Tải bản đầy đủ (.pdf) (158 trang)

Quản lý quy trình thu thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 158 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = = = = = =





VŨ DUY NINH


QUẢN LÝ QUY TRÌNH THU THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG



CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ TÂM






HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trên trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Đề
tài không trùng lắp với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố./.

Tác giả Luận văn


Vũ Duy Ninh


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học,
các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Kế toán tài
chính, Khoa Kế toán & QTKD, Ban đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và
đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Tâm người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Tôi xin chân
thành cảm ơn Cục Thuế tỉnh Hải Dương, Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, Sở Kế
hoạch và Đầu tư và các doanh nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học và tất cả bạn bè, gia đình, đồng

nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài.

Hải Dương, ngày 05 tháng10 năm 2014
Tác giả





Vũ Duy Ninh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT viii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 3
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu. 3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu. 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUI
TRÌNH THU THUẾ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 5
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ QUI TRÌNH THU THUẾ 5
2.1.1. Cơ sở lý luận về thuế 5
2.1.2. Quản lý thuế và Luật quản lý thuế 8
2.1.3. Đặc điểm của DN nước ngoài chi phối tới hoạt động quản lý thuế 12
2.1.4. Quản lý quy trình thu thuế đối với các DN có vốn ĐTNN 16
2.1.5. Mục tiêu quản lý thuế đối với DN có vốn ĐTNN 27
2.1.6. Nguyên tắc quản lý thuế đối với DN có vốn ĐTNN 27
2.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với DN có vốn ĐTNN 29
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ Ở CÁC NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

2.2.1. Kinh nghiệm của Anh 31
2.2.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản 32
2.2.3. Bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về quản lý thuế 33
3. GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36
3.1.1. GIỚI THIỆU VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 36
3.1.2. Giới thiệu về Cục thuế tỉnh Hải Dương 39
3.1.3. Tình hình thực hiện nghĩa vụ thu ngân sách với Nhà nước 43
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu 48
3.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích 51
3.2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 51
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
4.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY TRÌNH THU THUẾ
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG. 53

4.1.1 Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại tỉnh Hải Dương 53
4.1.2. Tình hình thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN 54
4.1.3. Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN tại Cục
thuế tỉnh Hải Dương 56
4.1.4. Quy trình quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN 60
4.1.5. Đánh giá sự tuân thủ thuế của DN có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải
Dương 77
4.1.6. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế DN có vốn
ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương 85
4.1.7. Đánh giá chung về quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN trên
địa bàn tỉnh Hải Dương 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

4.2. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUY TRÌNH THU
THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG 98
4.2.1. Định hướng, mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương 98
4.2.2. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu
thuế đối với các DN có vốn ĐTNN tại tỉnh Hải Dương 100
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
5.1. KẾT LUẬN 116
5.2. KIẾN NGHỊ 117
5.2.1. Kiến nghị với Nhà nước 117
5.2.2 Đối với Tổng Cục thuế 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC
















Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1. Tình hình dân số tỉnh Hải Dương 37
Bảng 3.2. Tình hình lao động của Cục thuế tỉnh Hải Dương 40
Bảng 3.3. Tình hình thu ngân sách của ngành thuế Hải Dương 43
Bảng 3.4. Phân bổ mẫu điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 50
Bảng 4.1. Quy mô các DN có vốn ĐTNN tại HD 54
Bảng 4.2. Tình hình thu thuế khu vực DN có vốn ĐTNN 55
Bảng 4.3. Nhân lực tham gia quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN 59
Bảng 4.4. Chất lượng cán bộ thu thuế đối với các DN có vốn ĐTNN 60
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện công tác Tuyên truyền và hỗ trợ NNT ở Cục
thuế Hải Dương 62
Bảng 4.6. Số lượng mã số thuế đã cấp cho DN có vốn ĐTNN của Cục thuế

tỉnh Hải Dương 65
Bảng 4.7. Số lượng khai thuế của DN có vốn ĐTNN 66
Bảng 4.8. Kết quả hoàn thuế đối với DN có vốn ĐTNN trong 3 năm 67
Biểu 4.9. Tổng hợp nợ thuế của DN có vốn ĐTNN tại Hải Dương 69
Bảng 4.10. Tổng hợp tình hình kiểm tra quyết toán thuế 73
Bảng 4.11. Kết quả kiểm tra truy thu thuế 74
Bảng 4.12. Truy thu thuế hàng năm qua hoạt động thanh tra DN có vốn ĐTNN 74
Bảng 1.13 : Các chỉ số đặc trưng cho các cấp độ tuân thủ thuế của DN có
vốn ĐTNN 77
Bảng 4.14. Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp
có nhận thức khác nhau về thuế 80
Bảng 4.15. Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp
có thời gian hoạt động khác nhau 81
Bảng 4.16. Chi phí cho tuân thủ thuế thuộc các nhóm doanh nghiệp có đặc
điểm hoạt động khác nhau 82
Bảng 4.17. Tỷ lệ DN theo cấp độ tuân thủ ở các nhóm doanh nghiệp bị ảnh
hưởng khác nhau bởi các yếu tố tâm lý 84
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1: So sánh chủ yếu cải cách của cơ quan thuế 3144
Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng số thu NSNN qua các năm 44
Biểu đồ 4.1. Tỷ trọng số thu từ DN có vốn ĐTNN tại Hải Dương 56
Sơ đồ 4.1. Về tổ chức bộ máy quản lý quy trình thu thuế đối với DN nước ngoài 56
Sơ đồ 4.2. Quy trình quản lý thu thuế đối với các DN có vốn ĐTNN. 61
Sơ đồ 4.3. Quản lý khai thuế và nộp thuế ở Cục thuế Hải Dương 64
Sơ đồ 4.4. Quản lý nợ thuế 68
Sơ đồ 4.5. Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế 72

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ASIAN : Association of South East Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á.
APEC : Asia Pacific Economic Coorporation - Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á - Thái Bình Dương.
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài.
EU : Liên minh Châu Âu.
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội.
GTGT : Giá trị gia tăng.
LTO : Bộ phận chuyên quản lý ĐTNT lớn.
NSNN : Ngân sách nhà nước.
ODA : Offcial Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức.
QLT : Quản lý thuế.
TCT : Tổng Cục thuế.
TNCN : Thu nhập cá nhân.
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp.
TK-TN : Tự khai tự nộp.
HD : Tỉnh Hải Dương.
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt.
UNCTAD : United Nations Conference On Trade and Development - Tổ chức
Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc.
WTO : World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới.
XHCN : Xã hội chủ nghĩa.
XNK : Xuất nhập khẩu.



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động
viên của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần bình đẳng công bằng xã
hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập quốc tế, tại Kỳ họp
thứ 10 (Khoá XI), Quốc hội đã thông qua Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11
ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2007 và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Bước chuyển quan trọng được đề cập trong Luật
Quản lý thuế là đề cao tính tự chủ của người nộp thuế trong quá trình khai thuế,
nộp thuế vào NSNN, đó là cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt
Nam, trong những năm qua đã góp phần đáng kể thúc đẩy phát triển kinh tế trong
nước và nguồn thu cho NSNN. Số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại
Thế giới, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện theo tiến trình hội nhập. Nhìn
chung, các DN có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tốt nghĩa vụ thuế và các yêu cầu
của quản lý thuế. Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động rộng, tính chất và các mối quan hệ
trong hoạt động kinh doanh và trong quản lý của các DN có vốn đầu tư nước ngoài
phức tạp, khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế lại chủ yếu dựa vào sự tự giác của họ
trong việc chấp hành Luật thuế và Luật quản lý thuế, nên cũng có không ít các DN đã
lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật và cơ chế quản lý để gian lận thuế. Các hình
thức trốn thuế, gian lận về thuế của đối tượng này thường rất tinh vi, khó phát hiện
như: thông qua chuyển giá, giao dịch thương mại điện tử

Với những lợi thế đặc biệt, riêng có trong những năm qua Hải Dương là một
trong những tỉnh của cả nước luôn dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài cả về
dự án và quy mô đầu tư. Đầu tư nước ngoài đang ngày càng khẳng định vị trí và vai
trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Hải Dương: Trong số 254 dự án FDI được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

cấp Giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn có 200 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động
sản xuất kinh doanh. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp trong năm 2013 tương đối ổn định và tăng so với các năm trước về các chỉ
tiêu như doanh thu, giá trị xuất khẩu, nộp ngân sách: Doanh thu năm 2013 của các
doanh nghiệp FDI là 3.193,3 triệu USD, tăng 15,2 % so với năm 2012 (2.707,9
triệu USD); Giá trị xuất khẩu 2.322,7 triệu USD tăng 7,4% so với cùng kỳ 2012
(2.150,8 triệu USD). Thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước đạt 80,7
triệu USD, tăng 34,4% so với năm 2012 (59,72 triệu USD).
Mặc dù số thu của khối DN có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương hàng
năm luôn chiếm 1/3 tổng số thu NS trên địa bàn, nhưng là sự đóng góp chủ đạo của
2 Công ty: Cty TNHH Ford VN và Công ty xi măng Phúc Sơn (Số thu từ 2 công ty
này luôn chiếm từ 80 đến 90% số thu NS của khối doanh nghiệp có vốn ĐTNN).
Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn lại đóng góp vào số thu NS trên địa bàn
không tương ứng với số lượng DN và số vốn góp. Đó là một nghịch lý, trong khi số
lượng DN có vốn ĐTNN ngày càng tăng lên nhưng số thu không tăng lên tương
ứng, các DN có vốn ĐTNN có hoạt động SXKD thua lỗ chiếm tỷ trọng cao trong
tổng số DN ĐTNN, nhiều DN kinh doanh thua lỗ nhưng lại có số thuế GTGT đề
nghị hoàn rất lớn.
Mặt khác quá trình thực hiện đổi mới quản lý thuế khu đối với các doanh
nghiệp nước ngoài của Cục thuế tỉnh Hải Dương cũng bộc lộ nhiều bất cập cả về quy
trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học, bố trí nguồn nhân lực, trình độ cán bộ quản
lý, chưa tận dụng được kinh nghiệm quản lý thu thuế của các nước tiên tiến.
Trước vấn đề đặt ra như trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu cơ bản từ lý

luận đến thực tiễn để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục trong đó hoàn
thiện quản lý thu thuế được coi là nội dung trọng tâm của cải cách hệ thống thuế.
Là người tham gia quản lý lĩnh vực này của tỉnh Hải Dương, tôi lựa chọn đề tài:
"Quản lý quy trình thu thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Hải Dương" làm luận văn tốt nghiệp.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1.2.1. Mục tiêu chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý quy trình thu thuế đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu thuế đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý quy trình thu thuế các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(2) Đánh giá thực trạng công tác quản lý quy trình thu thuế của Cục thuế tỉnh Hải
Dương đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu
thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Hoạt động quản lý quy trình thu thuế đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN của Cục thuế
tỉnh Hải Dương.
- Các quy định pháp luật về quản lý quy trình thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN tại tỉnh
Hải Dương.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý quy

trình thu thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các yếu tố ảnh
hưởng, các mối quan hệ tác động đến công tác quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh
Hải Dương.
Phạm vi về không gian: Tại Cục thuế và các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài thuộc tỉnh Hải Dương.
Phạm vi về thời gian:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

+ Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế đối
với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong 3 năm: năm 2011, năm 2012
và năm 2013.
+ Về thời gian thực hiện: 12 tháng, bắt đầu từ tháng 09 năm 2013 đến tháng
09 năm 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUI TRÌNH THU
THUẾ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ QUI TRÌNH THU THUẾ
2.1.1. Cơ sở lý luận về thuế
2.1.1.1. Bản chất của thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó sự
hiện diện của thuế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo các
nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Các-Mác đã nói về quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và thuế như sau: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là
thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân phải

đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước". ĂngGhen cũng đã chỉ ra:
“Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà
nước, đó là thuế”. [9]
Nhà nước là điều kiện đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại hệ thống thuế của một
quốc gia. Trong trường hợp thu nhập của người dân không đủ chi dùng cho bản
thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ hai
rất quan trọng cần phải có để biết sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã hội. Sự hình
thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các khoản thu của
Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất.
Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau
về thuế:
- Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình
thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng
của Nhà nước.
- Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà các tổ
chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo qui định của pháp luật.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

- Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát của
các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm
đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế
là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà không
đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm này mà
người nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài
sản cá nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công
cộng từ Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác
định những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế. [6]

Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là
khoản đóng góp bắt buộc trích từ một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân
cho Nhà nước theo qui định của pháp luật để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo
chức năng của Nhà nước.
2.1.1.2. Phân loại thuế
Khi nghiên cứu lý luận, các nhà kinh tế có thể dùng nhiều tiêu thức để phân
loại thuế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hoạch định chính sách thuế và tổ chức quản lý
thuế có hiệu quả.
a) Phân loại theo tính chất kinh tế
Cách phân loại cổ điển và thường được nhắc nhiều là căn cứ vào tính chất
kinh tế, tính chất có thể chuyển dịch gánh nặng về thuế giữa người nộp thuế và
người chịu thuế. Người ta phân chia thuế thành hai loại chủ yếu, đó là thuế trực thu
và thuế gián thu.
- Thuế trực thu:
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các đối tượng nộp thuế.
Việc động viên cho ngân sách qua thuế trực thu có tính công bằng hơn so với thuế
gián thu, bởi vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

tượng; thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít, thu nhập chỉ
đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu nhập thì không phải nộp thuế.
Thuộc loại thuế trực thu có thể kể đến các luật thuế như: thuế Thu nhập Doanh
nghiệp, thuế Thu nhập Cá nhân, thuế Tài sản, thuế Tặng phẩm…
- Thuế gián thu:
Thuế gián thu là loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập của các tổ chức, cá
nhân khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thuế này do người sản xuất
kinh doanh cung ứng hàng hoá, dịch vụ nộp cho Nhà nước, nhưng người tiêu dùng
cuối cùng là những người chịu thuế. Nhà doanh nghiệp chuyển thuế bằng cách
cộng thuế vào giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người ta gọi là thuế gián thu. Các

doanh nghiệp ở đây chỉ giữ vai trò như người thu hộ thuế cho Nhà nước. Thuộc loại
thuế gián thu gồm có các luật thuế như: thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Tuỳ theo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước, cũng
như quan điểm của những người lãnh đạo Nhà nước trong từng thời kỳ, người ta có
thể lựa chọn, coi trọng loại thuế gián thu hay thuế trực thu.
b) Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Phân loại theo tiêu thức này, thuế bao gồm các loại thuế sau:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: thuế Giá trị gia tăng.
- Thuế đánh vào sản phẩm đặc thù, như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu.
- Thuế đánh vào thu nhập, như: thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập
cá nhân.
- Thuế đánh vào tài sản, như: thuế Nhà đất, thuế Chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế đánh vào tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, như: Thuế tài nguyên.
c) Phân loại thuế theo phương thức sử dụng
Theo phương thức này, thuế được phân thành: Thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

Thuế tổng hợp: Là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau
nhưng được tập trung vào ngân sách Nhà nước và được sử dụng chung cho các mục
đích phát triển kinh tế - xã hội có tính chất toàn quốc.
Thuế chuyên dùng: Là loại thuế thu từ một nguồn (hoặc một số nguồn) đơn lẻ
nhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định trong Ngân sách Nhà
nước. Quỹ này được sử dụng gắn với mục đích đã được xác định trước.
Ngày nay, Chính phủ các nước phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế
tổng hợp. Tuy nhiên, họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để
thực hiện một số nhiệm vụ chi cấp bách, quan trọng.
2.1.2. Quản lý thuế và Luật quản lý thuế

2.1.2.1. Một số lý luận cơ bản về quản lý thuế
a) Khái niệm quản lý thuế
Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là "Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định".
Theo các tác giả Giáo trình khoa học quản lý của Học viện Chính trị Quốc gia
thì "Quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn".
Theo các tác giả Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước thì "Quản lý là sự
tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng với ý chí và phù hợp với
qui luật khách quan".
Như vậy, khi nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người trong việc
thực hiện các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và
thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó nhằm thực hiện những
mục tiêu đã định.
Theo các khái niệm về quản lý nêu trên, quản lý thuế có thể được hiểu là các
hoạt động của con người trong việc thực hiện các hoạt động về lập kế hoạch, tổ
chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm thực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

thi tốt nhất hệ thống chính sách thuế. Trong đó, chủ thể quản lý thuế có thể được
hiểu theo phạm vi rộng là tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong xã hội
có tham gia vào hoạt động quản lý thuế hoặc được hiểu theo phạm vi hẹp là các cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế (cơ quan quản lý thuế).
Hiểu theo phạm vi rộng, tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải tham
gia vào quá trình quản lý thuế để thực hiện tốt nhất hệ thống chính sách thuế, đạt được
các mục tiêu trong quản lý thuế như đảm bảo nguồn thu, thực hiện tốt chức năng điều
tiết nền kinh tế, xã hội, đảm bảo được tính công bằng và hiệu quả…
Nếu hiểu theo phạm vi hẹp, các cơ quan quản lý nhà nước là cơ quan được giao

trách nhiệm tổ chức hoạt động quản lý thuế nhằm ban hành và thực thi đầy đủ, chính
xác và kịp thời hệ thống chính sách pháp luật về thuế. Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, quản lý thuế được giới hạn trong các hoạt động của cơ quan quản lý thuế.
Do vậy, quản lý thuế được hiểu là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm
tác động và điều hành hoạt động chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế.
Hoạt động tác động nói trên của các cơ quan quản lý nhà nước được hiểu dưới
các góc độ sau:
(1) Là quá trình vận dụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính
sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; Là quá trình
xây dựng tổ chức bộ máy ngành thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
quản lý thuế; Là việc vận dụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế phù hợp với quy luật khách quan, bao
gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra thuế… Đây
chính là cách hiểu về quản lý thuế theo nghĩa rộng. Theo đó, quản lý thuế bao gồm
cả hoạt động xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật thuế và hoạt động tổ
chức tiến hành thu thuế.
Khái niệm quản lý thuế nêu trên cho thấy quản lý thuế bao gồm các khía cạnh
chủ yếu sau đây:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp
với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành
pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống
các cơ quan chuyên môn giúp việc cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, cơ quan
hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế.
Thứ hai, đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp
thuế vào ngân sách nhà nước (người nộp thuế).
Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tổ
chức, cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và tổ chức thực

hiện pháp luật thuế.
Thứ tư, quản lý thuế là một hệ thống thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà
nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức tiến hành thu thuế.
Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện
các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật
khách quan.
(2) Quản lý thuế theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm xây dựng thể chế quản lý thuế, tổ
chức Bộ máy quản lý thuế và tổ chức tiến hành thu thuế không bao gồm hoạt động
xây dựng chính sách, pháp luật thuế.
Trong phạm vi nghiên cứa của Luận văn nghiên cứu quản lý thuế với các nội
dung theo nghĩa hẹp.
b) Đặc điểm quản lý thuế
So với các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế có những đặc điểm cơ bản
sau đây:
- Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nộp thuế. Hoạt
động quản lý của cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các
tổ chức, cá nhân đều phải dựa trên cơ sở các qui định của các luật thuế với đặc
trưng có tính bắt buộc cao và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước.
Việc quản lý thuế bằng pháp luật đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

trong hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước. Qua đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế
vào NSNN được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với các tổ chức, cá nhân
được công bằng, bình đẳng. [10]
- Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính. Nội
dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ
chức, cá nhân trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan

Nhà nước, tổ chức khác. Trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải
phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý
(người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc
đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời phương pháp hành chính trong quản lý
thuế còn thể hiện trong qui trình, thủ tục thu, nộp thuế - đó là trình tự các bước
công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện
nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo qui trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch,
thủ tục thu, nộp thuế đơn giản.
- Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Đặc điểm
này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho
quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật
của việc xác định số thuế phải nộp. Ví dụ: Tập hợp thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ trong ký tính thuế; xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế để tính thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp. [1]
2.1.2.2. Luật Quản lý Thuế
Từ khi thành lập hệ thống thuế thống nhất trong cả nước năm 1990 đến nay,
ngành thuế đã tiến hành hai giai đoạn cải cách thuế, nhờ đó đã hình thành được một
hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất
đối với mọi thành phần kinh tế. Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước. Bộ máy quản lý thuế đã được xây dựng thống
nhất, nghiệp vụ quản lý thuế từng bước được kiện toàn theo tiến trình đổi mới và
phát triển kinh tế của đất nước. Cơ chế quản lý thuế đã có nhiều chuyển biến tích
cực theo hướng rõ ràng, công khai, dân chủ, minh bạch hơn. Các thủ tục hành chính
thuế được thực hiện thống nhất trong cả nước và ngày càng được củng cố, tăng
cường về mọi mặt, đảm bảo thực thi tốt và thống nhất các luật thuế trong cả nước.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp

tăng lên nhanh chóng, đồng thời quy mô, hình thức, cách thức hoạt động của các
doanh nghiệp cũng đa dạng, phức tạp hơn, nên cơ chế quản lý cũ đã không còn phù
hợp, đòi hỏi phải chuyển sang cơ chế quản lý mới, theo đó, cơ chế người nộp thuế tự
khai, tự nộp thuế (TK-TN) với việc đề cao tinh thần tự giác chấp hành pháp luật thuế
của các tổ chức cá nhân là rất cần thiết, đặc biệt là trong điều kiện ngành thuế đang
thực hiện chiến lược cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế. Bởi vậy, việc thực hiện
quản lý thuế theo cơ chế TK-TN là xuất phát điểm của quy trình cải cách thuế.
Luật Quản lý thuế ra đời có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, đáp
ứng được yêu cầu quản lý trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển
của Việt Nam trong giai đoạn mới; đã hệ thống hóa và làm rõ được những vấn đề
cơ bản của mô hình quản lý thuế theo cơ chế TK-TN. [2]
Trước đây, trong mỗi luật thuế của Việt Nam (thuế thu nhập, thuế giá trị gia
tăng,…) đều có qui định về thủ tục quản lý thuế (thẩm quyền cưỡng chế, xử phạt,
quyền của ĐTNT) để áp dụng cho loại thuế đó. Do đó, hình thức qui định như vậy dẫn
đến sự không nhất quán giữa các luật thuế, nhưng quan trọng hơn là luật thuế không
trao đủ thẩm quyền cho Tổng cục Thuế, để thực hiện công tác quản lý thuế. Để giải
quyết vấn đề này, Luật quản lý thuế ban hành trong đó tập hợp các qui định về quản lý
thuế trong các luật thuế vào một luật duy nhất và luật này đã mang lại cho Tổng cục
Thuế đủ thẩm quyền để quản lý hệ thống thuế.
2.1.3. Đặc điểm của DN nước ngoài chi phối tới hoạt động quản lý thuế
2.1.3.1. Đặc điểm chung về pháp lý
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

Theo thông lệ các nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
thường bao gồm: DN liên doanh; DN 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra, có các
doanh nghiệp được phép hoạt động trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh được
ký kết giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện
một, một số hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư. Các doanh nghiệp này hoạt
động trên cơ sở giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp; được công nhận có tư

cách pháp lý, hoạt động theo qui định trong giấy chứng nhận đầu tư, điều lệ liên
doanh, hợp đồng liên doanh và pháp luật của nước nhận đầu tư. Về phương diện
pháp lý sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp này chi phối tới hoạt động
quản lý thuế của các nước như sau:
- Thông thường doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước là chi
nhánh, hoặc công ty con của các công ty mẹ ở nước ngoài, nên trong quan hệ kinh
doanh cũng như về trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư
rất hạn chế, như họ không có đủ thẩm quyền để quyết định các vấn đề phát sinh
trong kinh doanh, hoặc không chịu trách nhiệm pháp lý trước đối tác và Nhà nước,
mà phải do công ty mẹ quyết định. Điều này gây khó khăn cho quản lý nói chung
và quản lý thuế nói riêng.
- Giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với chủ đầu tư hoặc với công
ty mẹ ở nước ngoài là quan hệ nội bộ, nên trong nhiều trường hợp ngay cả cơ quan
quản lý tại nước có doanh nghiệp đầu tư cũng không quản lý được. Bởi vậy những
khó khăn, vướng mắc trong quản lý thuế trong nhiều trường hợp không giải quyết
được, ví dụ vấn đề chuyển giá giữa công ty mẹ và công ty con.
- Các quy định của pháp luật và thủ tục pháp lý mà mỗi bên trong quan hệ
đầu tư phải tuân theo trong hoạt động kinh doanh là khác nhau, nên khi thực hiện
các quyết định hành chính của cơ quan quản lý thường mất nhiều thời gian, do đó
trong nhiều trường hợp khi thực hiện được quyết định thì kết quả cũng không còn ý
nghĩa nữa. Như khi thực hiện các chế tài về ngăn chặn, hoặc chế tài hành chính. [9]
2.1.3.2. Đặc điểm về chế độ kế toán
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Thông thường ở các nước doanh nghiệp có vốn ĐTNN áp dụng chung chế độ kế
toán đối với các doanh nghiệp trong nước thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế.
Tuy nhiên, trong một số hoạt động đặc thù phải tuân theo quy định riêng như của nước
nhận đầu tư: về đồng tiền sử dụng trong hạch toán kế toán và sổ sách kế toán; hệ thống
tài khoản áp dụng để hạch toán; các định mức kinh tế, kỹ thuật áp dụng áp dụng trong

tính thuế, khai thuế. Chẳng hạn ở Việt Nam quy định:
- “Đơn vị tiền tệ trong kế toán” là Đồng Việt Nam (Ký hiệu quốc gia là “đ”;
Ký hiệu quốc tế là “VND”) được dùng để ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo
tài chính của doanh nghiệp. Trường hợp đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng ngoại
tệ thì được chọn một loại ngoại tệ do Bộ Tài chính quy định làm đơn vị tiền tệ để
ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính. Doanh nghiệp, tổ chức có vốn
đầu tư nước ngoài thu, chi chủ yếu bằng ngoại tệ căn cứ vào quy định của Luật Kế
toán, để xem xét, quyết định lựa chọn đơn vị tiền tệ trong kế toán và chịu trách
nhiệm về quyết định đó trước pháp luật. Khi lựa chọn đơn vị tiền tệ trong kế toán,
doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Các doanh nghiệp,
tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài thành lập và hoạt động ở Việt Nam sử dụng
ngoại tệ làm đơn vị tiền tệ trong kế toán thì đồng thời với việc lập Báo cáo tài chính
theo đơn vị tiền tệ trong kế toán (ngoại tệ) còn phải quy đổi báo cáo tài chính sang
Việt Nam Đồng khi nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước. [6]
- Các DN có vốn ĐTNN phải thực hiện chế độ kế toán Việt Nam để hạch
toán, nếu trường hợp DN có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng chế độ kế toán khác
phải được Bộ tài chính chấp nhận. Tuy nhiên, dù doanh nghiệp được phép sử dụng
chế độ kế toán nào thì việc tính toán các khoản chi phí và xác định các căn cứ để
tính các loại thuế phải tuân thủ quy định của Luật thuế của Việt Nam. Năm tính
thuế là năm dương lịch bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm.
Trường hợp doanh nghiệp được Bộ tài chính chấp thuận áp dụng năm tài chính
khác với năm dương lịch thì năm tính thuế là năm tài chính đó.
2.1.3.3. Đặc điểm về công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

- So với các doanh nghiệp ở trong nước, thông thường các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài có ưu thế hơn hẳn về công nghệ, kỹ thuật, tổ chức quản lý
sản xuất tiên tiến tạo điều kiện thuận lợi cho hạch toán và quản lý nhà nước.
- Thông thường doanh nghiệp có vốn ĐTNN là DN được đầu tư từ các nước

phát triển nên trình độ quản lý kinh tế, ý thức tự giác chấp hành pháp luật được
đánh giá cao hơn các doanh nghiệp khác. Trong công tác hạch toán kế toán, cũng
như chấp hành nghĩa vụ thuế thường được các công ty luật và kiểm toán chuyên
nghiệp tư vấn, nên đúng pháp luật hơn. Mặt khác, do có trình độ chuyên môn cao,
lại được các công ty luật tư vấn nên cũng không loại trừ khả năng các doanh nghiệp
này lách luật tránh thuế và trốn thuế, đối với các nước tiếp nhận đầu tư thì khía
cạnh này là thách thức trong quản lý. [4]
2.1.3.4. Một số ưu đãi về chính sách thuế cho Doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển
kinh tế xã hội trong nước, để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngoài những ưu
đãi chung như các doanh nghiệp trong nước, các nước tiếp nhận đầu tư thường cho
phép các doanh nghiệp ĐTNN được hưởng các chính sách ưu đãi riêng như: được
hoàn thuế TNDN do dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư; được miễn thuế hoặc
hưởng thuế suất thuế TNDN thấp hơn mức thuế suất phổ thống cả suốt đời dự án;
được miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị tạo TSCĐ; được hưởng ưu đãi về tiền
thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển và được hưởng các ưu đãi khác theo giấy phép
đầu tư. [17]
Bên cạnh mặt tích cực như đã nêu, chính sách ưu đãi thuế đối với DN có vốn
ĐTNN cũng có những bất cập nhất định:
- Gây khó khăn cho quản lý vì có những ngoại lệ, tốn kém chi phí và thời gian
quản lý;
- Nếu giám sát các điều kiện ưu đãi không chặt chẽ, không kiểm soát được đầy
đủ hoạt động của các DN ĐTNN, ưu đãi không đúng đối tượng sẽ làm mất công
bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế và có nhiều cơ hội để nhà đầu tư lợi dụng
tránh thuế, trốn thuế. Đối với nhiều quốc gia, ưu đãi thuế là vấn đề khó giải quyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

trong mối quan hệ với thu hút đầu tư nước ngoài.
2.1.3.5. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ĐTNN rất đa dạng

Số lượng các doanh nghiệp ĐTNN thường xuyên biến động và có xu hướng
ngày càng tăng, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới,
môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện theo tiến trình hội nhập. Hoạt động
kinh doanh của các Tập đoàn đa quốc gia thường rất phức tạp, đa ngành nghề. Nhu
cầu quan hệ giao dịch kinh tế của các doanh nghiệp ĐTNN với các tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài là rất lớn và phức tạp. Hoạt động kinh doanh cúa các nhà thầu
nước ngoài tại Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, phức tạp,
thời gian thực hiện ngắn. Điều này đòi hỏi công tác quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN phải nắm chắc thông tin ngay từ đầu, kịp thời đưa vào quản
lý tránh thất thu thuế.
2.1.3.6. Mục tiêu KD của DN nước ngoài
Mục tiêu chủ yếu của các nhà đầu tư khi đem vốn đầu tư để thành lập DN ở
các nước khác là lợi nhuận, nên để có lợi nhuận cao họ tìm mọi cách để tránh thuế,
trốn thuế.
Để đạt được mục đích có nhiều lợi nhuận, các nhà đầu tư nước ngoài thường
chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao và các địa bàn có
điều kiện kinh tế thuận lợi để chi phí đầu tư thấp nhất. Mặt khác, họ cũng lợi dụng
mọi cơ hội để trốn thuế, tránh thuế với các thủ đoạn thường rất tinh vi, phức tạp và
khó phát hiện thông qua chuyển giá, giao dịch thương mại điện tử nhiều khi nằm
ngoài tầm kiểm soát của cơ quan thuế, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tóm lại, doanh nghiệp có vốn ĐTNN có nhiều đặc điểm khác biệt so với
doanh nghiệp trong nước, có những đặc điểm tạo thuận lợi cho quản lý thuế, nhưng
cũng có những đặc điểm là thách thức và khó khăn cho quản lý thuế ở trong nước,
điều đó đã và đang đặt ra những yêu cầu quản lý thuế hết sức phức tạp cho các cơ
quan quản lý nói chung và cơ quan thuế nói riêng.
2.1.4. Quản lý quy trình thu thuế đối với các DN có vốn ĐTNN
2.1.4.1. Thuế và chính sách thuế đối với DN có vốn ĐTNN

×