Tải bản đầy đủ (.docx) (78 trang)

Khoá luận tốt nghiệp đa dạng sinh học côn trùng nước ở đai cao 0 600m thuộc địa phận vườn quốc gia tam đảo, huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (858.46 KB, 78 trang )

TRƯỜNG ĐAI HOC sư PHAM HÀ NÔI 2 • • • •
KHOA SINH - KTNN

TRẦN THỊ LỤA

ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC Ở
ĐAI CAO 0 - 600M THUỘC ĐỊA PHẬN
VƯỜN QUÓC GIA TAM ĐẢO, HUYỆN TAM
ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
=====***=====

TRẦN THỊ LỤA

ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC Ở
ĐAI CAO 0 - 600M THUỘC ĐỊA PHẬN
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, HUYỆN TAM
ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

Ngưòi hướng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Văn Hiếu


Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS. Nguyễn Văn Hiếu,
cán bộ giảng dạy tổ Động vật, khoa Sinh- KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà


Nội 2, đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời
gian tôi thực hiện đề tài này.

LỜI CẢM

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, cán bộ
nghiên cứu đang công tác tại tổ Động vật, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong
quá trình nghiên cứu khoa học và làm thực nghiệm tại bộ môn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè, thầy
cô những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suổt quá trình học tập và
nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, tháng 5 năm 2015 Sinh viên

Trần Thị Lụa


Tôi xin cam đoan : Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Văn
Hiếu.

LỜI CẢM

Các số liệu, những nghiên cứu được trình bày ữong luận văn này trung
thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Xuân Hòa, tháng 5 năm 2015 Sinh viên

Trần Thị Lụa



LỜI CẢM


MỤC LỤC
Lời cảm ơn Lời
cam đoan Danh
mục các bảng
Danh mục các
hình

PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Côn trùng nước có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vực cả
nước đứng cũng như nước chảy .Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật
này đều có những đặc tính thích nghi phù họp. So với nhiều nhóm sinh vật
khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá
thể lớn.. ,,đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới
thức ăn. Các loài côn trùng nước là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng
thòi lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xương sống.
Bên cạnh việc đóng vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh
thái thủy vực và là càu nối mật thiết với con người, một số loài côn trùng nước
lại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh. Chính vì vậy côn trùng nước là
đối tượng được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên
cứu.
Vườn quốc gia (VQG) Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh VTnh Phúc có hệ

thống suối phong phú, đa dạng là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát
triển của nhóm côn trùng nước. Các nghiên cứu về nhóm sinh vật này ở VQG
Tam Đảo đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên,
các nghiên cứu ở đai cao 0- 600m còn ít và tản mạn. Vì vậy, để góp phần tìm
hiểu nhóm sinh yật ý nghĩa này, chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu
“ĐADẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC Ở ĐAI CAO 0 - 600M THUỘC ĐỊA
PHẬN VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC”.

2. Muc đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học côn
trùng nước và sự phân bố của côn trùng nước theo mùa và theo tính chất của


thủy yực ở đai cao 0- 600m thuộc địa phận Vườn quốc gia Tam Đảo, huyện
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1.

Ỷ nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu đa dạng sinh học về loài của nhóm côn

trùng nước và sự phân bố của chúng theo mùa và theo tính chất của thủy vực ở
đai cao 0-600mVườn quốc gia Tam Đảo.
3.2.

Ỷ nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục
vụ cho việc nghiên cứu về côn trùng nước sau này ở đai
cao 0- 600m nói riêngcũng như Vườn quốc gia Tam Đảo,

huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung .

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu
1.1.

Tình hình nghiền cứu côn trùng nước trên thế giói

Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới,
đặc biệt ở những nước phát triển. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại
học (Eaton, 1871, 1883-1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975;
Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972 ;
McCafferty, 1991)đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984). Nhiều
nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người như ruồi,
muỗi...Chúng là tác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và
động vật. Vì vậy mà từ rất sớm, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu
đến các loài côn trùng này như: Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và
Cummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [27].


Các loài côn trùng nước rất nhạy cảm với môi trường, nhiều loài trong
số chúng là sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước. Sang những năm
1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về
sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Bames và Minshall, 1983) [27].
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố
hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.
(1983), John C.M., Yang Lianfang and Tian Lixin (1994), Merritt R. w. and
Cummins K. w. (1996),... Các nghiên cứu này đã đưa ra khóa định loại tới
giống, thậm chí tới loài côn trùng nước dựa vào hình thái con trưởng thành và
ấu trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng dụng của chúng

trong sinh thái học.
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du (Ephemeroptera) được xếp vào nhổm côn trùng có cánh cổ
sinh, những bằng chứng về hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc
kỷ Cacbon và kỷ Pecmơ trong đại cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm).
Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm. Nhà tự nhiên học nổi tiếng
Lineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu y à xếp chúng vào
một nhóm, ông đặt tên là Ephemera. Có thể xem đây là công trình đầu tiên đặt
nền móng cho các nghiên cứu về Phù du sau này[31].
Vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892)đã công bố hàng
loạt các công trình nghiên cứu về Phù du của mình, đặc biệt là công trình “A
monograph on the Ephemeridae” được công bố năm 1871. Công trình đã cung
cấp những kiến thức cơ bản về bộ Phù du. Nghiên cứu đã mô tả các đặc điểm
về mặt hình thái của giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, những kiến thức này
rất hữu ích cho việc xây dựng khóa định loại đến các họ và giống của bộ Phù
du [31].


Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển
hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),
Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự
(1935). Edmunds (1962), đã xây dựng hệ thống phân loại đến họ thuộc bộ Phù
du ữên toàn thế giới. Ông đã đưa ra một bức tranh tổng thể về khóa phân loại
bậc cao cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du.. Me Cafferty và Edmunds
(1973),đã bổ sung những dẫn liệu mói và chỉnh lý khóa phân loại cho phù hợp
với thực tế nghiên cứu đòi hỏi [26].
Đến năm 1990, toàn thế giới đã xác định được khoảng 2.000 loài Phù du
thuộc 317 giống (trong đó có 61 giống đã hoá thạch) của 26 họ khác nhau .
Tuy nhiên, những con số này chưa phản ánh hết mức độ đa dạng của Phù du vì
còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chưa được khám phá hết, nhất là các khu

vực nhiệt đới [26].
Ulmer (1939), đã mô tả một số lượng lớn các loài Phù du ở đảo Sudan
(Indonesia), tài liệu này rất cần thiết cho việc nghiên cứu khu hệ Phù du ở
vùng Đông Nam Á.Tiếp sau đó, Gose (1985) tiến hành xây dựng khóa định
loại ấu trùng Phù du ở Nhật Bản.Trong những thập niên 90 của thế kỷ XX, Bae
và cộng sự (1994), Bae & Yoon (1997) đã hoàn thành danh lục Phù du ở Hàn
Quốc [31].
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc
18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffrty, 1991; McCaffrty & Wang,
1997, 2000; Dudgeon, 1999). Hiện nay,hướng nghiên cứu tập trung vào các
vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồn các loài cũng như các nghiên cứu ứng
dụng của Phù du vào thực tiễn [31].
Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại của Phù du,
nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau liên
quan đến nhóm côn trùng nước này như: Sinh thái học, Địa động vật. Các kết


quả nghiên cứu về Địa động vật cho thấy các loài thuộc bộ Phù du ưa sống ở
những nơi nước chảy với hàm lượng oxy hòa tan ừong nước cao, cấu trúc nền
đáy của các thủy vực giữ vai trò quan trọng, quyết định đến thành phàn loài
Phù du. Mặt khác, sự phân bố của Phù du còn phụ thuộc vào độ cao, độ che
phủ của rừng.
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Bộ Chuồn chuồn (Odonata) là bộ côn trùng có kích thước cơ thể lớn,
vòng đòi của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành.
Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí
hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn. Cả giai đoạn thiếu trùng và trưởng
thành đều ăn thịt. Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ
Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera
(Chuồn chuồn ngô) [28].

Trước kia, các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn chủ yếu tập trung
mô tả hình dạng và đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu thập được ở châu
Á và châu Âu nhằm xây dựng khóa định loại. Điển hình cho các công trình
nghiên cứu này là: Needham (1930), Fraser (1933, 1934, 1936), Askew (1988),
Zhao (1990), Hisore & Itoh (1993), Wilson (1955). Watson (1991), nghiên cứu
khu hệ chuồn chuồn ở úc. Các công trình nghiên cứu về Sinh học và Sinh thái
học của Corbet(1980), Hutchinson(1993). Các công trình nghiên cứu này chủ
yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành. Đối với giai đoạn ấu trùng, Ishida &
Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tói
giống ở vùng châu Á.Merritt và Cummins (1996), xây dựng khóa định loại tới
giống ở cả giai đoạn thiếu trùng và trưởng thành bộ Chuồn chuồn thuộc khu
yực Bắc Mỹ [2], [27].
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)


Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp (Plecoptera) biết khoảng 2.000 loài
và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm
có cánh hiện nay. Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi,
nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở
phần ngực (Hynes, 1976) [18].
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một
số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu). Chúng có angten dài dạng
chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các ấu trùng ở nước. Hầu hết, cánh của các loài
thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn. Các đặc điểm đó dùng
để phân biệt chúng vói bộ Cánh màng. Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian
dài sống ở nước [18].
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng:đại diện của các họ được tìm thấy ở
những nơi cư trú khác nhau như Perlidae được tìm thấy ở dưới những tảng đá
lớn, Chloroperlidae lại được phát hiện ở nền đáy của suối có đá nhỏ, trong khi

đó Nemouridae và Pteronarcyidae lại được phát hiện ở nơi có nhiều lá rụng ở
nền đáy.
Khu hệ Cánh úp ở châu Á được nghiên cứu bỏi những người châu Á và
châu Âu. Trong suốt những thập niên 30 của thế kỷ XX, Wu và Claassen
(1934,1935, 1937, 1938) đã mô tả khóa định loại Cánh úp ở miền Nam Trung
Quốc. Kawai (1961-1975) nghiên cứu một vài loài ở Ấn Độ, Bangladesh đến
phía Nam châu Á. Zwick và Sivec (1980) mô tả một số loài Cánh úp ở
Himalaya. Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988)
cũng đưa ra những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Stark
(1979, 1987, 1983, 1991, 1999) đã ghi nhận nhiều loài mới trong họ


Peltoperlidae và Perlidae ở châu Á. Gần đây, Du (1998, 1999, 2000) đã công
bố những tài liệu liên quan đến Perlidae ở miền Nam Trung Quốc [18].
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những
nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi
Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi
Morse(1997) [21].
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ưlmer
(1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930,
1932), đặc biệt là ưlmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951,
1955, 1957). Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực
nghiên cứu này. Cánh lông ở Bomeo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đàu bởi
Kimmins (1955). Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai
đoạn trưởng thành. Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào
giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard
(1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986, 1989, 1995),
Malicky (1970, 1978,1979, 1981, 1987, 1989, 1992, 1993, 1994, 1995, 1997,
1998, 2000, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991- 1994,

1996,1997, 2000), Mey (1989, 1990, 1995-1999, 2001-2003), Weavers (1985,
1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và
Arefïna (2003), Klaithong (2003).Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành
nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á
[21], [28].
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh
lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ,
Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov,


1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987). Ở khu vực Bắc Mỹ,
Merritt R. w. & Cummins K. w. (1996), đã xây dựng khóa định loại tói giống
của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [21].
* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhổm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn
trùng biến thái hoàn toàn. Hiện nay,bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết
trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae. Giai đoạn trưởng
thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm. Tuy nhiên, giai đoạn ấu
trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [27].
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt
như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ. Chúng
trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm ừong vòng đòi của mình. Ấu
trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng. Các loài thuộc họ này lại
phân bố rất hẹp. Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn
Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [28].
* Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong giới Động vật. Hiện
nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và
khoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước. Theo các kết quả nghiên cứu nhóm
sống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới. Hiện

nay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học,
sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933),
Gschwendtner (1932), Femando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984).
Heinñch & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) đã
cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở châu
Á [28], [29].


Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã
định loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở úc có khoảng
510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ
thuộc bộ Cánh cứng [29].
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Díptera)
Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài nhiều
nhất trong giới Động vật với khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết trên
thế giới. Đây là bộ có nhiều họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, do
chúng có quan hệ chặt chẽ với đòi sống con người như họ Muỗi (Culicidae),
họ Ruồi đen (Simuliidae). Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều
các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander
(1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989). Đối với khu yực châu Á,
Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đày đủ
về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Khóa định loại tói
họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi
Harris (1990)[27], [28].
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh
nửa sống ở nước (Dudgeon, 1999). Trong đó,khu yực châu Á có số lượng loài
chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân
họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994).Các
công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm bằng

các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,
1973).Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae
được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt


đói châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen
(1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [28], [29].
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã được tiến hành
khoảng 50 năm trước. Đặc biệt, ừong giai đoạn gần đây các công trình của
Zettel & Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998). Các nghiên cứu tập
trung vào việc mô tả, xây dựng khóa định loại. Năm 2001, Cheng và cộng sự
nghiên cứu các loài thuộc họ Geiridae ở Singapore và bán đảo Malaysia. Chen
và đồng nghiệp (2005) nghiên cứu ỞMalesia. Vùng Malesia bao gồm: bán đảo
Malaysia,Indonesia, Philippines và New Guinea [34].
* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae
và Crambidae sống ở nước. Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu
là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987),
Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995). Trong các nghiên cứu này, các tác
giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tói loài [27].
1.2.

Tình hình nghiền cứu côn trùng nước ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam đã được một số tác giả

đề cập đến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối vói các
bộ phổ biến của côn trùng nước cũng như những nghiên cứu sử dụng côn trùng
nước làm sinh vật chỉ thị. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu chính về côn
trùng nước ở Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay.
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Tác giả đầu tiên mô tả các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam là Lestage
(1921, 1924). Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa vào mẫu vật được
lưu giữ ở bảo tàng Pari(mẫu thu được ở miền Bắc Việt Nam). Ngay sau đó,
Navás (1922) mô tả 2 loài thuộc giống Ephemera[31].


Đặng Ngọc Thanh (1967),mô tả một loài mói thuộc họ Heptageniidae
khi nghiên cứu về khu hệ Động yật Không xương sống ở miền Bắc Việt Nam.
Đặng Ngọc Thanh (1980) xác định khu hệ Phù du ở Việt Nam có 54 loài, 29
giống thuộc 13 họ khác nhau. Đặc biệt ưong nghiên cứu này ông đã mô tả hai
loài mới cho khoa học đó là Thalerosphyrus vỉetnamensỉs Dang và
Neoephemeropsis cuaraoensis Dang [7], [31].

Braacsh & Soldán (1979, 1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới thuộc
họ Heptagenidae thu được từ một số suối ở Việt Nam[14], [15], [16], [17].
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại
các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã
xây dựng khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du. Kết quả của công trình này là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phân loại về Phù du cũng như việc sử dụng
đối tượng này là sinh vật chỉ thị cho các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam[6].
Nguyễn Văn Vịnh & Yeon Jae Bae (2003, 2004, 2005, 2006, 2008) đã
tiến hành nghiên cứu khu hệ phù du ở một số Vườn quốc gia của Việt Nam
đồng thòi công bố một số loài mới cho khu hệ Phù du ở Việt Nam và cho khoa
học. Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm
hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam. Nghiên cứu này là
cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước
ta[8], [9], [10], [11], [12], [13].
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn
và chưa thành hệ thống. Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn

trưởng thành. Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào
những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số
nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi


điều tra khu hệ động vật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139
loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin
đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus[2].
Asahina - thuộc bảo tàng Tự nhiên Tokyo (Nhật Bản) là một trong
những người tiên phong nghiên cứu khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam. Cho tới
thời điểm hiện tại, ông là ngưòi công bố nhiều công trình về khu hệ Chuồn
chuồn ở nước ta. Hầu hết các mẫu vật Chuồn chuồn ở Việt Nam mà Asahina
định loại đều có được từ các cộng sự và đồng nghiệp thu thập, những người đã
trực tiếp đến Việt Nam để khảo sát và điều ữa. Asahina (1996) đã công bố 84
loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở miền Nam Việt Nam. Trong tài liệu này, tác
giả đã công bố một loài mới: Chlogomphus vietnamensis Asahina, thuộc họ
Cordulegasteridae.
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại
các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã
xây dựng khóa định loại tói họ của bộ Chuồn chuồn[6].
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu và hiểu biết về bộ Cánh úp còn ít. Một
vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng
sự (1999), nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành. Mục đích
của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ
Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả
giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam. Cao Thị Kim
Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tói loài Cánh úp ở Việt Nam. Công
trình là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [18], [20].
Nguyễn Xuân Quýnh,Clive Pinder, Steve Tilling (2001), khi định loại

các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam cũng


đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh úp. Đồng thời, ông cũng đánh
giá chất lượng nước dựa vào họ Perlidae thuộc bộ này [6].
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu
về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từcác nước châu
Ầu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913). Sau những nghiên
cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanỉcus buenningivầ Paraphlegopteryx
tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt

Nam. Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả
một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae
(Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae. Banks
(1931) và Mosely (1934) nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và
Rhyacopphiloidae. Oláh (1987-1989) mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae,
Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [21].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ
của bộ Cánh lông ở Vườn quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn
trùng nước tại khu yực này [30].
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng
khóa định loại tói họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta. Hoàng Đức Huy
(2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt
Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [6],[21].
* Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh
vảyvàbộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera),
Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera)
còn tản mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà



thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói
chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo;
Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở
Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định
loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt
Nam[6], [32], [21].
Những nghiên cứu đàu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt
đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX. Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae
(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptỉlomera hylactor Breddin, 1903 thuộc
Bắc Việt Nam. Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi
Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng; Polhemus (2001); Chen &
Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993)
[22],[23].
Tràn Anh Đức (2008), mô tả khá đày đủ và chi tiết hình dạng ngoài của
các loài thuộc họ Geiridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên
cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta[34].
1.3.

Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Vườn quốc gia Tam Đảo
Vườn quốc gia (VQG) Tam Đảo có hệ thống suối phong phú, là điều

kiện thuận lợi cho côn trùng nước phát triển. Các nhà khoa học trong và ngoài
nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở đây với nhiều
hướng nghiên cứu khác nhau.
Cao Thị Kim Thu (2002), đã phân loại được 4 họ: Leuctridae,
Nemouridae, Peltoperlidae và Perlidae thuộc bộ Cánh úp ở Vườn quốc gia
Tam Đảo. Tác giả đã xây dựng khóa định loại và mô tả một số đặc điểm của
các loài thu được[18].

Lê Thu Hà (2003), đã xác định được 37 họ thuộc 8 bộ côn trùng nước
tại khu vực suối Tam Đảo. Trong đó bộ Hai cánh (6 họ), bộ Cánh cứng (7 họ),


bộ Phù du (5 họ), bộ Cánh nửa (7 họ), bộ Chuồn chuồn (6 họ), bộ Cánh lông
(3 họ), bộ Cánh vảy, bộ Cánh rộng và bộ Cánh úp mỗi bộ chỉ có một họ. Tuy
nhiên, về mặt phân loại, nghiên cứu chỉ xác định đến bậc họ. Tác giả đã sử
dụng nhóm côn trùng này để chỉ thị và đánh giá chất lượng môi trường nước ở
khu vực nghiên cứu[3].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), ưong nghiên cứu khu hệ côn trùng
nước ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ
Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại
thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được
mói chỉ phân loại đến bậc giống[30].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nước ỞVườn quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánhúp.
Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3
họ [30].
Nguyễn Văn Vịnh (2003), khi nghiên cứu khu hệ Phù du ở Việt Nam,
tác giả đã xây dựng khóa định loại tới loài của các đại diện thuộc bộ Phù du.
Vườn quốc gia Tam Đảo là một trong các khu vực điều tra khi tác giả thực
hiện nghiên cứu này. Tác giả cũng đã mô tả đặc điểm hình dạng y à cấu tạo
ngoài của các loài tìm thấy ở khu vực nghiên cứu này[31].
Hoàng Đức Huy (2005), khi nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở nước ta, tác
giả đã mô tả khá tỉ mỉ đặc điểmcác loài thuộc bộ này. Vườn quốc gia Tam Đảo
là một trong các khu vực nghiên cứu khi tác giả thực hiện đề tài. Trong nghiên
cứu, tác giả đã mô tả khá chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Cánh
lông ở Việt Nam[21].
Tràn Anh Đức (2008), trong nghiên cứu về khu hệ Gerridae (bộ Cánh
nửa) ở Việt Nam cũng đã mô tả đặc điểm một số loài thuộc họ này ở VQG Tam

Đảo [34].


Như vậy, các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước ở Vườn
quốc gia Tam Đảo tập trung vào một số bộ phổ biến như bộ Phù du, bộ Cánh
úp, bộ Cánh lông, bộ Cánh nửa. Các công trình nghiên cứu chủ yếu theo hướng
xác định thành phần loài trên cơ sở các mẫu định tính. Ngoài ra, các nghiên
cứu còn sử dụng côn trùng nước để chỉ thị chất lượng môi trường nước.
1.4.

Một số đặc điểm tự nhiên của VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Vườn quốc gia Tam Đảo nằm ừên địa giói của 3 tinh (Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên và Tuyên Quang),gồm địa phận 26 xã của 7 huyện, thị xã. Tổng diện
tích tự nhiên của VQG Tam Đảo là: 36.883 ha. VQG có toạ độ địa lý: 21°21’
đến 21°42’ vĩ độ Bắc và 105°23’ đến 105°44’ kinh độ Đông. Ranh giới VQG
được xác lập từ độ cao 100m đến 1.592m. Vùng đệm có tổng diện tích là
53.515 ha từ độ cao lOOm trở xuống bao quanh VQG. Trung tâm VQG Tam
Đảo cách Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc. VQG Tam Đảo có khoảng 25.000 ha
(chiếm gần 70% tổng diện tích ) gồm 22.000 ha rừng tự nhiên và 3.000 ha rừng
trồng. VQG Tam Đảo nằm ừong vùng Đông Bắc Việt Nam, là nơi có sự Đa
dạng sinh học cao. Đến năm 2000, tổng họp các nghiên cứu đã phát hiện ở
VQG Tam Đảo có: hệ thực vật gồm 1.182 loài thuộc 660 chi của 179 họ thực
vật bậc cao có mạch. Trong đó có 42 loài đặc hữu và 64 loài quí hiếm; hệ động
yật gồm 1.163 loài ừong đó lớp Thú có 70 loài, lớp Chim có 248 loài, lớp Bò
sát có 132 loài, lớp Lưỡng cư có 62 loài; lớp Côn trùng có 651 loài. Những loài
đặc hữu hẹp chỉ có ở VQG Tam Đảo gồm 22 loài như: Rắn Sãi, Rắn Dáo Thái
Dương, Cá cóc Tam Đảo và một số loài côn trùng khác. Những loài đặc hữu
hẹp Bắc Việt Nam có ở VQG Tam Đảo như Gà Tiền mặt vàng, Gà so họng
trắng, Gà so trắng gụ, sếu xám, Thằn lằn Tam Đảo, Rắn lục đầu đen, Rùa hộp

trán vàng, Ếch gai sần.
1.4.1.

Vị trí địa lý


Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 21°21 đến 21°42 độ vĩ Bắc,
105°23 đến 105°44 độ kinh Đông. Địa giới hành chính VQG được giới hạn như
sau:
- Phía Bắc là đường Quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua
Đèo Khế.
- Phía Đông Bắc là đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp
Quốc lộ 13A tại xã Phú Xuyên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
- Phía Nam là ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh
Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Tây Nam hợp bỏi đường ô tô phía ừái sông Phó Đáy nối từ đường
13A tại xã Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân núi Tam Đảo
gặp sông Bà Hanh tại xã Mỹ Khê bên hồ Đại Lải.
1.4.2.

Địa hình
Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo

hình khối đồ sộ, nằm ở phía Bắc đồng bằng Bắc bộ, chạy dài theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam. Cả dãy núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ
chia cắt sâu và dầy. Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao trên
l.OOOm được nối với nhau bằng đường dông sắc nhọn. Đỉnh cao nhất là đỉnh
Nord (1.592m) là ranh giới địa chính của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên,
Tuyên Quang. Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km. Núi cao,bề
ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35°, nhiều nơi trên 35° nên

rất hiểm trở và khó đi lại. Vườn quốc gia Tam Đảo có ba đỉnh núi nổi tiếng là:
Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388) và Phú Nghĩa (1.300m).
Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo
thành 4 kiểu địa hình chính:
1.Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao dưới lOOm,
độ dốc cấp I (<7°). Phân bố dưới chân núi và ven sông suối.


2. Đồi cao trung bình: có độ cao từ 100 - 400m, độ dốc cấp n (từ 8° - 15°)
trở lên. Phân bố xung quanh chân núi và tiếp giáp với đồng bằng.
3.Núi thấp: kiểu địa hình này có độ cao từ 400 - 700m. Độ dốc ữên cấp
III (16° - 26°). Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình.
4.Núi trung bình: có độ caotừ 700m - 1590m. Độ dốc > cấp III. Phân bố
ở phần trên của khối núi. Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn.
Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp
dần về hai đàu), chạy gàn 80km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên nó như
bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc tràn về đồng bằng và trung du Bắc bộ.
Vì vậy, ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn trong vùng.
1.4.3.

Địa chất và thổ nhưỡng
Trong quá trình điều tra lập địa có 4 loại đất chính ở VQG Tam Đảo đã

được phát hiện là [4]:
Đất Feralit mùn, vàng nhạt: loại đất này phát triển ữên núi trung bình,
diện tích vào khoảng 8.968 ha (chiếm 17,1%).
Đất Feralit mùn, vàng đỏ: loại đất này phân bố trên núi thấp có diện tích
9.292 ha (chiếm 17,8%).
Đất Feralit đỏ vàng: loại đất này phát triển trên nhiều loại đất đá khác
nhau, diện tích vào khoảng 24.641 ha (chiếm 47%).

Đất phù sa và dốc tụ: loại đất này có diện tích 9.497 ha (chiếm 18,1%).
1.4.4.

Khí hâu
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn và có

sự phân hóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa khí hậu đặc trưng
của từng vùng không phải là vấn đề đơn giản. Dựa trên số liệu khí tượng của


trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên và Đại Từ) để
đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:
Tam Đảo thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao. Dựa vào
các số liệu quan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ,
Tuyên Quang, Vĩnh Yên và thị ưấn Tam Đảo (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Số liệu khí tượng các trạm trong vùng
TÊN YẾU TỐ

Trạm

Trạm

Trạm

Trạm

Tuyên

Vĩnh


Đại Từ

Tam

Nhiệt độ trung bình năm (°C)

Quang
22,9

Yên
23,7

22,9

Đảo
18,0

Lượng mưa trung bình năm (mm)

1641,4

1603,5

1906,2

2630,9

Số ngày có mưa trong năm

143,5


142,5

193,4

193,7

Lượng mưa tối đa/ngày

350

284,0

352,9

295,5

Độ ẩm trung bình (%)

84

81

Độ ẩm cực tiểu (%)

15,0

Lượng bốc hơi nước (mm)

760,3


82

87

14,0

16,0

6,0

1040,1

985,5

561,5

(Nguôn Ban quản lý VQG Tam Đảo (2007)
Trạm Tuyên Quang và VTnh Yên đặc trưng cho sườn phía Tây, trạm
Đại Từ đặc trưng cho sườn phía Đông, trạm Tam Đảo ở độ cao khoảng 900m
so với mực nước biển đặc trưng cho khí hậu trên cao của khu bảo tồn. Vùng
núi VQG Tam Đảo nói riêng cũng như V ĩnh Phúc nói chung nằm trong khu
vực khí hậu gió mùa chí tuyến, có mùa đông lạnh, khô.
Do ảnh hưởng của địa hình, địa mạo nên nhiệt độ trung bình hằng năm
ở vùng thấp vào khoảng 23,7°c, tháng nóng nhất ở vùng thấp ưên 28°c (tháng
7), tháng lạnh nhất có nhiệt độ khoảng 15°c (tháng 1). Vùng đỉnh có nền nhiệt


×