Nhưng khi công bố cổ tức tăng thì
có tác động đến lợi nhuận trước và sau khi công bố cổ tức, tức là khi cổ tức
tăng thì giá của cổ phiếu tăng.
- Chính sách cổ tức được xây dựng và dựa trên nhiều yếu tố tác động, đối với
những thị trường khác nhau thì các nhân tố cũng khác nhau, việc tìm hiểu các
nghiên cứu khác nhau sẽ cho ta thấy điều đó.
- Nghiên cứu theo phương pháp Event Study đã được sử dụng để đánh giá tác
động của công bố cổ tức đến giá cổ phiếu trong các nghiên cứu của Hamid
Uddin (2003), Mohamad (2009), Sujata Kapoor (2009), Mohammad Ali(2010).
Với những đặc thù, quy định pháp luật mà các nghiên cứu trên lựa chọn khung
sự kiện từ 20 đến 40 ngày. Dựa theo tính tương đồng của nền kinh tế mới nổi
nghiên cứu này lựa chọn khung sự kiện là trước và sau ngày công bố cổ tức 20
ngày, tức là 41 ngày quan sát, theo như nghiên cứu của Sujata Kapoor (2009.
14
2.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
2.2.1 Các nghiên cứu tại thị trường đã phát triển
- Một nghiên cứu của Yui Man Leung 2006 đã sử dụng 250 công ty niêm yết
trên sàn chứng khoán UK với 4 ngành gồm bán sỉ, bán lẻ, ngành sản xuất và
ngành khác. Nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức
của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán UK từ năm 2001 đến 2004. Kết
quả nghiên cứu tìm thấy là những công ty có tỷ lệ tăng trưởng dự đoán trong
tương lai cao thì có xu hướng chi trả cổ tức thấp vì tỷ lệ giữ lại cao để phục vụ
cho cơ hội đầu tư. Những biến động trong dòng tiền có mối liên hệ ngược
chiều với cổ tức. Để duy trì cổ tức ổn định, các nhà quản lý phải cân nhắc dòng
tiền của công ty phòng ngừa những trường hợp không tốt trong tương lai, điều
đó có thể ảnh hưởng đến chi trả cổ tức mục tiêu. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối
liên hệ ngược chiều trong biến động giá cổ phiếu với chi trả cổ tức. Chi trả cổ
tức thấp có thể cho thấy biến động của giá cổ phiếu cao và ngược lại. Tác giả
cũng nghiên cứu những biến động trong chi trả cổ tức, khi biến động cổ tức cao
thì tỷ lệ chi trả cổ tức có xu hướng giảm, các công ty chi trả cổ tức biến động
cao, sẽ chia trả cổ tức thấp hơn. Khi biến động cổ tức cao có thể do lợi nhuận
của công ty không được bảo đảm và công ty sẽ giữ lại một phần lợi nhuận để
dành cho năm sau. Công ty tìm cách phòng tránh những trường hợp nguy hiểm.
Bởi vì nó truyền tải một dấu hiệu đến thị trường là công ty có xu hướng đầu tư
nhiều hơn trong tương lai nên cổ tức được chi trả thấp hơn. Tại UK, nghiên cứu
có kết quả là quy mô công ty tác động cùng chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức.
Nhưng nó không đóng vai trò quan trọng trong chính sách cổ tức.
- Amarjit Gill 2010 đã sử dụng dữ liệu của 500 báo cáo tài chính của những
công ty sản xuất và dịch vụ trong năm 2007 tại thị trường Mỹ. Nghiên cứu sử
dụng mô hình hồi quy để đánh giá các yếu tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức.
Kết quả là có sự khác biệt giữa hai ngành đó là lợi nhuận có mối liên hệ cùng
chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức, trong khi đó lại có mối liên hệ ngược chiều trong
ngành dịch vụ. Tương tự như thế, thuế có tác động cùng chiều trong ngành sản
15
xuất, nhưng không là ý nghĩa trong ngành dịch vụ. Nhưng tỷ lệ tăng trưởng lại
không có ý nghĩa trong ngành sản xuất mà lại có mối liên hệ ngược chiều với tỷ
lệ chi trả cổ tức trong ngành dịch vụ. Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần có tác động
cùng chiều với chi trả cổ tức trong cả hai ngành. Do đặc tính của hai thị trường
đã phát triển và đang phát triển có sự khác biệt nhau nên các nghiên cứu tìm
kiếm sự khác biệt giữa hai thị trường cũng đã được thực hiện.
- Tại các thị trường mới nổi, nghiên cứu tác động của các yếu tố đến chính sách
cổ tức cũng đã được thực hiện qua rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm.
2.1.2 Các nghiên cứu tại thị trường mới nổi
- Sujiata Kapoor (2009) đã nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức đến giá trị
của cổ đông trong 3 ngành IT, FMCG, dịch vụ từ 2000- 2008 tại Ấn Độ. Ông
cũng nghiên cứu tác động của các yếu tố đến chính sách cổ tức trong 3 ngành
riêng biệt. Ngành FMCG có chính sách cổ tức ổn định, công ty có xu hướng
giữ lợi nhuận giữa lại phục vụ cho cơ hội đầu tư để không phải tìm kiếm nguồn
vốn từ bên ngoài. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên hệ cùng chiều giữa tỷ lệ
chi trả cổ tức và cổ phần nợ. Các công ty FMCG tại Ấn Độ sử dụng cổ tức như
chất xúc tác để làm dịu sự mâu thuẫn chi phí đại diện khi gia tăng cổ tức và
tăng tỷ lệ nợ. Ngành IT ổn định với tỷ lệ cổ tức cao. Vì tính thông tin rõ ràng
trong ngành nên cổ tức không được sử dụng để truyền tải thông tin. IT tại Ấn
Độ yêu thích lợi nhuận vốn cổ phần hơn là cổ tức. Nhân tố rủi ro hệ thống và
đòn bẩy tài chính không thể hiện là yếu tố bắt buộc tác động đến chi trả cổ tức
trong ngành này. Đối với ngành dịch vụ, đây là những công ty không ổn định
trong chi trả cổ tức. Có mối liên hệ ngược chiều giữa cơ hội phát triển và đầu
tư với tỷ lệ chi trả cổ tức. Tuy nhiên, nó lại có mối liên hệ ngược chiều giữa chi
trả cổ tức và quy mô công ty. Những công ty lớn dễ dàng tiếp cận nguồn vốn
bên ngoài bằng cách phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu, nhưng những
công ty này ưa thích giữ lại lợi nhuận để tránh các chi phí tài chính từ bên
ngoài. Trong khi những công ty nhỏ lại phân chia cổ tức cao để thu hút những
nhà đầu tư với cổ phiếu của họ. Ấn Độ là quốc gia được sự bảo vệ nhà đầu tư
16
mạnh mẽ, phân tán quyền sở hữu, do đó, mâu thuẫn của các đại diện không quá
gay gắt và cổ tức tiền mặt có thể không cần thiết để giảm mẫu thuẫn vấn đề đại
diện.
- Tại các vương quốc tiểu Ả Rập, Al-Kuwari (2009) đã nghiên cứu các tác động
đến chính sách cổ tức của công ty trên sàn chứng khoán GCC (Gulf
Cooperation Council). Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ năm 1999- 2003.Nghiên
cứu nhận thấy có 3 nhân tố tác động cùng chiều với chính sách cổ tức là sở hữu
nhà nước, quy mô công ty và lợi nhuận và tỷ lệ đòn bẩy có mối liên hệ ngược
chiều. Chi trả cổ tức làm giảm các vấn đề đại diện, duy trì danh tiếng, hình ảnh
của công ty bởi vì các cổ đông không được sử bảo vệ của pháp luật mạnh tại Ả
Rập. Các công ty GCC thay đổi cổ tức thường xuyên và không áp dụng chính
sách cổ tức mục tiêu trong dài hạn.
- Một nghiên cứu khác với giai đoạn từ 2005-2009 là Anupam Mehta (2012), bài
này cũng nghiên cứu các yếu tố có liên quan trong chính sách cổ tức trong các
ngành bất động sản, năng lượng, xây dựng, viễn thông, chăm sóc sức khoẻ và
ngành công nghiệp trên sàn chứng khoán Abu Dhabi. Sử dụng mô hình hồi quy
các nhân tố tác động đến cổ tức, bao gồm yếu tố lợi nhuận, rủi ro, thanh khoản,
quy mô công ty, đòn bẩy. Kết quả là lợi nhuận và quy mô công ty là được xem
là yếu tố quan trọng nhất trong chính sách cổ tức.
- Mahira Refique (2012) cũng đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến tỷ lệ chi
trả cổ tức. Nghiên cứu này được thực hiện với các công ty trên sàn chứng
khoán KSE100 tại Paksitan, gồm 53 công ty với 11 ngành trong 6 năm 2005 –
2010. Sử dụng mô hình hồi quy đa biến để đánh giá và ước lượng các biến gồm
doanh thu, quy mô công ty, tỷ lệ tăng trưởng, lợi nhuận, thuế thu nhập doanh
nghiệp và đòn bẩy tài chính. Nghiên cứu tìm thấy thuế doanh nghiệp và quy mô
công ty có mức ý nghĩa trong chi trả cổ tức, bốn biến còn lại không tìm thấy
mối liên hệ có ý nghĩa với tỷ lệ chi trả cổ tức.
- Ardestani, Abdul Rasid , Basiruddin và Mehri (2012) đã nghiên cứu 4 yếu tố
tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Mẫu nghiên cứu gồm 62
17
công ty trên sàn Bursa Malaysia. Hồi quy Tobin được sử dụng để đo lường cơ
hội đầu tư, đòn bẩy tài chính, thời gian đáo hạn nợ, rủi ro, lợi nhuận để đánh
giá tác động đến chính sách cổ tức từ giai đoạn 2006- 2008. Nghiên cứu thấy là
cơ hội đầu tư và thời gian đáo hạn là hai yếu tố tác động đến chi trả cổ tức,
thêm vào đó, lợi nhuận và rủi ro không đóng vai trò quyết định trong xây dựng
chính sách cổ tức của các công ty trong ngành sản phẩm công nghiệp ở
Malaysia
2.1.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Tại thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về tác động
của các yếu tố lên chính sách cổ tức. Trong năm 2012, có nghiên cứu thạc sĩ
của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú với đề tài “ Các nghiên cứu về chính sách cổ
tức của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007
đến 2012”, với dữ liệu là 263 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam,
gồm các biến về quy mô, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, rủi ro và đòn
bẩy công ty. Kết quả nghiên cứu là quy mô công ty và rủi ro là hay yếu tố quan
trọng nhất trong việc quyết định chính sách cổ tức của các công ty trên sàn
chứng khoán Việt Nam.
- Cũng trong cùng năm 2012, báo cáo của tác giả Phạm Tấn Hòa về các nhân tố
ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp Việt Nam, đại diện là
480 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán TPHCM và Hà Nội trong 4 năm 2008-
2011. Thu được từ nghiên cứu là quy mô công ty, khả năng sinh lợi, số tuổi của
doanh nghiệp và chỉ số P/E có tác động đến quyết định chính sách cổ tức.
- Đầu năm 2013, góp phần vào việc xem xét yếu tố tác động đến chính sách cổ
tức, báo cáo của tác giả Nguyễn Thanh Bình đối với “ Các yếu tố tác động đến
chính sách cổ tức của các công ty cổ phần tại Việt Nam” với 150 công ty trên
sàn chứng khoán Hồ Chí Minh và 30 công ty của sàn chứng khoán Hà Nội để
xác định mối quan hệ giữa tỉ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp với khả năng
sinh lợi của doanh nghiệp trên tổng tài sản ROA, tính thanh khoản, thuế, tăng
trưởng doanh nghiệp, giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, nợ trên vốn chủ sở