Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Nâng cao chất lượng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh tuyên quang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 127 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––





TRẦN QUANG KHỞI






NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TỈNH TUYÊN QUANG





LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ











THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––





TRẦN QUANG KHỞI






NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10




LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn An Hà





THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN






Tác giả




Trần Quang Khởi














Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu khoa
học của tôi. Các số liệu kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài là
trung thực và chƣa đƣợc công bố ở đề tài nghiên cứu nào


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi nhận đƣợc sự
giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo cũng nhƣ các khoa
chuyên môn, phòng, ban của Trƣờng Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại
học Thái Nguyên trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trƣờng.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn An Hà, đã tận tình
chỉ bảo, hƣớng dẫn khoa học nhiệt tình, chu đáo và trách nhiệm giúp tôi thực hiện
và hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban tổ chức Tỉnh uỷ, Sở
Nội vụ tỉnh Tuyên Quang, Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ
Tuyên Quang, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân 7 huyện, thành phố đã giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi suốt
quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này.

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 11 năm 2014
Tác giả



Trần Quang Khởi











Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
5. Kết cấu của luận văn 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN
BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 4
1.1. Cơ sở lý luận về cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý 4
1.1.1. Khái niệm cán bộ nữ LĐQL 4
1.1.2. Đặc điểm của cán bộ nữ LĐQL 7
1.1.3. Vai trò của cán bộ nữ LĐQL 8
1.1.4. Tiêu chí đánh giá chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL 10
1.1.5. Tiêu chí đánh giá chất lƣợng của cán bộ nữ LĐQL 10
1.1.6. Những yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL 17
1.2. Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
bộ nữ LĐQL 24
1.2.2. Bài học rút ra từ việc nghiên cứu của các tỉnh 27
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Các câu hỏi nghiên cứu 30
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 30

2.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập thông tin 30
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý thông tin 31
2.2.4. Phƣơng pháp phân tích thông tin 32
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ Ở TỈNH TUYÊN QUANG 35
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
ở tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.2. Tình hình cán bộ nữ và cán bộ nữ LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang 37
3.2. Đánh giá ƣu điểm, hạn chế về chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh
Tuyên Quang 76
3.2.1. Ƣu điểm về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL tỉnh Tuyên Quang 76
3.2.2. Hạn chế về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL tỉnh Tuyên Quang 77
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 79
3.3.1. Nguyên nhân khách quan 79
3.3.2. Nguyên nhân chủ quan 81
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH
ĐẠO, QUẢN LÝ Ở TỈNH TUYÊN QUANG 84
4.1. Yêu cầu của việc nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh
Tuyên Quang 84
4.1.1. Yêu cầu của sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc 84
4.1.2. Yêu cầu của việc phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 85
4.1.3. Yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay 86
4.1.4. Yêu cầu của quá trình của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đối với

việc nâng cao chất lƣợng cán bộ LĐQL, trong đó có cán bộ nữ 87
4.2. Quan điểm nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên
Quang hiện nay 88
4.2.1. Cần phải coi công tác cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công
tác cán bộ của Đảng 88

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
4.2.2. Nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL phải góp phần tạo động lực thúc
đẩy bình đẳng giới trong đời sống xã hội, thu hút ngày càng đông phụ nữ tham
gia tích cực vào đời sống chính trị 89
4.2.3. Nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL phải phù hợp với tính chất, đặc
điểm và trình độ phát triển của đất nƣớc, của địa phƣơng 90
4.2.4. Nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL là nhiệm vụ thƣờng xuyên của
mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị, đòi hỏi đƣợc tiến hành đồng bộ với các
mục tiêu, chính sách, giải pháp cụ thể 91
4.3. Mục tiêu cụ thể về nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ 93
4.4. Giải pháp nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên
Quang hiện nay 94
4.4.1. Tiếp tục nâng cao nhận thức, đổi mới quan điểm về bình đẳng giới và
công tác cán bộ nữ 94
4.3.2. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ nữ 95
4.4.3. Tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng về
công tác cán bộ nữ 95
4.4.4. Xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ,
tạo điều kiện cho cán bộ nữ thực hiện tốt chức năng trong gia đình và tham gia
các hoạt động xã hội 102
4.4.5. Thực hiện kiểm tra, giám sát công tác cán bộ nữ 104
4.4.6. Phát huy vai trò của các cơ quan tham mƣu và cải tiến nội dung, phƣơng

thức hoạt động của Hội LHPN và Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ 105
4.4.7. Bản thân cán bộ nữ không ngừng vƣơn lên về mọi mặt 106
4.5. Một số kiến nghị 107
4.5.1. Với Trung ƣơng 107
4.5.2. Với tỉnh 107
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH
Ban Chấp hành
BTV
Ban Thƣờng vụ
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐTBD
Đào tạo, bồi dƣỡng
HĐND
Hội đồng nhân dân
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
LĐQL

Lãnh đạo, quản lý
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
UBND
Uỷ ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa


















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG


Bảng 3.1: Cán bộ, công chức, viên chức nữ tỉnh Tuyên Quang năm 2005 - 2013 38
Bảng 3.2: Số lƣợng cán bộ nữ LĐQL của Tuyên Quang 39
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của cán bộ nữ LĐQL 43
Bảng 3.4: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ nữ LĐQL 44
Bảng 3.5: Trình quản lý nhà nƣớc của cán bộ nữ LĐQL 45
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về đánh giá năng lực cán bộ nữ lãnh đạo quản lý 48
Bảng 3.7: Kết quả điều tra năng lực tham gia quyết định công việc trong cơ quan 49
Bảng 3.8 : Kết quả đánh giá phân loại cán bộ cấp tỉnh, huyện hằng năm 50
Bảng 3.9: Tỷ lệ cán bộ nữ quy hoạch vào chức danh trƣởng, phó phòng, ban,
đơn vị trực thuộc sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh 52
Bảng 3.10: Quy hoạch nữ vào chức danh lãnh đạo sở, ngành, cơ quan cấp tỉnh 53
Bảng 3.11: Tỷ lệ cán bộ nữ quy hoạch BCH, BTV các huyện, thành ủy 53
Bảng 3.12: Quy hoạch cán bộ nữ các chức danh chủ chốt của các huyện, thành phố 54
Bảng 3.13: Quy hoạch cán bộ nữ vào BCH Đảng bộ tỉnh và BTV Tỉnh ủy 55
Bảng 3.14: Quy hoạch cán bộ nữ vào các chức danh chủ chốt của tỉnh 56
Bảng 3.15: Kết quả tuyển dụng cán bộ nữ cấp tỉnh, cấp huyện 59
Bảng 3.16: Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức từ năm 2005-2013 60
Bảng 3.17: Tỷ lệ cán bộ nữ giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm ở các cơ quan cấp
tỉnh, huyện 63
Bảng 3.18: Tỷ lệ giới tham gia LĐQL năm 2013 66
Bảng 3.19: Nữ cán bộ LĐQL tham gia cấp ủy Đảng các cấp 67
Bảng 3.20: Cán bộ nữ là LĐQL các ban Đảng tỉnh Tuyên Quang 68
Bảng 3.21: Cán bộ nữ tham gia LĐQL cấp tỉnh, cấp huyện 68
Bảng 3.22: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội 69
Bảng 3.23: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu và giữ chức danh chủ chốt của HĐND 69
Bảng 3.24: Tỷ lệ nữ LĐQL các ngành kinh tế cấp tỉnh, cấp huyện 69
Bảng 3.25: Cán bộ nữ cấp tỉnh đƣợc khen thƣởng từ năm 2005 - 2013 74


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


viii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Thực trạng về phẩm chất chính trị của cán bộ nữ LĐQL 41
Hình 3.2: Độ tuổi cán bộ nữ quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cơ quan cấp tỉnh 56
Hình 3.3: Độ tuổi cán bộ nữ quy hoạch cấp ủy cấp huyện và tỉnh 57
Hình 3.4: Tỷ lệ cán bộ nữ đƣợc luân chuyển giai đoạn 2005-2013 64










Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ là một nửa của một thể thống nhất không thể tách rời của xã hội. Khó
có thể đƣa một đất nƣớc nào đó thoát khỏi lạc hậu trở nên thịnh vƣợng mà ở đó lại
xem nhẹ phụ nữ. Cho đến nay, vai trò của ngƣời phụ nữ ngày càng đƣợc đánh giá
một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là thời kỳ CNH-HĐH, phát triển kinh tế thị trƣờng,
hội nhập nền kinh tế trí thức và hội nhập kinh tế quốc tế. Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang
chiếm 49,92% dân số toàn tỉnh, luôn là nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong mọi thời kỳ. Xác định đƣợc

vai trò của phụ nữ Tuyên Quang trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc, do vậy
công tác cán bộ nữ luôn đƣợc các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Các cấp uỷ Đảng đã nhận thức đƣợc vị trí, vai
trò của phụ nữ, cán bộ nữ và xác định công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị nên đã cụ thể hóa và quán triệt chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các chủ
trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về công tác cán bộ nữ.
Bố trí sử dụng cán bộ nữ LĐQL nữ tƣơng đối phù hợp với điệu kiện phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Các nhiệm vụ, mục tiêu tiếp tục cải cách kinh tế, đổi
mới hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị đang đòi hỏi phải xây dựng, đào tạo và rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đủ
phẩm chất chính trị, có năng lực chuyên môn, có tài, có đức, đáp ứng thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, trong đó có cán bộ nữ mà đặc biệt là
cán bộ nữ LĐQL trong các tổ chức của hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, số lƣợng cán bộ nữ giữ các vị trí LĐQL ở Tuyên Quang vẫn chƣa
tƣơng xứng với tiềm năng và đóng góp của họ. Nhiệm kỳ 2010-2015, tỷ lệ nữ giữ chức
vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện và các sở, ban, ngành còn thấp; nhiều lĩnh
vực số lƣợng cán bộ nữ hạn chế và có những ngành có đông cán bộ nữ lại không có
LĐQL là nữ Bên cạnh việc tham gia LĐQL với một tỷ lệ còn hạn chế thì chất lƣợng
của đội ngũ cán bộ nữ ở tỉnh Tuyên Quang cũng còn bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu
của nhiệm vụ đặt ra. Trình độ học vấn, năng lực LĐQL, phẩm chất đạo đức, lối sống,
khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân giao phó của một bộ
phận cán bộ nữ tham gia LĐQL còn hạn chế.
Là một cán bộ công tác trong cơ quan tham mƣu của Tỉnh ủy Tuyên Quang về
công tác tổ chức cán bộ, nhận thấy việc nghiên cứu, đƣa ra giải pháp để tiếp tục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ nữ là một việc làm có ý nghĩa, góp phần nâng
cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của CNH-HĐH

trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao
chất lượng cán bộ nữ LĐQL tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, chất lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL của tỉnh Tuyên
Quang, những vấn đề tồn tại, hạn chế cần khắc phục, trên cơ sở đó đề xuất phƣơng
hƣớng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ nữ
LĐQL của tỉnh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lý luận về chất lƣợng cán bộ nữ
LĐQL ở cấp tỉnh, cấp huyện nhƣ: khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ nữ LĐQL;
khái niệm, tiêu chí đánh giá chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL; những yếu tố ảnh hƣởng
và những điều kiện đảm bảo nâng cao chất lƣợng của cán bộ nữ LĐQL.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phƣơng về nâng cao chất lƣợng đội
ngũ cán bộ nữ LĐQL, rút ra bài học có thể vận dụng cho tỉnh Tuyên Quang.
- Bằng các phƣơng pháp cụ thể phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ rõ những ƣu
điểm, hạn chế của chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang, đồng thời chỉ ra
đƣợc những nguyên nhân của hạn chế và các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng đội ngũ
cán bộ nữ LĐQL của tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ
LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay và trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL của tỉnh trên các mặt: phẩm
chất chính trị, đạo đức lối sống; trình độ chuyên môn, lý luận, chính trị, năng lực LĐQL;
công tác đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng, điều động luân chuyển, bố
trí sử dụng, bổ nhiệm, chính sách đãi ngộ đó là những nhân tố quan trọng tác động đến
việc nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL của tỉnh Tuyên Quang hiện nay.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xem xét, nghiên cứu thực trạng chất lƣợng cán bộ, công chức nữ
lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh ở Tuyên Quang.
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2005 đến nay và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
Địa điểm nghiên cứu ở 7 huyện, thành phố và một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần hệ thống rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về
chất lƣợng của nữ cán bộ LĐQL và vai trò của phụ nữ trong LĐQL nói chung và ở tỉnh
Tuyên Quang nói riêng.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn chỉ ra những ƣu điểm, hạn chế về chất
lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời, đề xuất hệ thống các
giải pháp đồng bộ bảo đảm phát huy vai trò của phụ nữ trong LĐQL, đáp ứng yêu cầu
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nƣớc.
Về mặt thực tiễn:
- Luận văn ở mức độ nhất định góp phần làm rõ tính đặc thù của công tác cán
bộ nữ, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện của các cơ quan
Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức đoàn thể trong việc tuyển chọn, đánh giá, quy hoạch,
đào tạo, bồi dƣỡng và quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ LĐQL.
- Các giải pháp nêu trong luận văn có thể áp dụng để đổi mới và nâng cao
chất lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL ở Tuyên Quang.
- Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng quy
hoạch cán bộ, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, từ đó góp phần xây dựng đội ngũ
cán bộ công chức trong sạch, có năng lực, đáp ứng yêu cầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 4 chƣơng, gồm:
Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL.

Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL tại Tuyên Quang.
Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL tại Tuyên Quang.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1. Cơ sở lý luận về cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
1.1.1. Khái niệm cán bộ nữ LĐQL
1.1.1.1. Khái niệm cán bộ
Ở Việt Nam, thuật ngữ cán bộ đƣợc sử dụng phổ biến từ sau cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau, có nhiều từ điển có khái niệm cán bộ và đƣợc hiểu với nhiều nghĩa khác
nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Trong Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, nhà xuất bản Văn
hóa thông tin, Hà Nội, 1998, cán bộ là một danh từ đƣợc hiểu là:
- Cán bộ là ngƣời làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc: cán bộ nhà nƣớc, cán
bộ khoa học, cán bộ chính trị
- Cán bộ là ngƣời giữ chức vụ, phân biệt với ngƣời bình thƣờng, không giữ
chức vụ: cán bộ lãnh đạo, chuyên viên, cán sự.
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn là cán bộ và công chức nữ LĐQL theo
quy định của Luật Cán bộ, Công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày
25/01/2010 của Chính phủ, do đó trong phần này tác giả luận văn đề cập đến hai
khái niệm "cán bộ" và "công chức".

Khoản 1 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Khoản 2 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính
trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan
chuyên nghiệp và trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công
chức trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ
quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Khái niệm cán bộ nữ
Từ khái niệm cán bộ, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn tham gia
hoạt động của phụ nữ vào các cơ quan công quyền, có thể đƣa ra một định nghĩa khái
quát về cán bộ nữ nhƣ sau: cán bộ nữ là một bộ phận trong tổng thể đội ngũ cán bộ của
Đảng, là một bộ phận tiên tiến của phong trào phụ nữ Việt Nam, đƣợc bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức

chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân
đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ
quan chuyên nghiệp và trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.1.3. Khái niệm cán bộ LĐQL
Lãnh đạo và quản lý đều bao hàm việc tác động và điều khiển (ngƣời lãnh đạo
và ngƣời bị lãnh đạo, chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý). Về mục đích, lãnh đạo
và quản lý đều có chung một mục đích cuối cùng - đó là đạt mục tiêu dài hạn hay
ngắn hạn của một đơn vị, một địa phƣơng hay một đất nƣớc. Lãnh đạo, hiểu theo
nghĩa rộng, gồm cả quản lý; quản lý, hiểu theo nghĩa rộng, gồm cả lãnh đạo.
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay khái niệm cán bộ lãnh đạo thƣờng gắn với
khái niệm cán bộ quản lý, đƣợc hiểu là những ngƣời có chức vụ và trách nhiệm điều
hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, đơn vị kinh doanh. Nội
hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều
khiển hoạt động của một tổ chức, ngƣời cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức
năng quản lý và ngƣời cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo.
Từ những phân tích nêu trên có thể đƣa ra khái niệm cán bộ LĐQL: Cán bộ lãnh đạo
và quản lý là những ngƣời có chức vụ, có vai trò và cƣơng vị nòng cốt trong một cơ quan,
một tổ chức, một đơn vị sự nghiệp công lập, có ảnh hƣởng tác động đến hoạt động của tổ
chức, cơ quan, đơn vị và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần
định hƣớng phát triển của tổ chức, cơ quan, đơn vị theo các mục tiêu đã đề ra.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
1.1.1.4. Khái niệm cán bộ nữ LĐQL
Qua nội dung phân tích về những khái niệm cán bộ, cán bộ nữ và cán bộ
LĐQL, có thể đƣa ra định nghĩa khái quát về cán bộ nữ LĐQL: Cán bộ nữ LĐQL là
một bộ phận trong tổng thể đội ngũ cán bộ của Đảng, là một bộ phận tiên tiến của
phong trào phụ nữ Việt Nam, có chuyên môn, nghiệp vụ, có chức vụ, có vai trò và

cƣơng vị nòng cốt trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân
đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ
sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.1.5. Cán bộ LĐQL theo phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh Tuyên Quang
Theo Quy định số 07-QĐ/TU ngày 12/02/2008 của BTV Tỉnh uỷ Tuyên Quang về
phân cấp quản lý cán bộ thì đối tƣợng cán bộ LĐQL gồm 4 nhóm đối tƣợng sau:
* Đối tượng 1 là cán bộ LĐQL diện BTV Tỉnh uỷ quản lý toàn diện bao gồm:
- Uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh (bao gồm cả Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ)
- Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Trƣởng, phó các ban
Đảng, Chánh, phó Văn phòng Tỉnh uỷ.
- Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng Trƣờng Chính trị tỉnh, Tổng biên tập, phó tổng
biên tập Báo Tuyên Quang.
- Bí thƣ, Uỷ viên Đảng đoàn HĐND tỉnh; Phó chủ tịch, Uỷ viên thƣờng trực
HĐND tỉnh; Trƣởng ban, Phó trƣởng ban HĐND tỉnh, Chánh văn phòng, Phó
chánh văn phòng Đoàn Đại biểu quốc hội và HĐND tỉnh.
- Bí thƣ ban cán sự đảng; giám đốc, phó giám đốc sở, trƣởng phó, ban ngành
cấp tỉnh và tƣơng đƣơng.
- Bí thƣ đảng đoàn; chủ tịch, phó chủ tịch: UBMTTQ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh,
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh; Bí
thƣ, phó bí thƣ Tỉnh đoàn.
- Bí thƣ, phó bí thƣ, uỷ viên BTV huyện, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ;
chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên thƣờng trực HĐND huyện, thành phố; chủ tịch, phó
chủ tịch UBND huyện, thành phố.
- Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng các trƣờng chuyên nghiệp và dạy nghề của tỉnh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7

* Đối tượng 2 là cán bộ LĐQL do cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp: Trƣởng,
phó phòng, ban các đơn vị trực thuộc và tƣơng đƣơng thuộc các cơ quan, đơn vị cấp
tỉnh và các huyện, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ.
* Đối tượng 3 là cán bộ chủ chốt cấp xã do huyện uỷ, thành uỷ quản lý trực tiếp:
Bí thƣ, Phó Bí thƣ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND các xã, phƣờng, thị trấn
* Đối tượng 4 là cán bộ LĐQL BTV Tỉnh uỷ phối hợp với các ngành dọc cấp
trên quản lý:
- Giám đốc, phó giám đốc, trƣởng, phó các cơ quan, đơn vị: Công an tỉnh,
Quân sự tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh.
- Trƣởng các cơ quan, đơn vị: Cục Thuế tỉnh, Cục Thống kê tỉnh, Bảo hiểm xã
hội tỉnh, Viễn thông tỉnh, Bƣu điện tỉnh, Điện lực tỉnh, Kho bạc Nhà nƣớc tỉnh,
Ngân hàng Nhà nƣớc Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang, Ngân hàng Nông nghiệp và
PTNT Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang, Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh
Tuyên Quang, Ngân hàng Cổ phần Thƣơng mại đầu tƣ và phát triển, Ngân hàng
phát triển tỉnh.
(Do có quy định riêng của ngành công an và quân sự nên luận văn không đề
cập nghiên cứu đối tƣợng 4 nêu trên).
Nhƣ vậy, cán bộ nữ LĐQL của tỉnh Tuyên Quang đƣợc hiểu là cán bộ, công chức
nữ đƣợc bầu cử và bổ nhiệm vào các chức danh thuộc 4 nhóm đối tƣợng nêu trên.
1.1.2. Đặc điểm của cán bộ nữ LĐQL
So với các đồng nghiệp nam, cán bộ nữ LĐQL có một số điểm đặc thù sau:
- Phụ nữ LĐQL có kỹ năng giao tiếp tốt, quyết định trực giác, làm việc nhiệt
tình, tạo ra môi trƣờng làm việc tốt và quan tâm tới nhân viên.
- Phụ nữ làm LĐQL có rất nhiều lợi thế, nhất là đối với phụ nữ trí thức bởi họ
có tƣ duy mạch lạc, chặt chẽ nên khi quyết định thƣờng dựa trên những căn cứ, cơ
sở rõ ràng.
- Xét về đặc điểm tâm lý, khí chất, phụ nữ cũng không có sự cực đoan và những
phản ứng dữ dội đến mức không kiềm chế và không kiểm soát đƣợc ý thức hành vi nên
nữ tính là một thuận lợi cho sự hình thành và biểu lộ văn hóa chính trị của phụ nữ, của
các nhà quản lý, lãnh đạo trong giới nữ bởi nói tới hoạt động chính trƣờng là nói tới

quyền lực, địa vị.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
- Giới nữ có tính kiên trì, thuyết phục, thận trọng, tiết kiệm và có tinh thần
trách nhiệm cao, ít sai phạm nên "Phụ nữ là nhân tố làm lành mạnh hóa chính trị và
xã hội". Tính đoàn kết tăng lên, dân chủ hóa tăng lên, chống tham nhũng có hiệu
quả hơn. Phụ nữ quản lý tài chính rất công minh chính trực. Hiệu quả giải quyết các
xung đột xã hội cũng tốt hơn
- Phụ nữ nếu làm cùng một công việc, đặt đúng vị trí, thì phụ nữ phát huy có
khi còn tốt hơn nam giới, do phụ nữ có tính thuyết phục cao hơn, chu đáo hơn. Ở vị
trí lãnh đạo, việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nữ có ƣu trội hơn, nhƣng ở vị trí chỉ huy
nhƣ ra trận, cần sự xông xáo, quyết đoán thì nam ƣu trội hơn.
- Thế mạnh của cán bộ nữ LĐQL là tính kiên trì, thuyết phục, vận động quần
chúng hiệu quả. Triển khai kế hoạch cụ thể, chi tiết và chu đáo.
Tham gia LĐQL vừa là dịp thử thách năng lực, phẩm chất của ngƣời phụ nữ, vừa
là cơ hội tốt cho sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Nhờ đó, từng bƣớc tiến của phụ nữ
trong hoạt động chính trị sẽ là từng bƣớc thúc đẩy quá trình giải phóng phụ nữ, thực hiện
bình đẳng nam - nữ. Đó là mặt tích cực, mặt thuận của đối tƣợng đƣợc xem xét. Trong
việc tham gia LĐQL, phụ nữ do nhiều lý do, nguyên nhân cũng có những mặt hạn chế,
những khó khăn, những yếu tố nghịch. Điều đó biểu hiện ở một số điểm sau:
- Phụ nữ có những hạn chế về thể lực và do đó là hạn chế về sức chịu đựng
những căng thẳng của hoạt động chính trị (hoạt động LĐQL).
- Tính quyết đoán mạnh mẽ trong những trƣờng hợp cần thiết thì khả năng đáp
ứng của nữ LĐQL nhiều khi không theo kịp.
- Dù ở đỉnh cao quyền lực hay giữ những cƣơng vị, trọng trách lớn, phụ nữ cũng
không thể sao nhãng thiên chức làm vợ, làm mẹ cũng nhƣ chăm lo đời sống gia đình -
đây là nét đặc trƣng của ngƣời phụ nữ Á Đông nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng.
- Khác với nam giới, những đặc trƣng nữ tính cẩn trọng, chu đáo, kiên trì chịu

đựng, có tính thuyết phục cao rất dễ thu phục đƣợc quần chúng, song nữ giới có
một số hạn chế nhƣ thiếu tầm nhìn chiến lƣợc cơ bản, lâu dài.
1.1.3. Vai trò của cán bộ nữ LĐQL
Nhận thức vị trí, vai trò quan trọng của phụ nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ LĐQL là nhiệm vụ
có tính chiến lƣợc trong công tác cán bộ.
Gần đây nhất Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa XI) đã có Kết luận số 55-
KL/TW ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
của Bộ Chính trị khóa X "Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước", theo đó Ban Bí thƣ đã nhận định:
Trình độ, năng lực, vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng
đƣợc nâng lên. Đội ngũ cán bộ nữ có sự chuyển biến về chất lƣợng và số lƣợng; có đủ
phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và tinh thần trách nhiệm, luôn vƣợt qua khó khăn,
phấn đấu hoàn thành tốt công việc đƣợc giao.
Thống nhất chung với quan điểm "sự tham gia của phụ nữ trong bộ máy
LĐQL được coi là thước đo cơ bản về vai trò của phụ nữ trong nền chính trị hiện
đại" của nhiều nƣớc trên thế giới, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều nhiều
chủ trƣơng, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài
năng và tham gia giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc, chính
quyền địa phƣơng.v.v Thông qua đó, vị thế, vai trò tham chính của cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị không ngừng đƣợc cải thiện và nâng cao.
1.1.4. Các công ước của Liên Hợp quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế
Để bảo vệ các quyền của phụ nữ – trẻ em nói chung và của nữ LĐQL nói
riêng, Liên hợp quốc đã thông qua rất nhiều công ƣớc liên quan đến vấn đề này.
Thứ nhất là Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ (thông qua năm 1952).

Công ƣớc này qui định, phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử,
ứng cử, quyền đƣợc nhận vào làm việc và giữ các chức vụ trong các cơ quan nhà nƣớc.
Thứ hai là Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự
nguyện (thông qua năm 1962). Công ƣớc này khẳng định phụ nữ có quyền tự do lựa chọn
ngƣời phối ngẫu, phụ nữ đƣợc bảo vệ chống lại các tệ nạn tảo hôn và cƣỡng ép kết hôn…
Thứ ba là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) (thông qua năm 1979, có hiệu lực năm 1981). Công ƣớc quy định về quyền
con ngƣời và những tự do cơ bản khác, theo đó, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành các
biện pháp gồm cả pháp luật trong những lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá để
đảm bảo sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ, để họ có thể đƣợc đảm bảo việc thực hiện
và hƣởng thụ những quyền cơ quản và những tự do khác trên cơ sở bình đẳng với nam
giới. Điều 10(a) của công ƣớc đặc biệt kêu gọi các quốc gia thành viên phải đảm bảo sự
tham gia bình đẳng của nam giới và phụ nữ trong mọi lĩnh vực đào tạo ở các cấp.
Bên cạnh các công ƣớc của Liên Hợp quốc, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã
ban hành một số công ƣớc nhằm bảo vệ sự bình đẳng trong trả công, bảo hộ việc làm
và hỗ trợ các lao động đặc thù nhƣ Công ƣớc về phân biệt đối xử trong việc làm và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
nghề nghiệp (1958), Công ƣớc về bình đẳng trong trả công lao động (1951), Công ƣớc
về chính sách việc làm (1964), Công ƣớc về bình đẳng cơ hội (về việc làm) và đối xử
với lao động nam và nữ, những ngƣời lao động có gánh nặng gia đình (1973) v.v…
1.1.5. Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ nữ LĐQL
1.1.5.1. Khái niệm chất lượng cán bộ nữ LĐQL
- Chất lƣợng của từng cán bộ, cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ
năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lƣợng của từng cán bộ là yếu tố cơ
bản tạo nên chất lƣợng của cả đội ngũ.
- Chất lƣợng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ
đƣợc tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lƣợng và độ tuổi bình quân đƣợc

phân bố trên các cơ sở địa phƣơng, đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Chất lượng cán bộ nữ LĐQL là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết
cấu như một chỉnh thể toàn diện, thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo
đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ nữ lãnh đạo
quản lý và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán bộ nữ LĐQL.
1.1.5.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng của cán bộ nữ LĐQL
1.1.5.2.1. Những tiêu chí chung
a) Phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định năng lực quản lý nhà
nƣớc của cán bộ nói chung và cán bộ LĐQL nói riêng. Phẩm chất chính trị là động lực
tinh thần thúc đẩy cán bộ vƣơn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đƣợc giao hay nói
cách khác là hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Phẩm chất chính trị cũng
chính là yếu tố cơ bản nhất đối với ngƣời cán bộ.
Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối
với lý tƣởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, tinh thần
tận tụy với công việc, hết lòng vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững
vàng, kiên định với mục tiêu và con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ngƣời cán bộ có phẩm chất chính trị tốt là ngƣời tích cực tuyên truyền, vận
động gia đình, cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị thực hiện tốt chủ trƣơng,
đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; là ngƣời luôn trăn trở băn
khoăn và tìm cách để hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Ngƣời có phẩm
chất chính trị tốt là ngƣời một lòng phục vụ Nhà nƣớc, phục vụ nhân dân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
Phẩm chất chính trị - đây là tiêu chuẩn đầu tiên đối với mỗi ngƣời cán bộ. Để
trở thành ngƣời cán bộ LĐQL, những ngƣời cán bộ có năng lực trƣớc hết phải là
ngƣời có phẩm chất chính trị.
b) Phẩm chất đạo đức

Làm cách mạng với khát vọng giải phóng dân tộc, điều mà Hồ Chí Minh quan
tâm trƣớc hết ở ngƣời cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức. Ngƣời cho rằng, đạo đức
chính là cái gốc quan trọng hàng đầu của ngƣời cách mạng, đối với ngƣời cán bộ, nếu
thiếu hoặc yếu về đạo đức cách mạng thì không thể làm tốt những công việc đƣợc
giao. Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi ngƣời và đặc biệt cần thiết cho ngƣời
cán bộ. "Ngƣời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành
đƣợc nhiệm vụ cách mạng vẻ vang". Ngƣời đòi hỏi ngƣời cán bộ phải giữ đƣợc đạo
đức cách mạng, đó mới là ngƣời cán bộ chân chính. Chỉ khi có đầy đủ đạo đức cách
mạng thì cán bộ mới có đủ điều kiện làm cách mạng.
Đạo đức của ngƣời cán bộ, nhất là cán bộ LĐQL mà trong đó cán bộ nữ
LĐQL là một bộ phận có tác động rất lớn đối với nhân dân, có ảnh hƣởng rất lớn
đối với hiệu quả lãnh đạo và quản lý của ngƣời cán bộ. Nếu ngƣời cán bộ có đầy đủ
các phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ thì nhân dân sẽ tin tƣởng họ,
tin tƣởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, từ đó nhân dân tự giác thực hiện chủ
trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Ngƣợc lại nếu
ngƣời cán bộ không đủ các phẩm chất trên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân,
ảnh hƣởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, họ trở thành sâu mọt hại
dân, hại chính quyền.
Ngƣời cán bộ LĐQL chỉ tuyên truyền, phổ biến chủ trƣơng, đƣờng lối, chính
sách thôi chƣa đủ mà họ phải là ngƣời tiền phong gƣơng mẫu trong việc chấp hành
chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách đó, nói đi đôi với làm, họ phải là tấm gƣơng sáng
để nhân dân noi theo, nhƣ Bác Hồ đã dạy: Một tấm gƣơng sáng còn giá trị hơn một
triệu bài diễn văn tuyên truyền.
Ngƣời cán bộ có đạo đức cách mạng là ngƣời phải tích cực đấu tranh chống lại
các tiêu cực của xã hội nhƣ: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, sa sút về đạo
đức lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội
bộ, dối trá, lƣời biếng, suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, phai nhạt lý tƣởng cách mạng
Ngƣời cán bộ có tinh thần đạo đức cách mạng là ngƣời cán bộ hội tụ đủ 5 đức tính,
đó là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Những đức tính tốt đẹp đó phải thể hiện ra bên ngoài


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
công việc hàng ngày của ngƣời cán bộ. Theo đó, cần phải luôn luôn gƣơng mẫu, có lối
sống lành mạnh, thực hiện cần kiệm, liêm chính, chí công vô tƣ; không tham nhũng, vụ lợi
cá nhân, sinh hoạt bê tha; có tinh thần đấu tranh chống tham nhũng, quan hệ mật thiết với
quần chúng nhân dân, sâu sát với công việc; không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho
dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, không chạy theo vụ lợi, nói đi đôi với làm, làm
nhiều hơn nói - đó là những tiêu chí đánh giá đạo đức của ngƣời cán bộ.
Trong thời đại ngày nay, đặc biệt là trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất
cầm quyền, người cán bộ còn cần phải có tính dân chủ. Đảng ta không có mục đích
nào khác là đấu tranh giành quyền độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân, mang lại lợi
ích cho nhân dân; Nhà nƣớc ta là nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân, vì vậy ngƣời cán
bộ phải là công bộc của dân, nói theo quan niệm ngày xƣa là ngƣời phục vụ công
cộng của Nhà nƣớc, của xã hội. Họ không đƣợc phép chuyên quyền, độc đoán, dù ở
bất cứ cƣơng vị nào, công tác nào. Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nƣớc ta
trong quá trình chỉ đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn lấy dân là ngƣời chủ sự
nghiệp, coi nhân tố con ngƣời là quyết định, đề cao sức mạnh nội sinh của dân tộc, thì
ngƣời cán bộ phục vụ cho sự nghiệp to lớn này không thế thiếu tính dân chủ.
Tính dân chủ ở ngƣời cán bộ đƣợc hiểu là lấy lợi ích của dân, của nƣớc làm
mục tiêu; biết phát huy trí tuệ, tài năng và mọi nguồn của cải của dân để tạo nên sức
mạnh; biết tôn trọng lợi ích và quyền lực của dân; biết làm chủ bản thân, điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội.
Bên cạnh đó, ngƣời cán bộ phải luôn có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tập
thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu gƣơng
cho quần chúng. Nhƣ vậy mới tạo đƣợc lòng tin từ phía nhân dân, thuyết phục đƣợc
nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành với sự nghiệp cách mạng.
c) Khả năng, năng lực hoàn thành nhiệm vụ
Khả năng, năng lực hoàn thành nhiệm vụ là năng lực "tiềm ẩn" của ngƣời cán
bộ, nó quyết định sức mạnh để có thể hoàn thành công việc với mục đích cuối cùng

là hiệu quả.
Năng lực đầu tiên mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở ngƣời cán bộ cách mạng là năng
lực LĐQL, là khả năng tổ chức động viên quần chúng thực hiện tốt chủ trƣơng,
đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Vì cán bộ là cầu nối, là
ngƣời đem chính sách của Đảng, của Chính phủ đến với nhân dân, nên đòi hỏi cán bộ
phải có năng lực này, nếu không thì không xứng đáng là cán bộ cách mạng. Và để
tuyên truyền thực hiện tốt đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
luật của Nhà nƣớc trong quần chúng, đòi hỏi cán bộ phải có năng lực thực hành dân
chủ, nghĩa là phải có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tin ở quần chúng và học
hỏi chính quần chúng, "Không học hỏi dân thì không lãnh đạo đƣợc đƣợc dân và cần
phải có sự giúp đỡ của dân, vì "dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm đƣợc. Dân
chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên".
Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của ngƣời cán bộ thể hiện ở những
điểm: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng và tổ chức kiểm
soát cho đúng. Để quyết định vấn đề một cách cho đúng cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm
đƣợc thông tin và xử lý thông tin, đƣa ra phƣơng án để lựa chọn, quyết định.
Có thể nói năng lực là yếu tố rất quan trọng, nó quyết định hiệu quả công việc của
ngƣời cán bộ. Thực tế năng lực của chủ thể (cán bộ) bao gồm nhiều yêu tố nhƣng trong
đó có hai yếu tố quan trọng cơ bản tạo thành hai điều kiện cần và đủ cho chủ thể, đó là
năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực chủ thể chỉ xuất hiện và tồn tại ở con
ngƣời, phát triển dần theo lứa tuổi, đồng thời nó phụ thuộc vào sức khỏe, kỹ năng điều
khiển hành vi, trình độ văn hóa, nhận thức và trình độ giao tiếp của mỗi ngƣời.
Năng lực thƣờng có quan hệ mật thiết với quyền lực, hiệu lực và hiệu quả.
Quyền lực chỉ là tiền đề cho năng lực, năng lực là thƣớc đo hoặc là chuẩn mực biểu
thị quyền lực của bộ máy nhà nƣớc trong thực tiễn đời sống xã hội. Nếu một cá
nhân hay một tổ chức nào đó có một khối quyền hạn to lớn do cơ quan nhà nƣớc có

thẩm quyền trao cho nhƣng bản thân họ không có năng lực hoặc năng lực yếu kém
thì họ không thể biến khối thẩm quyền đó thành hiện thực nghĩa là không thể thực
hiện đƣợc quyền lực của mình.
Nhƣng đồng thời lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học đi đôi với hành, nếu
không thì đó cũng chỉ là lý luận suông mà thôi. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "Năng
lực của con ngƣời không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác,
do luyện tập mà có".
Năng lực, theo Ngƣời nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động
thực tiễn của con ngƣời; năng lực đƣợc phát triển trong quá trình hoạt động thực
tiễn. Ngƣời lƣời biếng, trốn tránh lao động thì năng lực không thể phát triển đƣợc.
Nhƣ vậy, để đánh giá năng lực LĐQL của cán bộ phải đánh giá thông qua nhiều
yếu tố, nhƣng cơ bản có thể khái quát lại những yếu tố sau:
Trình độ học vấn (trình độ văn hóa) không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu
quả hoạt động của cán bộ nhƣng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hƣởng đến hoạt động quản
lý của đội ngũ này; nó là nền tảng và tiền đề cho việc nhận thức, tiếp thu và tổ chức thực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Hạn chế về
trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các văn
bản của Nhà nƣớc, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của ngƣời cán bộ. Do đó,
trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản lý nhà nƣớc của cán bộ.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ đƣợc hiểu là những kiến thức chuyên sâu về
một lĩnh vực nhất định phù hợp với từng tiêu chuẩn, chức danh mà cán bộ hiện đang
đảm nhận. Đây là những kiến thức mà cán bộ không thể thiếu khi giải quyết công
việc của mình. Nếu thiếu kiến thức này thì cán bộ sẽ lúng túng trong giải quyết công
việc và chắc chắn sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ, hiệu quả quản lý nhà nƣớc thấp.
Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trƣờng quan
điểm của cán bộ. Có trình độ lý luận chính trị giúp cán bộ xây dựng đƣợc lập trƣờng,

quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của tổ chức và nhân dân
theo chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Đặc biệt
trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng đang hình thành ở nƣớc ta với sự tác động
không nhỏ của nó (cả tích cực và tiêu cực) tới cuộc sống của mỗi ngƣời trong đó cả
đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc, thì việc giữ vững tác phong lối sống của
ngƣời cán bộ là vấn đề rất quan trọng. Thực tế đã không ít cán bộ bị sa ngã trƣớc
những cám dỗ vật chất, lối sống thực dụng, vị kỷ làm giảm uy tín của ngƣời cán bộ
"là công bộc của dân", làm mất lòng tin của nhân dân. Vì vậy để nâng cao năng lực
của cán bộ cần thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị.
Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính nhà nƣớc là sự tác
động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội. Đó là những thủ pháp mà nhà quản
lý sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc
cụ thể đặt ra. Hoạt động quản lý vừa đƣợc coi là một khoa học, vừa là nghệ thuật.
Để thực hiện đƣợc hoạt động này, đòi hỏi cán bộ cần phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng
những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nƣớc thì mới có đƣợc kỹ năng, phƣơng pháp
quản lý. Thực tế cho thấy có những cán bộ nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết
nhƣng thiếu kiến thức quản lý thì năng lực hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế. Vì
thế những kiến thức quản lý hành chính nhà nƣớc cũng là yếu tố quan trọng trong
năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ.
Để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao, ngƣời cán bộ còn phải có kiến thức về
nhiều lĩnh vực khác nhƣ quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Bên cạnh những tiêu chí nêu trên thì sức khỏe (thể chất tâm lý) cũng là một
tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ. Sức khỏe của mỗi ngƣời đƣợc đánh giá qua
nhiều tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
Nếu chỉ có trình độ năng lực chuyên môn mà không có sức khỏe dẻo dai, bền
bỉ thì cũng không thể biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạt động thực tiễn đƣợc.

Sự phát triển bình thƣờng về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khỏe mạnh cũng là
một tiêu chí quan trọng của năng lực cán bộ.
Trí lực đƣợc đánh giá thông qua sự minh mẫn linh hoạt trong phản ứng xử lý
công việc. Trí lực còn thể hiện ở việc ngƣời cán bộ có bản lĩnh trong công việc, dám
nghĩ, dám làm, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền và trong khuôn khổ pháp
luật, bảo đảm quyết định đó phải đúng, trúng, phù hợp và hiệu quả.
1.1.5.2.2. Một số tiêu chí đặc thù
Ngoài các tiêu chí nêu trên, việc đánh giá chất lƣợng của cán bộ LĐQL nói
chung (cán bộ nữ LĐQL nói riêng) còn đƣợc thể hiện qua rất nhiều tiêu chí khác
nhau nhƣ tầm nhìn chiến lƣợc, năng lực tƣ duy khoa học, cách ứng xử linh hoạt, khả
năng dùng ngƣời , tuy nhiên có thể khái quát thành một số tiêu chí chung cơ bản sau:
a) Năng lực tư duy và phân tích vấn đề:
Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ LĐQL phải biết phân tích tổng hợp vấn đề
một cách có hệ thống cùng với việc nắm bắt tốt cơ hội và lợi thế của ngành; tiếp cận,
nắm bắt và phát triển đƣợc các vấn đề mới; có phƣơng pháp làm việc một cách khoa
học, sáng tạo, có tƣ duy chiến lƣợc một cách có hệ thống về các mặt hoạt động của
cơ quan đơn vị mình phụ trách; hơn thế nữa cần có bộ óc phán đoán, dự báo tốt về
hƣớng phát triển của cơ quan, đơn vị mình trong tƣơng lai.
Bên cạnh đó, nhà LĐQL phải biết đề ra chiến lƣợc, sách lƣợc và định hƣớng
phát triển cho đơn vị, cơ quan mình trong từng giai đoạn nhất định. Hơn thế nữa,
ngƣời LĐQL phải biết đặt ra mục tiêu phát triển của đơn vị với các kế hoạch phát
triển dài hạn hay ngắn hạn, phù hợp với từng thời kỳ.
Để có đƣợc năng lực này, ngƣời LĐQL phải có vốn hiểu biết, có kiến thức tốt
để nắm vững chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nƣớc, đồng thời vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với cơ quan, đơn vị mình;
phải có kiến thức tổng hợp, hiểu biết sâu về một chuyên môn cụ thể, biết các
chuyên môn và ngành khác có liên quan; biết hoạch định, xây dựng chiến lƣợc phát
triển đơn vị phù hợp với từng thời kỳ; đảm bảo sự nhất quán giữa kế hoạch của đơn vị,
bộ phận mình với kế hoạch của đơn vị và bộ phận khác và của toàn cơ quan hoặc toàn
ngành, toàn địa phƣơng.

b) Năng lực tổ chức, quản lý và điều hành
Năng lực tổ chức thể hiện ở việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ
phận cấu thành cơ quan, đơn vị hoặc toàn ngành, cùng với đó việc tuyển dụng cán

×