Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nữ vận động viên bóng ném lứa tuổi 16 18 thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.26 KB, 59 trang )

MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một
hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Luyện tập TDTT không
những tăng cường sức khỏe, phát triển cân đối về trí tuệ, nhân cách mà còn đáp
ứng nhu cầu về thẩm mỹ của con người. TDTT là một loại hình hoạt động mà
phương tiện chủ yếu là các bài tập thể chất nhằm phát triển, nâng cao trình độ thể
lực, kỹ năng vận động, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, phát triển con
người.
Không những thế, TDTT còn là phương tiện cùng xã hội xây dựng một
cuộc sống tốt, lành mạnh, vui chơi giải trí có ích cho cá nhân, cho tập thể, đồng
thời góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào nước ta. Vì thế mỗi
quốc gia đều chú trọng đến công tác TDTT và cố gắng đưa nền TDTT của nước
mình đến đỉnh cao, cũng như giữ vững và phát triển những môn thể thao mang
đậm đà bản sắc dân tộc. Trong công tác ngoại giao TDTT còn là nhịp cầu giao lưu
thắt chặt tình hữu nghị, đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới. TDTT bao gồm
một hệ thống các môn rất phong phú, đa dạng như: bóng đá, bóng chuyền, bóng
rổ, điền kinh, thể dục, bơi lội trong đó có Bóng ném.
Bóng ném là môn thể thao có nguồn gốc từ châu Âu, môn bóng ném phát
sinh đầu tiên ở vùng Skandincivien (Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch) nó được ra đời
do sự chuyển biến của chế độ phong kiến sang chế độ Tư bản. Có một số tài liệu
cho rằng năm 1890 một giáo sư người Đức đã sáng chế ra môn bóng nhà nghèo là
tiền thân của môn Bóng ném sau này. Sau hơn 100 năm phát triển môn thể thao
này đã lan truyền sang khắp các châu lục. Tuy nhiên Bóng ném được xuất hiện ở
Việt Nam có lẽ vào sau những ngay hòa bình lặp lại ở miền Bắc. Tại miền Nam
1978 Bóng ném đã được đưa vào phổ cập nhờ một giáo viên thể dục.
Bóng ném là một hoạt động mang tính đối kháng trực tiếp, sự phát triển các
khả năng vận động tăng tính đoàn kết, tính dũng cảm, tính kỷ luật, quyết đoán
trong tập luyện và thi đấu. Trong đó “sức bền chuyên môn” là một tố chất quan
trọng đối với các vận động viên (VĐV) Bóng ném, tạo điều kiện cho VĐV duy
trì, ổn định, kỹ chiến thuật trong thời gian thi đấu căng thẳng quyết liệt kéo dài.
1


Thể hiện hiệu quả qua việc VĐV tham gia các pha tấn công, phối hợp chiến thuật
di chuyển, phản công nhanh ném cầu môn cũng như phòng thủ chống tấn công
của đối phương.
Trong vài năm trở lại đây, nhờ được sự quan tâm của chính phủ và sự
mạnh dạn cải cách bộ máy tổ chức quản lý TDTT cho nên TDTT Việt Nam đã
phát triển có định hướng nhanh và toàn diện. Trong bối cảnh đó thì Bóng ném
cũng được đầu tư và phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1985 - 1990 đã có nhiều giải thi
đấu Bóng ném mở rộng ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Đến tháng 6 năm 1995 đã có giải vô địch Bóng ném nằm trong chương trình đại
hội TDTT toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Quảng Nam - Đà Nẵng. Đặc biệt
là Seagames 22 được tổ chức tại Việt Nam (12/2003), và Seagames 24 tổ chức tại
Thái Lan đoàn thể thaoViệt Nam đã đạt được thành tích khá cao ở khu vực Đông
Nam Á. Bên cạnh một số môn thể thao đạt thành tích cao như: Võ, Bắn súng,
Điền kinh… thì Bóng ném là môn thể thao đã đạt được thành tích đáng kể, đó là
tại kỳ Seagames 22 cả đội tuyển nam và đội tuyển nữ đều đạt đựợc Huy chương
vàng (HCV) còn tại kỳ Seagames 24 cả đội tuyển nam và đội tuyển nữ đều đạt
được Huy chương bạc (HCB).
Những quy luật diễn biến của quá trình tập luyện và thi đấu bóng ném cho
thấy có sự diễn biến thường xuyên liên tục những tình huống tấn công và phòng
thủ cả hai phía cầu môn không ngừng,không đứt quãng,với tốc độ cao trong suốt
thời gian thi đấu.vì vậy trong suốt thơi gian thi đấu VĐV phải có một tố chất thế
lực tốt để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đối với VĐV trong suốt thời gian thi đấu đều thể hiện đầy đủ trình độ kỹ
thuật cũng như khà năng khác của mình là sự hiểu biết về trình độ chuyên môn
đó.sức bền là một trong những thành phần quan trọng của tố chất thể lực.nói
chung,sức bền là cơ sơ để phát triển các tố chất thể lực khác.vì vậy đòi hỏi đầy đủ
tố chất sức bền chung,sức bền chuyên môn,sức bền tốc độ.
Qua quan sát trận đấu của giải bóng ném toàn quốc tại Thanh Trì Hà Nội
năm 2010 tôi nhận thấy thời gian đầu của trận đấu các VĐV thi đấu với tốc độ cao
phối hợp chuyển và ném bóng hiệu quả,cuối trận đấu các VĐV thi đấu chậm lại

2
và hiệu quả ném cầu môn không cao.nguyên nhân chủ yếu là do thể lực nói chung
chuyên môn nói riêng của các VĐV bị giảm sút,dẫn đến vận dụng kỹ chiến thuật
đạt hiệu quả không cao.
Trên thực tế sức bền của VĐV Bóng ném còn tồn tại nhiều hạn chế. Thể
lực của VĐV có sự biến đổi rõ rệt trong mỗi hiệp đấu và cả trận đấu biểu hiện qua
sự di chuyển, tốc độ trận đấu, số lượng bàn thắng, khả năng phòng thủ và tấn công
giữa các thời điểm đầu trận thi đấu - cuối trận thi đấu
Về công tác huấn luyện thể lực từ trước đến nay, trên thực tế có nhiều tác
giả đã nghiên cứu các bài tập có hiệu quả cho các VĐV Bóng ném, đặc biệt là các
nữ VĐV trẻ. Đây là lứa tuổi đã có nền tảng nhất định về thể lực chung và kỹ
chiến thuật cơ bản, cùng sự phát triển tương đối ổn định về cấu trúc giải phẫu
chức năng sinh lý sinh hóa trong cơ thể người tập. Đó là đặc điểm của lứa tuổi trẻ,
phù hợp cho việc huấn luyện sức bền chuyên môn
Để nâng cao trình độ Bóng ném, để bắt nhịp thành tích và trình độ với các
nước trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi phải có kế hoạch, bài tập hiệu quả
phù hợp với đặc điểm sinh lý,cấu trúc giải phẫu của còn người cũng như đặc điểm
khí hậu và điều kiện cơ sở vật chất của Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên tôi mạnh dạn tìm hiểu và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nữ
vận động viên Bóng ném lứa tuổi 16 -18 thành phố Hà Nội”
* Mục đích nghiên cứu của đê tài:
- Nghiên cứu ứng dụng bài tập nhằm phát triển sức bền cho nữ VĐV Bóng
ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
- Tạo tiền đề cho các nữ VĐV phát triển thể lực, nâng cao thành tích trong
thi đấu.
* Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nữ VĐV Bóng
ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội trong tập luyện và thi đấu Bóng ném.
- Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng bài tập nhằm phát triển sức bền

chuyên môn cho nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16 -18 thành phố Hà Nội.
3
* Đối tượng nghiên cứu.
Các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi
16-18 thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Khách thể đối tượng nghiên cứu: nữ VĐV Bóng ném Hà Nội.
- Quy mô nghiên cứu:
+ Số lượng mẫu nghiên cứu: 20 VĐV Bóng ném Hà Nội.
+ Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại
Trung tâm đào tạo VĐV trẻ thành phố Hà nội.
Địa điểm nghiên cứu:
+ Trung tâm đào tạo VĐV trẻ thành phố Hà nội.
4
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vai trò của tố chất thể lực trong thể thao hiện đại và trong Bóng ném
Bên cạnh các yếu tố hiểu biết, đạo đức, ý chí, kỹ chiến thuật thì thể lực là
một trong những nhân tố quan trọng, nó quyết định hiệu quả hoạt động của con
người trong đó có hoạt động thể dục thể thao. Các tố chất thể lực là cơ sở nền
móng của bất cứ môn thể thao nào, muốn tiếp thu kỹ thuật một cách thuận lợi
nhằm hình thành các kỹ năng, kỹ xảo đúng của bất cứ môn thể thao nào thì tố chất
thể lực đặc biệt là tố chất thể lực chuyên môn là điều kiện để cho người tập hoàn
thành tốt các yêu cầu trên.
Vì vậy việc rèn luyện phát triển thể lực là một trong hai đặc điểm cơ bản
của quá trình giáo dục thể chất. Phần lớn các môn thể thao đều đòi hỏi phần lớn
các tố chất thể lực cùng với các tố chất chuyên môn của mình.
Trong những năm của thập kỷ 21 thành tích thể thao đã đạt tới trình độ cao
mà cách đây 20 năm mới chỉ là mơ ước của nhiều HLV và nhiều VĐV.
Để đạt được thành tích đó nhiều chuyên gia lý luận hàng đầu của thế giới

như D.Hare (Đức), Richardsen (Mỹ), Matvêép, G.Iacôva Philin, Zaxiorxki (Nga),
Điền Mạnh Cửu (Trung Quốc) đều cho rằng: “Yếu tố thể lực của VĐV ngày càng
đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt thành tích thể thao đỉnh cao”.
Vì vậy việc huấn luyện thể lực là một công việc rất quan trọng và phải
được quan tâm phát triển, đào tạo và là nguyên tắc cơ bản để phát triển các tố chất
thể lực. Lượng vận động phải được tăng lên không ngừng theo thời gian tập
luyện, cùng với quá trình nâng cao năng lực làm việc của các cơ quan thần kinh
trung ương và các trung khu của nó, cũng như nâng cao năng lực làm việc của các
cơ quan chức phận như tuần hoàn hô hấp, đáp ứng yêu cầu của LVĐ ngày càng
tăng. Đó chính là quá trình biến đổi, thích nghi, không ngừng nâng cao giới hạn
của các cơ quan chức phận, phù hợp với LVĐ đổi mới, duy trì trạng thái sung sức
thể thao. Bởi vì lượng vận động là mấu chốt của việc nâng cao thành tích, tất cả
các môn thể thao đều phải huy động tối đa về thể chất cũng như tinh thần.
5
Bóng ném là một trong những môn nằm ngay trong quy luật chung đó, do
những đặc điểm tập luyện và thi đấu của môn Bóng ném, ví dụ: Bóng ném là môn
thể thao thi đấu đối kháng trực tiếp giữa hai đội, mỗi đội gồm 7 người trong đó có
một thủ môn. Vì vậy thành tích thi đấu Bóng ném là hiệu quả chung của cả đội.
Hoạt động thi đấu Bóng ném là những tình huống không có chu kỳ, luôn diễn ra ở
cả hai phía cầu môn nên đòi hỏi VĐV phải có tốc độ di chuyển rất nhanh để triển
khai tấn công và phòng thủ khu vực. Vì thế VĐV phải hoạt động với cống suất
lớn trong một thời gian khá dài (mỗi trận thì đấu kéo dài tới 60 phút), hơn nữa
trong mỗi pha kết thúc để đưa bóng vào gôn đối phương VĐV phải phát huy sức
mạnh tối đa của bản thân .
Vì vậy nếu không có sự trang bị thể lực chung và chuyên môn một cách
đầy đủ thì khó có thể đạt được thành tích cao trong tập luyện và thi đấu.
1.2. Huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao hiện đại
Thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quan tâm không
kém các lĩnh vực văn hóa xã hội khác. Nhất là trong xã hội hiện đại khi mà vai trò
của TDTT ngày càng tăng, nó như là một phương tiện hữu hiệu để nâng cao sức

khỏe con người, nâng cao thành tích của các môn thể thao nói chung.
Thể thao thành tích cao thể hiện khát vọng vươn lên tới khả năng cao nhất
của con người. Vì vậy, tiềm năng của con người đã và đang được khai thác triệt
để nhằm đạt thành tích thể thao cao nhất trong các cuộc thi đấu.
Trong thi đấu bất cứ môn thể thao nào, bên cạnh các yếu tố hiểu biết, đạo
đức, ý chí, kỹ thuật và chiến thuật, thể lực là một trong những nhân tố quan trọng
nhất quyết định hiệu quả hoạt động của con người.
Qua nghiên cứu một số tài liệu ta thấy rằng trong quá trình huấn luyện thì
huấn luyện thể lực chung là nền tảng, cơ sở để huấn luyện thể lực chuyên môn.
Quá trình huấn luyện thể lực chung được trang bị một cách đầy đủ các tố
chất vận động như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và tố chất khéo léo là
nền tảng cho việc chuẩn bị thể lực chuyên môn sau này.
6
Quá trình huấn luyện thể lực phải căn cứ vào đặc điểm đối tượng, lứa tuổi
VĐV và đặc thù môn thể thao mà sử dụng các phương pháp, phương tiện phù
hợp. Có như vậy, huấn luyện thể lực mới mong đạt hiệu quả cao.
Ngày nay, trong huấn luyện thể thao hiện đại, theo tác giả Ozolin N.G thì
dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực
chung được coi là nền tảng của việc đạt thành tích thể thao cao. Hai tác giả còn
cho rằng việc huấn luyện tố chất thể lực chung phải là một quá trình liên tục,
nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo vận động viên. Tùy thuộc vào mục đích
của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng huấn luyện thể lực chung và thể lực
chuyên môn được xác định cho phù hợp.
Huấn luyện thể lực là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và
theo kế hoạch lên cơ thể VĐV. Quá trình này tác động sâu sắc tới hệ thần kinh, hệ
tim mạch, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người. Tất nhiên,
muốn có thành tích xuất sắc trong một môn thể thao nào đó, trước tiên cần phải có
tố chất thể lực phù hợp với yêu cầu chuyên môn, song không có nghĩa là coi nhẹ
các mặt khác như: kỹ - chiến thuật, tâm lý, sinh lý
Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV bao gồm: huấn luyện toàn diện thể

lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn.
+ Huấn luyện thể lực chung: Là một quá trình nhằm phát triển một cách
toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc
trưng cho một hoạt động riêng biệt nào và tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu
quả huấn luyện thể lực chuyên môn.
+ Huấn luyện thể lực chuyên môn: là quá trình giáo dục nhằm phát triển và
hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của môn thể thao
chuyên sâu. Có nhiệm vụ phát triển tối đa những năng lực đó của VĐV. Huấn
luyện thể lực chuyên môn hướng đến củng cố và nâng cao khả năng làm việc của
các cơ quan chức phận, các tố chất thể lực phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao
lựa chọn.
Huấn luyện thể lực chung là nền tảng cho nâng cao thể lực chuyên môn.
Theo quan điểm thể thao hiện đại, đó không phải là một quá trình huấn luyện
7
chung chung mà là phải xuất phát từ yêu cầu của huấn luyện thể lực chuyên môn
để lựa chọn phương tiện và phương pháp phù hợp.
Tổng hợp các ý kiến trên chứng tỏ quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn
của VĐV là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) lên
VĐV nhằm hình thành, phát triển khả năng vận động, mà biểu hiện là ở sự hoàn
thiện các chức năng thể chất (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo
léo), là ở việc nâng cao khả năng họat động của các cơ quan chức phận tương ứng
với năng lực vận động của VĐV và phù hợp với các yếu tố tâm lý đặc trưng cho
hoạt động của mỗi môn thể thao.
1.3. Xu hướng huấn luyện thể lực cho VĐV Bóng ném
1.3.1. Xu hướng huấn luyện Bóng ném hiện đại
Từ xu hướng Bóng ném hiện đại cho thấy trong công tác huấn luyện và đào
tạo vận động viên Bóng ném cần phải:
- Phải có trình độ kỹ thuật toàn diện, trình độ thể lực toàn diện, vững vàng,
cơ bản (tay, chân, mặt, thân). Huấn luyện tốt theo vị trí, dùng cách tập đối kháng
để nâng cao trình độ và giúp VĐV vận dụng được tốt kỹ thuật, nhất là chuyển tiếp

kỹ thuật lẫn nhau.
- Phải trên cơ sở trình độ thể lực toàn diện, vững vàng, đẩy mạnh năng lực
tốc độ, sức bền chuyên môn và sức mạnh, nhất là năng lực ném bóng (tại chỗ, di
động, trên mặt đất, trên không ) linh hoạt., biến hóa
- Tăng cường kỹ thuật, chiến thuật phối hợp, xử lý tốt quan hệ giữa phối
hợp chung, nhóm và cá nhân trong tình thế đối kháng là chính, cũng như trong
tình huống cá nhân vận động đơn.
- Tăng cường huấn luyện công thủ nhằm mục đích phá vỡ thế trận của đối
phương, nhất là tấn công nhanh, nhiều biến hóa là cách phòng thủ tốt nhất làm tư
tưởng chỉ đạo để từ đó phát huy lối đánh của người thấp hơn đối với người cao
hơn khiến đối thủ không theo kịp để đối phó do tốc độ biến hóa đa dạng hơn. Coi
trọng huấn luyện khi không có bóng và khi có bóng.
- Phương châm huấn luyện và biến hóa linh hoạt trên cơ sở chiều cao, tốc
độ nhanh với tâm lý linh hoạt hơn (di chuyển nhanh và suy nghĩ nhanh, phát hiện
8
quyết định giải pháp nhanh, dự phòng biến hóa ). Giáo dục tâm lý, ý chí dũng
cảm, kiên cường, chuẩn xác, điêu luyện di chuyển biến hóa nhiều, phối hợp đa
dạng để lấy nhanh khống chế cao, đánh quyết chiến linh hoạt.
1.3.2. Cơ sở khoa học của việc huấn luyện sức bền chuyền môn
1.3.2.1. Khái quát về huấn luyện sức bền
* Khái niệm sức bền và phân loại sức bền
Sức bền là năng lực của cơ thể nhằm khắc phục sự mệt mỏi trong hoạt động
vận động với thời gian kéo dài. Nếu trong tập luyện VĐV không tới mức độ mệt
mỏi thì không thể nâng cao sức bền. Mặt khác, nếu mệt mỏi kéo dài không được
liên tục sẽ làm cho năng lực vận động của cơ thể giảm sút, hạn chế sực phát triển
trình độ thể thao. Do đó trong huấn luyện thể thao phải dùng nhiều cách để hồi
phụ sức, thanh toán mệt mỏi.
Sức bền chuyên môn là năng lực hoàn thành công việc và khắc phục mệt
mỏi trong điều kiện quyết định kết quả hoạt động thi đấu ở từng môn thể thao cụ
thể. Vào năm 1977 Matveep L.P đã phân chia sức bền chuyên môn thể thao thành

sức bền chuyên môn huấn luyện và sức bền thi đấu. Sức bền chuyên môn huấn
luyện là năng lực hoàn thành tổng khối lượng và cường độ của hoạt động mang
tính chuyên môn trong quá trình huấn luyện một buổi tập, một chu kỳ nhỏ hoặc
dài hơn. Còn sức bền thi đấu là năng lực khắc phục mệt mỏi để đạt hiệu quả hoạt
động thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý trong tình huống thi đấu. Sức bền
chuyên môn là sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao. Sức bền chuyên môn
của VĐV chạy maratông khác với sức bền chuyên môn của VĐV các môn bóng.
Có nhiều cách phân loại sức bền khác nhau đối với từng môn thể thao. Dựa
trên cơ sở yêu cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP, người ta phân
loại sức bền ưa khí, yếm khí và sức bền hỗn hợp ưa - yếm khí. Dựa vào đặc điểm
vận động riêng biệt của từng môn thể thao, người ta phân loại sức bền chuyên
môn và sức bền chung.
a) Phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu cầu khác nhau về trao đổi chất
của cơ thể
9
Trong sinh lý học thể thao người ta phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu
cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP.
Mức độ dự trữ là khả năng tái tổng hợp ATP phụ thuộc vào thời gian có thể
cung cấp năng lượng của các vật chất năng lượng trong cơ thể VĐV. Cho nên
việc phân loại sức bền không những dựa vào nhu cầu khác nhau về trao đổi chất
mà còn dựa vào thời gian vận động (xem bảng 1.2).
Bảng 1.2. Mức độ dự trữ, khả năng tái tổng hợp ATP, thời gian cung cấp
năng lượng (theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn ngọc Cừ - 2003).
Các hệ thống trao đổi chất
Lượng dự
trữ
mmol.kg-D
Khả năng tái
tạo ATP
mmol.kg-D

Thời gian tối đa có
thể cung cấp năng
lượng
Cường
độ cực
hạn
Cường
độ 70%
VO
2
max
Trao đổi
chất yếm
khí
Hệ thống
phosphagene
ATP 25 100 < 1s 0.03 ,min
CP 77 6 - 8s 0.50 min
Hệ thống
Glycolyzis
Glucogene
trong cơ
365 250 2 - 3 min 6 - 9min
Trao đổi
chất ưa
khí
Glucogene trong cơ 365 13000 1 - 2 h Nhiều giờ
Lypid
(acid béo)
49 Không hạn chế Nhiều giờ

Nhiều
ngày
Trong đó:
- mmol là khối lượng phân tử gam (tính theo miligam) trong một kg trọng
lượng cơ khô.
- Đó là khả năng tái tạo ATP tính theo cơ thể VĐV có trọng lượng cơ bắp
là 20Kg; trọng lượng mỡ là 15 kg; VO
2
max 4l/,om/
a. Sức bền yếm khí: là sức bền đòi hỏi sự cung cấp năng lượng chủ yếu từ
các quá trình trao đổi chất yếm khí để thực hiện một lượng vận động với cường
độ tối đa trong khoảng thời gian ngắn từ vài giây tới 2 min nên còn gọi là sức bền
trong thời gian ngắn.
10
b. Sức bền ưa khí: là sức bền đòi hỏi cung cấp năng lượng chủ yếu từ các
quá trình trao đổi vì vậy người ta còn gọi là sức bền trong thời gian dài.
c. Sức bền hỗn hợp ưa khí và yếm khí: là sức bền đòi hỏi đầy đủ cả khả
năng ưa khí lẫn khả năng yếm khí để thực hiện một lượng vận động trong khoảng
từ 2 đến 11 min, hay còn gọi là sức bền trong thời gian trung bình.
b) Phân loại sức bền dựa trên đặc điểm vận động riêng biệt của từng
môn thể thao
+ Sức bền chuyên môn: là sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao. Sức
bền chuyên môn Bóng ném là phối hợp một cách chặt chẽ và từ đầu đến cuối,
phải kết hợp và thích ứng với tốc độ và độ linh hoạt nên trong thi đấu, thời gian
đầu thì tốc độ linh hoạt tốt sau kém dần và giảm đến tốc độ tối thiểu, đó là do thời
gian thi đấu kéo dài vỏ đại não của VĐV ở trạng thái căng thẳng kéo dài.
Bóng ném là một trong những môn mang tính đối kháng trực tiếp, mang
tính đồng đội cao, trong một trận thi đấu kéo dài tới 60 phút đòi hỏi VĐV phải
huy động toàn bộ sức lực và trí lực, vì vậy mà yêu cầu đối với sức bền chuyên
môn càng cao hơn. Người không có sức bền chuyên môn tốt thì không thể duy trì

được năng lực làm việc đến những phút cuối cùng của trận đấu và những ngày
cuối cùng của giải đấu.
Do đó phát triển sức bền chuyên môn tương ứng với người tập cũng là một
việc quan trọng để góp phần nâng cao thành tích.
Sức bền chuyên môn trong Bóng ném là sức bền tốc độ và sức bền mạnh
khả năng chống lại mệt mỏi khi hoạt động với cường độ tối đa và gần tối đa.
+ Sức bền chung: là năng lực của cơ thể nhằm chống lại mệt mỏi trong hoạt
động vận động diễn ra trong thời gian dài. Năng lực vận động này phụ thuộc chủ
yếu vào khả năng hấp thụ ôxy tối đa và khả năng cung cấp ôxy của hệ tuần hoàn,
hô hấp. Vì vậy sức bền chung được hiểu theo một nghĩa hẹp đó là sức bền ưa khí.
Sức bền chung được hiểu là năng lực hoàn thành hoạt động với cường độ
trung bình trong thời gian dài của VĐV (là hoạt động có đặc điểm ưa khí). Khi
thực hiện bài tập với cường độ trung bình, phần lớn cơ bắp của cơ thể dều tham
gia hoạt động, dù tới nay chưa có điều kiện chứng minh chính xác luận điểm này.
11
Ở một số môn thể thao cá biệt nào đó, chủ yếu dựa vào sự trao đổi chất ưa khí để
đạt thành tích thi đấu cao như đua xe đường trường, chạy cự lý trung bình, bơi cự
ly dài, trượt tuyết v.v
1.3.2.2. Cơ sở khoa học của huấn luyện sức bền chuyên môn trong Bóng ném
Bóng ném là một trong những môn mang tính đối kháng trực tiếp, mang
tính dồng đội cao, trong một trận thi đấu kéo dài tới 60 phút đòi hỏi VĐV phải
huy động toàn bọ sức lực và trí lực, vì vậy mà yêu cấu đối với sức bền chuyên
môn càng cao hơn.
Vì vậy người không có sức bền chuyên môn tố thì không thể duy trì được
năng lực làm việc đến những phút cuối cùng của trận đấu và những ngày cuối
cùng của giải đấu.
Qua quan sát giải Bóng ném trẻ toàn quốc 2009 và 2010 vừa qua chúng tôi
nhận thấy sức bền chuyên môn của các đội tuyển Bóng ném là chưa tốt nên những
trận đấu đó trong những thời gian cuối thì động tác ném bóng chậm, chuyên bóng,
bắt bóng, di chuyên thiếu chính xác, ném bóng cầu môn hỏng nhiều ảnh hưởng rất

lớn đến kết quả thi đấu.
Do đó phát triển sức bền chuyên môn tương ứng với người tập cũng là một
việc quan trọng để góp phần nâng cao thành tích.
Sức bền chuyên môn trong Bóng ném là phối hợp một cách chặt chẽ và từ
đầu đến cuối, phải kết hợp và thích ứng với tốc độ và độ linh hoạt nên trong thi
đấu thời gian đầu thì tốc độ linh hoạt tốt sau kém dần và giảm đến tốc độ tối thiểu,
đó là do thời gian thi đấu kéo dài vỏ đại não của VĐV ở trạng thái căng thẳng kéo
dài.
Sức bền chuyên môn trong Bóng ném là sức bền tốc độ và sức bền mạnh
khả năng chống lại mệt mỏi khi hoạt động với cường độ tối đa và gần tối đa.
1.3.3. Đặc điểm sức bền chuyên môn của nữ VĐV Bóng ném
Đề tài này chúng tối nghiên cứu nhằm mục đích huấn luyện và phát triển
sức bền chuyên môn cho nữ VĐV Bóng ném, tạo tiền đề cơ sở cho việc hoàn
thiện các yêu cầu kỹ thuật trong thi đấu Bóng ném từ đó giúp cho các VĐV thi
12
đấu tốt hơn, các trận đấu căng thẳng hơn, thì đấu hay hơn, và thu hút được nhiều
người tham gia tập luyện môn này. Bóng ném làm một môn thể thao thi đấu có
tình đối kháng trực tiếp, tình huống diễn ra trên sân rất nhanh và luân phiên, liên
tục ở cả hai phía cầu môn. Trong thời gian thi đấu kéo dài 60 phút (hai hiệp) phải
duy trì một loạt các hoạt động vận động liên tục và chính xác là rất khó khăn đối
với VĐV Bóng ném, đặc biệt là đối với nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành
phố Hà Nội (vì sức bền chuyên môn của các VĐV đã bị giảm sút rất nhiều). Do
đó muốn cơ thể chịu được lượng vận động trên thì mỗi VĐV phải tự rèn luyện
mình để có được thể lực dồi dào, trong đó sức bền chuyên môn là một trong
những tố chất cơ bản quan trọng và rất cần thiết. Trong một trận đấu người có sức
bền chung và chuyên môn tốt sẽ duy trì được năng lực hoạt động đạt hiệu quả cao
nhất trong suốt thời gian diễn ra của trận đấu, thực hiện các động tác kỹ thuật
chính xác, phòng thủ chắc chắn, không bị giảm sút thể lực ở cuối trận đấu cũng
như hiệp đấu. Ngoài ra người có sức bền chung và chuyên môn tốt sẽ luôn nắm
được các tình huống diễn ra trên sân, cục diện trận đấu, luôn giữ được thế chủ

động và liên hệ thường xuyên với các thành viên khác trong đội của mình, luôn
đảm bảo miếng phối hợp một cách chính xác cùng đồng đội tạo ra nhiều cơ hội để
vươn lên chiếm ưu thế.
Trong tập luyện, huấn luyện việc phát triển các tố chất thể lực có ý nghĩa
rất quan trọng, bởi trong một trận đấu thời gian thi đấu tương đối dài mặt khác,
trong một giải đấu không chỉ diễn ra một hoặc hai trận mà nó kéo dài rất nhiều
trận, trong nhiều ngày. Do đó, tránh sự giảm sút về thể lực nói chung và về sức
bền chuyên môn nói riêng cho VĐV Bóng ném là một điều rất quan trọng, chính
vì vậy việc nâng cao khả năng hồi phục sau trận đấu đòi hỏi phải được tiến hành
hằng ngày và có hệ thống thì mới mang lại hiệu quả tối ưu.
Tuy nhiên do đặc điểm giải phẫu của VĐV cũng như những chức năng cơ
thể khác nhau và điều kiện tập luyện cho nên trong tập luyện và thi đấu Bóng ném
còn nhiều hạn chế về các tố chất thể lực đặc biệt là tố chất sức bền chuyên môn.
13
Sức bền chuyên môn mà VĐV Bóng ném đòi hỏi là sức bền chuyên môn có
cường độ thay đổi, là sự kết hợp chặt chẽ mang tính chuyên môn giữa tốc độ và
linh hoạt.
Vì vậy để có một thể lực tốt cho VĐV bóng ném thì nhất thiết phải có các
cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo cho việc tập luyện cùng với các phương
pháp, phương tiện huấn luyện tối ưu, sự tận tụy của HLV, giáo viên đặc biệt là ý
thức tập luyện tự giác tích cực của VĐV.
1.4. Một số quan điểm và công trình nghiên cứu về sức bền
Ngày nay trong lý luận thể thao cũng như trong lý thuyết của từng môn thể
thao riêng biệt vẫn còn chưa có sự nhất quán về khái niệm một tố chất thể lực
quan trọng đó là sức bền.
Trong huấn luyện thể thao, sức bền là một trong 5 tố chất thể lực cần thiết
để nâng cao thành tích thể thao. Trong quá trình nghiên cứu về sức bền, các nhà
khoa học cũng đưa ra các quan điểm khác nhau:
Theo Giinter Schnabel: Sức bền là tố chất thể lực chống mệt mỏi trong
lượng vận động thể thao.

- Theo Matvêep: Sức bền là cơ sở khả năng đối kháng của VĐV khi thực
hiện LVĐ mà thời gian kéo dài.
- Theo V.X. Pharophen: Sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi, chịu
đựng được cảm giác mệt mỏi, duy trì được năng lực mặc dù bị mệt mỏi.
- Theo A.N GnextopnhiCop: Sức bền là khả năng hoạt động trong thời
gian dài.
- Theo GS. PTS Trịnh Trung Hiếu và TS. Nguyễn Sỹ Hà: Sức bền là năng
lực chịu đựng của cơ thể hoạt động trong thời gian dài và chống lại mệt mỏi.
- Còn Dietreh Hare lại cho rằng; Sức bền là khả năng chống cự lại mệt
mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV.
Tác phẩm lý luận và phương pháp giáo dục thể chất của A.Novicop và
Matvêép (1980) đã được đúc kết từ thực tiễn, các tác giả đã dành một chương
trình lớn cho huấn luyện thể lực trong đó có huấn luyện sức bền: “ Sức bền là khả
14
năng chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó”. Sức bền được chia làm 3
loại đó là: Sức bền chung, sức bền chuyên môn và sức bền cục bộ.
“Sức bền chung là sức bền trong một hoạt động nào đó kéo dài với
cường độ trung bình và có khoảng 2/3 nhóm cơ tham gia hoạt động trở xuống,
loại sức bền này không đòi hỏi tuần hoàn và hô hấp phải hoạt động tối đa”.
Ví dụ: Đứng lên ngỗi xuống bằng một chân hay kéo xà đơn, mệt mỏi của
hoạt động này diễn ra ở nhóm cơ trực tiếp tham gia vào hoạt động.
“ Sức bền chuyên môn là sức bền mang tính chuyên nghề nghiệp, sức bền
đặc trưng cho môn thể thao chuyên sâu nhất định”.
Từ những phân tích trên đã hình thành những bài tập huấn luyện sức bền
chung và sức bền chuyên môn.
A.Novicop và Mátvêép đã khẳng định, để huấn luyện sức bền LVĐ được
xác định đầy đủ nhờ 5 nhân tố sau đây:
1. Cường độ tuyệt đối của bài tập
2. Thời gian thực hiện bài tập
3. Thời gian nghỉ giữa quãng.

4. Tính chất nghỉ ngơi.
5. Số lần lặp lại.
Đối với các môn bóng và tiêu biểu như môn Bóng ném thì khả năng ưa khí
và yếm khí đều rất quan trọng trong huấn luyện sức bền, trong thời gian hoạt động
căng thẳng với cường độ vận động cao, hoạt động chủ yếu nhờ nguồn cung cấp
năng lượng yếm khí và ưa khí.
Quan điểm của tác giả Phạm Danh Tốn và cộng sự trong tác phẩm “ Lý
luận và phương pháp thể dục thể thao” (1993) hoàn toàn thống nhất với các tác
giả trên, song ông đã khái quát hai nhân tố quyết định sức bền đó là:
1. Sức bền phụ thuộc vào khả năng chức phận, hoạt động của các
cơ quan tuần hoàn, hô hấp, thần kinh.
2. Khả năng ổn định nội môi và phản ứng cơ thể, quá trình giáo dục
huấn luyện sức bền là quá trình hoàn thiện các nhân tố đó nhưng không phải là
15
nhân tố nào cũng chịu sự tác động của tập luyện. Các nhân tố được hình thành
một cách ngẫu nhiên.
Quá trình huấn luyện sức bền là quá trình hoàn thiện cơ chế cung cấp năng
lượng, hoàn thiện cơ chế biến đổi thích nghi dưới tác động của LVĐ ngày càng
tăng.
Theo quan điểm sinh lý học TDTT, sức bền đặc trưng cho những hoạt động
tâm lý kéo dài từ 2 đến 3 phút trở lên với sự tham gia hoạt động của một khối
lượng lớn các nhóm cơ tham gia.
Nguồn năng lượng chính cho sự co cơ trong vận động đó là 3 hệ:
1. Hệ phôtphagen
2. Hệ lactác
3. Hệ oxyhóa
Trong đó (1+2) là hệ yếm khí, 3 là hệ ưa khí, như vậy việc vận dụng các
phương pháp huấn luyện đều tập trung vào giải quyết nhiệm vụ là nâng cao khả
năng hấp thụ ôxy tối đa của cơ thể. Khả năng duy trì lâu dài mức hấp thụ ôxy tối
đa của một người quyết định khả năng làm việc trong điều kiện ưa khí của họ

(VO
2
max càng cao thì công suất hoạt động tối đa càng lớn).
Từ phân tích quan điểm về huấn luyện sức bền và các phương pháp huấn
luyện của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Cơ sở khoa học của huấn luyện sức bền chung là nâng cao khả năng hấp
thụ oxy tối đa của cơ thể và duy trì mức hấp thụ đó trong thời gian dài. Quá trình
huấn luyện là sự phối hợp tổ hợp các phương pháp huấn luyện một cách khoa học
và nắm vững đặc điểm lứa tuổi giới tính nhằm nâng cao hoạt động thể lực.
Mấu chốt của tập luyện sức bền là phải khắc phục đuợc mệt mỏi trong quá
trình tập luyện, vì vậy phải thường xuyên giáo dục đạo đức, ý chí cho người tập.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý của VĐV
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện để đạt hiệu quả tốt thì người giáo
viên và huấn luyện viên phải nắm chắc các đặc điểm về tâm, sinh lý của lứa tuổi
từ đó mà áp dụng các phương pháp và các phương tiện tập luyện sao cho phù hợp
với trình độ, lứa tuổi, giới tính và trạng thái sức khỏe, đó cũng là một trong các
16
nhân tố quan trọng để tác động bài tập thể chất lên cơ thể con người. Vì nói đến
bài tập thể chất là nói đến LVĐ, mà LVĐ bao gồm cường độ và khối lượng sẽ tác
động trực tiếp lên cơ thể người tập, muốn có thành tích cao thì LVĐ là mấu chốt
của việc nâng cao thành tích, cho nên việc hiểu và nắm rõ đặc điểm tâm, sinh lý
lứa tuổi là diều không thể thiếu được. Cơ thể con người là một khối thống nhất
hoàn chỉnh, bất cứ một sự tác động nào cũng gây nên sự biến đổi trong cơ thể cho
nên phải xác định mức độ vừa với người tập. Lượng vận động vừa sức là LVĐ
không dễ quá mà cũng không khó quá nhưng người tập phải có sự khắc phục của
ý chí để hoàn thành bài tập thì mới gọi là LVĐ vừa sức. Để biết được LVĐ phù
hợp với các đặc điểm trên hay không thì thường xuyên còn phải có sự kiểm tra y
học và kiểm tra sức khỏe của bác sỹ, trên cơ sở đó mà điều chỉnh các phương
pháp tập luyện sao cho phù hợp mà không ảnh hưởng tới sức khỏe của người tập.
1.5.1. Đặc điểm về tâm lý

Trong tâm lý học lứa tuổi định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển
bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn.
Những đặc điểm tâm lý của hoạt động thanh niên lứa tuổi 16-18.
Tâm lý học Mácxít cho rằng cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cách
phù hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lý xã hội học với việc tính đến những quy
luật bên trong của sự phát triển đó là vấn đề phức hợp và khó khăn. Bởi vì, không
phải lúc nào nhịp độ các giai đoạn phát triển của sự phát triển tâm lý cũng trùng
hợp với các giai đoạn trưởng thành về mặt xã hội. Theo tác giả Phạm Ngọc Viễn:
“ Sự bắt đầu trưởng thành của một con người như là một cá thể, một nhân cách,
một chủ thể nhận thức và một chủ thể lao động là không trùng hợp nhau về thời
gian”.
Đặc điểm của sự phát triển về trí tuệ: Trí giác có mục đích đã đặt ở một
mức độ cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. ở lứa
tuổi này ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời
vai trò của ghi nhớ lôgic, trừu tượng ngày một tăng rõ rệt đặc biệt các em đã đạt
được tâm thế trong ghi nhớ.
17
Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, tư duy của
các em chặt chẽ hơn, có căn cứ hơn và nhất quán hơn. Đây là cơ sở để hình thành
thế giới quan.
Sự phát triển ý thức:
Sự phát triển tự ý thức là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của
thanh niên trong giai đoạn này. Đặc điểm quan trọng là sự tự ý thức của lứa tuổi
này nó xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, hoạt động, địa vị trong xã hội, mối
quan hệ với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được nhân cách của
mình. Các em không chỉ nhận thức được cái tôi của mình trong hiện tại mà còn
nhận thức đuợc vị trí của mình trong xã hội tương lai. Các em có được phẩm chất
nhân cách bộc lộ rõ trong lao động, biết yêu lao động, có tính cần cù, dũng cảm,
tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, ý chí cao, biết khắc phục những khó khăn để
đạt được mục đích của mình đã định, đây chính là đặc điểm thuận lợi cho việc rèn

luyện các tố chất thể lực. Không những họ biết đánh giá hành vi của mình mà còn
biết đánh giá những phẩm chất, mạnh, yếu của người khác.
Sự hình thành thế giới quan.
Ở lứa tuổi này sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên,
xã hội về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử những điều đó được ý thức vào các
hình thức tiêu chuẩn, nguyên tắc, hành vi xác định, vào một hệ thống hoàn chỉnh.
1.5.2. Đặc điểm về sinh lý
Hệ xương: Xương cơ khớp đã phát triển ở mức độ cao có thể chịu được
LVĐ lớn. Tuy nhiên xương xốp hơn, lỗ tủy rỗng, bắp thịt còn yếu và nhỏ, xương
chậu to và yếu nên khi bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm
trong khung chậu như dạ con, buồng trứng
Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy, phân
tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho
việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra do hoạt động mạnh của tuyến giáp,
tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho quá trình hứng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu
thế. Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng, ảnh hưởng đến họat động thể lực
cho nên phải sử dụng các bài tập sao cho phù hợp.
18
Hệ cơ: Riêng cơ bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) các cơ co
phát triển sớm hơn cơ duỗi vì vậy sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh là hợp
lý nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các
loại cơ.
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện mạch đập của nữ vào khoảng 70 -75
lần/phút, nữ 75 - 80 lần/ phút. Sau vận động, mạch và huyết áp hồi phục tương đối
nhanh cho nên phù hợp với các bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối
lượng và cường độ tương đối lớn.
Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện vòng ngực trung bình nữ 69 - 74 cm, diện tích
tiếp xúc của phổi khoảng 100 - 120 cm
2
, dung lượng phổi khoảng 3 - 4 lít, tần số

hô hấp 10 - 20 lần/phút ; vì vậy các bài tập phát triển sức bền rất phù hợp với lứa
tuổi này.
Đây là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc hoàn thiện các tố chất thể lực. Do
sức mạnh cơ bắp và sức bền đã được phát triển rất lớn, khả năng phối hợp vận
động tốt lên rõ rệt vì vậy ở tuổi này có thể áp dụng tất cả các bài tập dùng sức
mạnh và sức bền; tham gia tập luyện và thi đấu tất cả các môn thể thao rất tốt.
Tất cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho ta áp dụng các phương
tiện và phương pháp tập luyện để giáo dục các tố chất thể lực. Sự phát triển của
các tố chất thể lực theo lứa tuổi, quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể
lực luôn có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành các kỹ năng vận động và mức độ
phát triển của cơ quan và hệ cơ của cơ thể.
Tóm lại từ những đặc điểm về tâm sinh lý nói trên, đây là thời kỳ phát triển
mạnh mẽ nhất về thể chất và tinh thần, giai đoạn thuận lợi cho việc hình thành các
kỹ năng, kỹ xảo và việc hình thành các tố chất thể lực cho lứa tuổi này. Các điều
kiện thuận lợi về mặt sinh lý đó là sự phát triển hoàn thiện toàn bộ các hệ thống
chức năng của cơ thể. Về mặt tâm lý đặc điểm nổi bật là sự nhận thức được vai trò
và địa vị của mình trong xã hội, nhận thức được nghề nghiệp mình đã lựa chọn từ
đó các em có được sự nỗ lực rèn luyện ý chí, khắc phục khó khăn để đạt được
mục đích của mình đã định, đây cũng là phẩm chất tâm lý quan trọng nhất để khắc
phục mệt mỏi trong giáo dục sức bền.
19
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
2.1.1. Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Mục đích tìm đọc các tài liệu, sách, báo để tìm hiểu đặc điểm, các chỉ số
đánh giá, các nguyên tắc, các phương pháp huấn luyện SBCM trong quá trình
hoạt động TDTT, các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu giúp chúng tôi

tìm hiểu sâu hơn về tình hình phát triển của TDTT nói chung và môn Bóng ném
nói riêng. Từ đó, cho phép đánh giá thực tế công tác huấn luyện và thực trạng của
nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu phỏng vấn đối với
cán bộ giáo viên, huấn luyện viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy và
huấn luyện TDTT để lựa chọn hệ thống bài tập tốt nhất nhằm tăng sức bền chuyên
môn cho nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội
2.1.3.Phương pháp quan sát sư phạm
Đề tài tiến hành quan sát quá trình tập luyện trong những buổi tập của nữ
VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội để từ đó có căn cứ đánh giá
thực trạng công tác huấn luyện SBCM, đồng thời tiến hành quan sát quá trình thi
đấu giải của các VĐV trong các giải toàn quốc từ đó đánh giá thực trạng SBCM
của đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
20
2.1.4.Phương pháp kiểm tra sư phạm
Đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm nghiệm, đánh giá, tìm hiểu tính
hiệu quả trong quá trình thực nghiệm các bài tập vào thực tế, nhằm giáo dục
SBCM cho đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
Các test mà đề tài đã sử dụng bao gồm các test sau:
Test 1: Dẫn bóng zích zắc 200m .
+ Mục đích: Hoàn thiện khả năng dẫn bóng phát triển sức bền chuyên môn.
+ Yêu cầu: Dẫn bóng đúng kỹ thuật, tốc độ gần tối đa.
+ Phương pháp tiến hành: Cầm bóng ở tư thế xuất phát nghe hiệu còi và
dẫn bóng .
+ Số lần thực hiện: 5 lần.
+ Quãng nghỉ: sau mỗi lần 30 s.
Test 2: Bài tập tổng hợp x 5 lần (s).
+ Mục đích: Đánh giá SBCM cho VĐV.
+ Yêu cầu: Bật tích cực, bật cao ném bóng trong vạch 9m.

+ Phương pháp tiến hành: Người tập từ vạch xuất phát dẫn bóng luồn qua 3
cọc, ném bóng vào gôn, chạy về chạm tay vào cầu môn và di chuyển lên vạch 9 m
nhận bóng, dẫn bóng về phía cầu môn bên kia và bật cao ném bóng vào cầu môn
trong vạch 9m.
+ Số lần lặp lại: 5 lần
+ Quãng nghỉ: giảm dần, lần thứ nhất nghỉ 45s, lần thứ 2 nghỉ 30s, lần thứ 3
nghỉ 20s. Hình 3.1.
Test 3: Ném bóng vào ô trên tường với khoảng cách 4m x 5 tổ.
Tính số lần đạt được trong vòng 2 phút, thời gian nghỉ là 30”.
+ Mục đích: Phát triển SBCM.
+ Yêu cầu: Ném nhanh và chính xác.
+ Phương pháp tiến hành: VĐV cầm bóng, đứng trước bờ tường cách ô quy
định 4m. Nghe còi thì ném liên tục vào tường.
+ Đánh giá: Tính số lần đạt được trong vòng 2 phút x 5 tổ.
2.1.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
21
Sau khi đã lựa chọn được các bài tập phát triển SBCM và xây dựng kế
hoạch huấn luyện đề tài tiến hành nghiên cứu ứng dụng các bài tập đã lựa chọn
trên đối tượng là đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội. Việc
tổ chức thực nghiệm được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm so sánh song
song và phương pháp tự đối chiếu.
2.1.6.Phương pháp toán học thống kê
Để phân tích và xử lý số liệu đã thu thập được một cách chính xác và toàn
diện đề tài đã sử dụng một số các công thức toán học thống kê sau:
- Tính trung bình cộng: x =
n
x
i

- Tính phương sai:

1
)(
2
2


=

n
xx
i
σ
(n < 30)
- Tính độ lệch chuẩn:
2
δσ
=
(n < 30)
- So sánh hai số trung bình mẫu bé:
2
2
1
2
21
nn
xx
t
cc
σσ



=
(n < 30)
-
2
)()(
21
2
2
2
2
1
1
2
−+
−+−
=
∑ ∑
nn
xxxx
c
σ
- Tính hệ số tương quan:
∑ ∑

−−
−−
=
22
)()(

))((
yyxx
yyxx
r
(n < 30)
- Thang độ C: C = 5 + 2z
- Trong đó z =
σ
xx
i

x
i
: Là giá trị cần tìm ứng với điểm 0 - 10 của C
x: Là giá trị trung bình của tập hợp
σ: Là độ lệch chuẩn
2.2.Tổ chức nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu
22
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2010 đến 04/2011và được chia làm
3 các giai đoạn nghiên cứu sau:
* Giai đoạn 1: Tháng 03- 04/ 2010, xác định vấn đề nghiên cứu, lập đề
cương và kế hoạch nghiên cứu, bảo vệ đề cương nghiên cứu.
* Giai đoạn 2: Tháng 05/2009 - 01/2011, tiến hành thu thập các tài liệu có
liên quan viết tổng quan của luận văn và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài.
* Giai đoạn 3: Tháng 02- 04/2011, hoàn thiện luận văn nghiên cứu, chuẩn
bị và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước hội đồng khoa học nhà trường.
2 Chương 3
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1.Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của đội tuyển Bóng ném nữ lứa
tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội.
Để đánh giá chính xác thực trạng sức bền chuyên môn cho nữ VĐV Bóng
ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội, đề tài nghiên cứu các vấn đề:
3.1.1. Đánh giá chương trình huấn luyện sức bền chuyên môn cho đội tuyển
Bóng ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội
Chương trình huấn luyện cho đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành
phố Hà Nội là đối tượng huấn luyện có mục đích, có trình độ cơ sở tương đối
đồng đều. Do đặc thù môn thể thao nên các VĐV được tuyển chọn kỹ ngay từ khi
còn là học sinh, do vậy việc học tập văn hóa đan xen giữa các giờ tập luyện. Sự
phân bố được tính toán một cách khoa học hợp lý, tạo cho vận động viên cảm giác
không quá mệt mỏi do lượng vận động kéo dài hay quá căng thẳng do các môn lý
thuyết đem lại. Đây là một điều kiện đảm bảo cho VĐV có thể hoàn thành tốt các
nhiệm vụ tập luyện trong từng giai đoạn.
Trong hoạt động thể dục thể thao hiện đại, ngoài việc hoàn thiện và nâng
cao tính chiến thuật thì thể lực là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt
động đó. Vì vậy, huấn luyện thể lực trong Bóng ném là rất quan trọng và cần
thiết. Trong thực tế tố chất thể lực được chia thành sức nhanh- sức mạnh- sức
bền- mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động, các tố chất này có liên quan mật
23
thiết với nhau trong quá trình tập luyện và thi đấu. Để có được thể lực tốt việc
phát triển đồng đều các tố chất đó là vô cùng quan trọng. Trong cấu trúc của một
buổi tập thì các bài tập mang tính giáo dục sức nhanh được đưa lên hàng đầu của
mỗi buổi tập và các bài tập này được duy trì trong suốt quá trình tập luyện nhưng
hình thức phải có sự thay đổi để tạo cảm giác hứng thú, hưng phấn trong quá trình
tập luyện. Còn các bài tập phát triển sức mạnh và sức bền thường được diễn ra
trong cuối buổi tập, khi đã tập các bài tập phát triển sức nhanh. Tất cả các tố chất
thể lực phải luôn được tập luyện một cách liên tục trong cả quá trình học tập của
các VĐV, đặc biệt là sức bền chuyên môn được quan tâm phát triển do đặc thù
của môn Bóng ném.

Vì vậy, trong quá trình tập luyện ở mỗi buổi tập với thời gian ít ỏi như vậy
đòi hỏi VĐV còn phải có sự nỗ lực cao của bản thân, ý thức tự giác trong tập
luyện và ngoại khóa thêm bằng nhiều phương pháp khác. Đồng thời huấn luyện
viên, giáo viên phải có hệ thống các bài tập hợp lý, phải giáo dục cho VĐV hiểu
được mục đích, yêu cầu của bài tập và tính toán đến lượng vận động, nghỉ ngơi
hợp lý, để phát triển sức bền chuyên môn cho các vận động viên đạt hiệu quả cao
nhất.
Để tìm hiểu thực trạng huấn luyện SBCM của đội tuyển Bóng ném nữ lứa
tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội. Đề tài đã tiến hành quan sát trực tiếp để tìm hiểu
nội dung chương trình huấn luyện của đội. Kết quả khảo sát chương trình huấn
luyện chuyên môn cho VĐV qua 144 giáo án ở bảng 3.1.
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát chương trình huấn luyện của đội tuyển
Bóng ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội
TT Nội dung Số lượng Thời lượng
n
Tỷ lệ
%
Phút
Tỷ lệ
%
1 Sứcnhanh 32 22.2 30 15.0 Đầu buổi tập
2
Sức mạnh

32 22.2 30 15.0 Cuối buổi tập
Sức bền SB chung 15 10.4 20 10.0 Cuối buổi tập
SB
chuyên
10 6.9 15 7.5 Cuối buổi tập
24

3
môn
SB tốc độ 12 8.3 30 15.0 Đầu buổi tập
4 Mềm dẻo 8 5.6 30 15.0 Cuối buổi tập
5
Khả năng phối hợp
vận động
35 24.3 45 22.5 Giữa buổi tập
Tổng 144 200
Qua bảng 3.1. cho thấy kế hoạch huấn luyện của đội tuyển Bóng ném nữ
lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội như sau:
- Huấn luyện sức nhanh: 22,2%.
- Huấn luyện sức mạnh: 22,2%
- Huấn luyện sức bền: 25,6 %
- Huấn luyện mềm dẻo: 5.6 %
- Huấn luyện khả năng phối hợp vận động: 24.3%
- Trong khi đó thời gian huấn luyện sức bền chuyên môn là 6.9 % chiếm
26,95 % tổng số giáo án huấn luyện sức bền.
- Tổng giáo án huấn luyện: 144 giáo án
- Thời lượng huấn luyện sức bền chuyên môn: Trung bình mỗi giáo án là
15 phút.
- Thời điểm huấn luyện sức bền chuyên môn: Vào cuối buổi tập của các
buổi chiều.
3.1.2.Kết quả lựa chọn Test đánh giá SBCM của đội tuyển Bóng ném nữ lứa
tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội
Để đánh giá chính xác thực trạng SBCM của đội tuyển Bóng ném nữ lứa
tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội, đề tài tiến hành lựa chọn các Test đánh giá. Để
giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài chúng tôi đã tiến hành đọc và phân tích tài
liệu chuyên môn. Kết quả tham khảo đã thu được 6 Test được nhiều nhà chuyên
môn sử dụng để đánh giá sức bền chuyên môn cho VĐV Bóng ném. Các Test

được lựa chọn bước đầu cũng phù hợp với điều kiện thực tiễn của đội tuyển Bóng
ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội. Tuy nhiên để tăng tính khách quan và
độ tin cậy của các Test đề tài đã tiến hành tham khảo ý kiến chuyên giá thông qua
25

×