Tải bản đầy đủ (.pdf) (150 trang)

thái độ của sinh viên một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh về mạng xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 150 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Tôn Nữ Cẩm Hường

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VỀ MẠNG XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Tôn Nữ Cẩm Hường

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VỀ MẠNG XÃ HỘI

Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số

:60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGUỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


TS. ĐINH PHƯƠNG DUY

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do chính tôi thực hiện.
Các số liệu và kết quảtrình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng
công bố trong một công trình nào khác.

Tác giả

Tôn Nữ Cẩm Hường


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô của khoa Tâm lý – Giáo
dục, phòng Sau đại học và trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
những người đã tạo điều kiện tốt nhất cho tập thể lớp cao học Tâm lý học khóa 23
trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS.Đinh Phương Duy, người đã
tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục

MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ
MẠNG XÃ HỘI .............................................................................. 5
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 5
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 5
1.1.2. Ở Việt Nam ........................................................................................... 10
1.2.Các vấn đề lý luận về thái độ ........................................................................ 15
1.2.1. Định nghĩa thái độ ................................................................................. 15
1.2.2. Bản chất của thái độ .............................................................................. 21
1.2.3. Đối tượng của thái độ ............................................................................ 22
1.2.4. Chức năng của thái độ ........................................................................... 22
1.2.5. Cấu trúc của thái độ .............................................................................. 23
1.2.6. Một số đặc tính cơ bản của thái độ ....................................................... 25
1.2.7. Thái độ và hành vi ................................................................................. 25
1.2.8. Sự hình thành thái độ ............................................................................ 27
1.3.Mạng xã hội................................................................................................... 29
1.3.1. Khái niệm .............................................................................................. 29
1.3.2. Lịch sử phát triển mạng xã hội ............................................................. 31
1.3.3. Tính năng sử dụng................................................................................. 32
1.3.4. Tính năng dành cho các loại phương tiện sử dụng ............................... 34
1.4. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên.......................................................... 35
1.5.Thái độ của sinh viên về mạng xã hội........................................................... 42
1.5.1. Định nghĩa ............................................................................................. 42


1.5.2. Biểu hiện thái độ của sinh viên về mạng xã hội ................................... 42
1.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên về mạng xã hội ................. 43
Tiểu kết Chương 1 ............................................................................................. 46
Chương 2. THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊNMỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VỀ MẠNG XÃ HỘI ........................................................................ 47
2.1. Vài nét về khách thể nghiên cứu ................................................................. 47
2.2. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng thái độ của SV một số
trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh về mạng xã hội.................................. 48
2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi..................................................... 48
2.2.2.Phương pháp phỏng vấn ......................................................................... 51
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng thái độ của SV một số trường đại học
tại Tp. Hồ Chí Minh về mạng xã hội .......................................................... 53
2.3.1. Nhận thức của SV một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh về
mạng xã hội ........................................................................................... 53
2.3.2. Thái độ của SV về mạng xã hội ............................................................ 56
2.3.3. Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên: ........................................ 69
2.3.4. Nguyên nhân thái độ của sinh viên một số trường đại học tại TP.
Hồ Chí Minh về mạng xã hội ................................................................ 72
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 83
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

ĐH

Đại học

ĐLC


Độ lệch chuẩn



Cao đẳng

PHTH

Phổ Thông Trung học

ĐTB

Điểm trung bình

MXH

Mạng xã hội

STT

Số thứ tự

SV

Sinh viên

TP. Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Mẫu khảo sát xét theo năm học, giới tính, học lực, nơi ở, hộ
khẩu và kinh tế gia đình, ngành học, tình trạng công việc. .............. 47
Bảng 2.2. Cách tính điểm mức độ biểu hiện việc sử dụng MXH của SV
một số trường đại học tại TPHCM ................................................... 49
Bảng 2.3. Cách tính điểm mức độ đánh giá về MXH của SV một trường
đại học tại TPHCM ........................................................................... 50
Bảng 2.4. Mức độ nhận thức của SV một số trường đại học tại TP. Hồ Chí
Minh về MXH ................................................................................... 53
Bảng 2.5. So sánh nhận thức SV về lợi ích và nguy cơ của MXH ................... 54
Bảng 2.6. Thái độ của SV về MXH trước khi sử dụng MXH .......................... 56
Bảng 2.7. Mạng xã hội được yêu thích nhất...................................................... 57
Bảng 2.8. So sánh thái độ yêu thích và không thích MXH của SV khi sử
dụng MXH ........................................................................................ 58
Bảng 2.9. Thái độ của SV về tính năng và giao diện của MXH khi sử dụng ... 58
Bảng 2.10. Thái độ của SV về vấn đề bảo mật của MXH .................................. 59
Bảng 2.11. So sánh niềm tin vào hệ thống bảo mật của MXH giữa SV các
chuyên ngành .................................................................................... 61
Bảng 2.12. Thái độ của SV đối với khả năng tìm kiếm thông tin của MXH ...... 62
Bảng 2.13. Thái độ của SV về các họat động trên MXH.................................... 62
Bảng 2.14. Thái độ của SV về việc sử dụng MXH của bản thân........................ 64
Bảng 2.15. Thái độ của SV khi không tham gia MXH ....................................... 65
Bảng 2.16. Thái độ của SV sau khi sử dụng MXH ............................................. 65
Bảng 2.17. Ý chí của SV khi tham gia MXH ..................................................... 67
Bảng 2.18.Thời gian dành cho MXH của SV ..................................................... 69
Bảng 2.19.Nguồn kinh phí SV dùng để chi trả cho việc sử dụng FB ................. 70
Bảng 2.20. Thông tin cá nhân của SV một số trường đại học tại TPHCM

được hiển thị trên MXH .................................................................... 71
Bảng 2.21. Nguyên nhân SV một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh
yêu thích MXH họ đang sử dụng ...................................................... 72
Bảng 2.22. Nguyên nhân SV một số trường đại học tạo TP. Hồ Chí Minh
không thích MXH ............................................................................. 74


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ về công nghệ thông tin trong đó sự
xuất hiện ngày một nhiều của các trang mạng xã hội tạo điều kiện để cá nhân, tổ
chức có nhiều cơ hội chi`a sẻ thông của mình nhưng cũng là thách thức đối với
cơ quan quản lý chuyên ngành về đảm bảo nội dung và phạm vi hoạt động của
hình thức này. Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
72/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
thông tin trên mạng có hiệu lực từ ngày 1/9/2013. Trang thông tin điện tử cá
nhân, trang thông tin điện tử nội bộ phải tuân theo các quy định về đăng ký và
sử dụng tài nguyên Internet và các quy định có liên quan tại Nghị định này.
Thông qua nghị định có thể thấy rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với tốc độ
phát triển chóng mặt của internet nói chung và mạng xã hội nói riêng [55].
Thái độ có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của con người. Thái độ của
chủ thể về đối tượng nào đó bị chi phối bởi nhu cầu, động cơ, mục đích bên trong và
được biểu hiện bằng hành động cụ thể với đối tượng đã nhận thức đồng thời thái độ
cũng chi phối sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Có thể thấy thái độ quan trọng như
thế nào đối với hoạt động của con người.Thái độ có vai trò quyết định quan trọng đến
việc nâng cao chất lượng hiệu quả của mọi công việc.Và tất nhiên, đối tượng sinh
viên cũng không ngoại lệ.Hiệu quả của tất cả các hoạt động của sinh viên đều bị chi
phối bởi thái độ của chính họ.Ngày nay, số lượng sinh viên biết đến và sử dụng, tham

gia vào các trang mạng xã hội là vô cùng lớn và thời gian họ giành cho các hoạt động
trên mạng xã hội cũng không hề ít. Thái độ của sinh viên về mạng xã hội tác động đến
hành vi của họ, đến chất lượng các hoạt động của họ trên mạng xã hội cũng như trong
đời sống hàng ngày.
Các mạng xã hội như Facebook, Twitter, YouTube đã nhanh chóng trở
thành một phần của cuộc sống hàng ngày của nhiều người, đặc biệt là đối với
những thế hệ trẻ, đặc biệt là khi công nghệ phát triển như hiện nay. Theo một


2
báo cáo của eMarketer năm 2009, lượng người dùng các trang mạng xã hội ở
Mỹ tăng mạnh trong năm, chiếm hơn 50% tổng lượng người dùng Internet ở
Mỹ, trong đó ấn tượng nhất là sự phát triển của Facebook. Họ ước tính rằng
57.5% người dùng Internet, hay 127 triệu người, sẽ dùng mạng xã hội ít nhất là
1 lần 1 tháng trong năm 2010 [53]. Theo kết quả nghiên cứu của Socialbakers &
SocialTimes.Me -2013 vừa được công bố tại Hội thảo Toàn cảnh CNTT-TT
Việt Nam lần thứ 18 - VIO 2013 diễn ra ở TP.HCM, tính đến tháng 8/2013, tại
Việt Nam đã có 19.6 triệu người dùng Facebook – trang mạng xã hội phổ biến
nhất thế giới, chiếm 21.42% dân số và chiếm tới 71.4% người sử dụng Internet
[6].
Có thể thấy sự bành trướng chóng mặt của mạng xã hội, kèm theo đó chính
là ảnh hưởng phức tạp của nó đối với đời sống của con người. Sinh viên có thể
sử dụng mạng xã hội để phục vụ cho nhu cầu học tập và giao tiếp xã hội, giao
lưu, mở rộng các mối quan hệ. Tuy nhiên chính mạng xã hội cũng là nguyên
nhân khiến sinh viên xao nhãng việc học, sống khép kín, sa đà vào “cuộc sống
ảo” trên mạng xã hội mà quên mất cuộc sống thực tế đang diễn ra. Họ cập nhật
trạng thái, hình ảnh liên tục, đăng những câu nói, hình ảnh gây sốc để được nổi
tiếng, viết những lời bình ác ý, thiếu suy nghĩ…
Vấn đề được đặt ra ở đây là điều gì đã xảy ra, tại sao ứng xử, hành vi của
người sử dụng mà ở đây xin nói tới sinh viên lại diễn ra vô cùng đa dạng và

phức tạp như thế? Đâu là nguyên nhân, thái độ của họ khi tiếp xúc với mạng xã
hội là gì?Rồi khi đã là một thành viên của trang mạng đó họ cảm thấy gì? Khi
đọc các thông tin trên mạng xã hội thái độ của họ ra sao và nó ảnh hưởng tới tâm
trạng, hành vi họ như thế nào? Do đó, nghiên cứu thái độ của sinh viên về mạng
xã hộ dưới góc độ tâm lý học để có được câu trả lời khoa học và giải pháp tối ưu
cho các hiện tượng tâm lý liên quan đến mạng xã hội là điều vô cùng cấp thiết.
Chính những lý do trên đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:”Thái
độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về mạng xã
hội”.


3
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thái độ của sinh viên đại học về mạng xã hội mà họ thường
xuyên sử dụng và hành vi sử dụng mạng xã hội đó của họ, đồng thời nghiên cứu
những yếu tố ảnh hưởng đến những thái độ đó.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
380 sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của sinh viên về mạng xã hội
4. Giả thuyết nghiên cứu
Đa số sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh có thái
độ yêu thích mạng xã hội. Tuy nhiên còn một số ít sinh viên có thái độ không
thích mạng xã hội do các nguyên nhân chủ quan và khách
5. Nhiệm vụ nghiên cứuquan
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: thái độ, đặc điểm
tâm lý của sinh viên, mạng xã hội...
- Khảo sát thái độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ
Chí Minh về mạng xã hội.

6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau
6.1. Về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng thái độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành
phố Hồ Chí Minh về mạng xã hội. Trong đó tập trung phân tích các biểu hiện
của thái độ của sinh viên,các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của họ và phân tích
mối tương quan giữa thái độ và hành vi sử dụng mạng xã hội.
6.2. Về khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng trên 380 sinh viên ở một số trường Đại học
tại Thành phố Hồ Chí Minh :


4
- Sinh viên đang học 3 nhóm ngành : Kinh tế, Khoa học kỹ thuật, Khoa học
xã hội
- Sinh viên đang học năm 1 đến năm 4
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và tìm tài liệu, sách giáo trình nhằm thu thập những thông tin, khai thác
các tài liệu có liên quan tới đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đây là phương pháp cơ bản bao gồm: Phương pháp điều tra bằng bảng
hỏi, phương pháp phỏng vấn.
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp cơ bản, bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm
dò ý kiến, nhằm tìm hiểu thái độ của sinh viên về mạng xã hội , các yếu tố ảnh
hưởng đến thái độ của sinh viên.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Trò chuyện một cách chân thành cởi mở với các bạn sinh viên để khai
thác thái độ của họ đối với mạng xã hội, những suy nghĩ, thái độ của sinh viên

khi tiếp cận và tham gia mạng xã hội.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các thông tin thu được từ các phương pháp trên bằng phần mềm
SPSS phiên bản 20.0, đồng thời kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các
kết quả nghiên cứu.
- Yêu cầu:
Tiến hành xử lý các số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, bao gồm các phần
thống kê về tính N (Tổng), F (Tần số), tính Mean (Trung bình cộng các giá trị),
tính hệ số tương quan, tính SD (độ lệch chuẩn), thống kê tần số, xếp hạng và
tính hệ số Crombach’s Alpha để đo độ tin cậy của thang đo.


5

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN
VỀ MẠNG XÃ HỘI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Cùng với sự phát triển chóng mặt của MXH thì số lượng nghiên cứu trên
thế giới về MXH cũng như thái độ về MXH, các mặt của MXH là rất khổng lồ,
trong giới hạn năng lực của mình tôi chỉ xin trình bày một vài nghiên cứu dưới
đây.
Trong nghiên cứu “Imagined Communities Awareness, Information
Sharing, and Privacy on the Facebook”– 2006 (“Nhận thức về những cộng đồng
tưởng tượng, chia sẻ thông tin và vấn đề riêng tư trên Facebook”) của
Alessandro Acquisti Ralph Gross - Carnegie Mellon University nghiên cứu về
những khác biệt trong hành vi của những người sử dụng FB với những người
không sử dụng, tác động của sự lo lắng về các vấn đề riêng tư trên FB đối với
hành vi người sử dụng [32].
Bài báo cáo về mạng xã hội ở các nước châu Âu “Social Networks Report

in Euro” (2010) với mục đích lý giải hành vi sử dụng MXH của những người trẻ
tuổi (15 – 30 tuổi) để xác định những nhu cầu của họ. Từ đó góp phần xây dựng
MXH hoặc những ứng dụng mới tốt hơn, phù hợp hơn với người dùng. Một vài
số liệu đáng chú ý từ bài báo cáo:
Việc sử dụng mạng xã hội ở một số nước châu Âu: Khảo sát ở các quốc gia
Pháp, Đức, Ý, La Mã, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì cho thấy 95% người được khảo
sát có sử dụng MXH, chiếm một tỉ lệ lớn. Trong đó trang MXH phổ biến và
được sử dụng nhiều nhất đó là Facebook (trừ Đức với MXH StudiVZ có 48%
người dùng)
Khảo sát về những ngườikhông sử dụng MXH, bài báo cáo cũng đưa ra
những lí do như: Hiếm khi sử dụng Internet (đặc biệt đối chiếm tỉ lệ cao với đối


6
tượng dưới 18 tuổi); không có hứng thú và thời gian, không muốn tiết lộ cuộc
sống của bản thân, không muốn theo trào lưu, cho rằng những mối quan hệ trên
MXH đều là giả, thấy rằng việc sử dụng không hữu ích, sợ MXH là những lí do
được đưa ra nhiều nhất của những trong độ tuổi 21 – 26.
Năm 2011, Kristen A. Carruth của ĐH Texas, Mỹ thực hiện luận văn
Predictors of college students’ attitudes towards privacy on social networks (Dự
báo thái độ của sinh viên về quyền riêng tư trên MXH của Kristen A. Carruth.
Nghiên cứu này nhắm đến vấn đề của sự riêng tư trên Facebook cũng như thái
độ của sinh viên đại học về quyền riêng tư của chính họ. Giả thuyết của nghiên
cứu này cho rằng người dùng đã cảm thấy lo lắng vì thông tin cá nhân của họ
trên MXH, mà ở đây là Facebook có nguy cơ bị tiết lộ, xâm phạm. Vậy báo cáo
chỉ ra rằng Facebook nói riêng và các MXH nói chung cần phải tăng cường tính
bảo mật hơn nữa cho người sử dụng đồng thời đảm bảo quyền riêng tư của họ
[41].
Ở Mỹ, tháng 2/2012 nhóm nghiên cứu Lee Rainie, Amanda Lenhart, Aaron
Smith, khi nghiên cứu về Cuộc sống trên Mạng xã hội (The tone of life on social

networking sites) đã đưa ra các số liệu đáng chú ý:
85% những người trưởng thành sử dụng mạng xã hội cho rằng mọi người
rất tử tế.68% người sử dụng mạng xã hội đã từng có trải nghiệm khiến họ cảm
thấy bản thân mình tốt hơn.61% từng có trải nghiệm khiến họ cảm thấy gần gũi
hơn với người khác.39% người trưởng thành sử dụng mạng xã hội nói rằng họ
thường thấy những hành động rộng lượng của những người khác trên mạng xã
hội và 36% khác nói rằng họ thỉnh thoảng thấy người khác cư xử rộng lượng và
sẳn lòng giúp đỡ. Đây là những kết quả khá tích cực về việc sử dụng MXH [43].
Một khảo sát khác cũng ở Mỹ vào năm 2012 có tên là “A survey of student
attitudes on the use of social networking to build learning communities” do
Timothy Arndt thuộc Đại học Cleveland State thực hiện. Nghiên cứu phân tích
thái độ của sinh viên về việc sử dụng MXH như là một công cụ hỗ trợ học


7
tập[47]. Ngoài ra còn một số nghiên cứu về thái độ của sinh viên về MXH trong
việc sử dụng nó như là một công cụ học ngoại ngữ như Students' Attitudes
Towards the Use of Social Networks for Learning the English Language của
Elham Akbari, Soodeh Eghtesad, Robert-Jan Simons Utrecht University
(Netherlands), University of Tehran (Iran), hay Students’ Attitudes towards
Using Social Networking in Foreign Language Classes: A Facebook Example
của Ömer Eren thuộc Đại học Gaziantep ở Turkey (2012) cho thấy sinh viên có
thái độ tíc cực hơn về MXH khi họ sử dụng nó để học ngoại ngữ.
Hiệp hội tâm lý học Mỹ (APA) “Facebook psychology: popular questions
answered by research”– 2012 (Tâm lý học về Facebook: Những câu hỏi thường
gặp được giải đáp bằng những nghiên cứu) bao gồm những câu hỏi được chia
thành 3 nhóm chính: (a) Trước khi sử dụng Facebook; (b) Những cá nhân và tổ
chức đã sử dụng Facebook như thế nào; và (c) Những kết quả hoặc ảnh hưởng
tâm lý của việc sử dụng Facebook. Các câu trả lời được tập hợp từ hơn 100 ấn
bản gần đây (hầu hết là kinh nghiệm cá nhân, những bài viết nghiên cứu đã qua

bình duyệt được xuất bản).Những người dùng Facebook có nói thật về chính
mình? Khi sử dụng Facebook, người dùng thiết lập cho mình một bảng khai báo
thông tin cá nhân, điều này có thể tạo nên một lớp “mặt nạ” ảo cho những người
sủ dụng. Vì Facebook là một môi trường “mở” thế nên người dùng phần nào
cũng kiểm soát những gì mà họ thể hiện. Thế nhưng không hoàn toàn do những
hoạt động online mà họ tham gia vào hay những người mà họ liên kết phần nào
cũng thể hiện bản chất của họ trong suy nghĩ của người khác [50].
Tháng 10 năm 2013, nhóm tác giả Julie Prescott, Sarah E. Wilson&
Gordon Becket thuộc Đại học Central Lancashire ở Anh báo cáo đề tài
“Students’ Attitudes Towards Facebook and Online Professionalism: Subject
Discipline, Age and Gender Differences”. Nhóm tác giả nghiên cứu thái độ của
sinh viên các ngành dược, công tác xã hội và ngành điều dưỡng ở Anh về
Facebook và các trang web hỗ trợ học tập chuyên môn.Nghiên cứu tìm thấy sự


8
liên quan giữa thái độ ủa sinh viên với ngành học, năm học, giới tính của họ.
Gần như tất cả các sinh viên trong nghiên cứu này đã nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề bảo mật trên Facebook và họ không thiết lập thông tin cá nhân
của mình ở chế độ công cộng (Puplic). Phân tích cho thái độ của sinh viên về
Facebook và các dịch vụ trực tuyến chịu sự ảnh hưởng của tuổi tác hơn là giới
tính hay năm học [39].
Tertiary students’ attitudes towards using SNS ở Thổ Nhĩ Kỳ của Asst.
Prof. Dr. BahireEfe ÖZAD (2012)cho thấy phần lớn sinh viên cảm thấy vui khi
sử dụng MXH và họ dành khá nhiều thời gian trong một ngày để sử dụng MXH,
việc sử dụng MXH để giải trí, giao, tiếp, học tập với họ khá dễ dàng [34].
Bài viếtPersonality, social network sites, and leisure activities – a
conceptual exploration; Tingya Kuo; Hung-Lian Tang (Nhân cách, mạng xã hội
và các hoạt động trong thời gian rảnh – diễn giải dựa trên khái niệm) nghiên cứu
về việc sử dụng mạng xã hội cũng như ảnh hưởng qua lại giữa việc sử dụng

mạng xã hội đối với các hoạt động trong thời gian rảnh và nhân cách của một
người. [49].
Ở Ấn Độ, bài viết Research to enhance experience of Indian Social
Networking Site, (Nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về mạng xã hội ở Ấn Độ) IES Management College and Research Center, Mumbai – nghiên cứu về việc
sử dụng mạng xã hội ở Ấn Độ với mục tiêu tìm hiểu về nhận thức mạng xã hội
và hành vi sử dụng, nhận ra những kẽ hở của mạng xã hội hiện nay để có thể
khai thác, hiểu được những yếu tố thích và không thích ở mạng xã hội để có
những đề xuất cải tiến thích hợp. Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất ở Ấn
Độ (93.26% người sử dụng mạng xã hội).Điều được yêu thích nhất ở Facebook
đó là sử dụng dễ dàng, giao diện thân thiện với người dùng (46.07%). Tiếp đó là
khả năng chia sẻ và kết nối người dùng (43.82%).Điều không thích ở Facebook
đó là tính riêng tư (29.21%) [49].


9
Kế đến làYoung People, Social Media, Social Network Sites and Sexual
Health Communication in Australia (Giới trẻ, truyền thông cộng đồng, mạng
xã hội và truyền thông sức khỏe tình dục ở Úc) - Clifton Westly Evers; Kath
Albury; Paul Byron; Kate Crawford – Nghiên cứu trên giới trẻ ở Úc về việc sử
dụng truyền thông cộng đồng, mạng xã hội để truyền thông sức khỏe tình dục.
Nhóm nghiên cứu cũng thảo luận một số vấn đề liên quan đến sức khỏe tình dục
như nỗi lo lắng về sự bắt nạt, sự riêng tư, và sự xấu hổ trên mạng xã hội hay
truyền thông cộng đồng.Sự xấu hổ về sức khỏe tình dục có thể ảnh hưởng đến
việc truyền thông sức khỏe tình dục thông qua truyền thông cộng đồng và mạng
xã hội. Giới trẻ thường không muốn ai biết về việc tham gia chia sẻ các thông
tin sức khỏe tình dục một cách rõ ràng vì nguy cơ sẽ bị xấu hổ. Những người trẻ
tuổi thường thích trao đổi về vấn đề sức khỏe tình dục một cách riêng tư: khai
báo tên giả, không để tên trên các diễn đàn online và được trả lời bởi các chuyên
gia hoặc chỉ cần tìm kiếm trên Google. Thế nhưng các trang mạng xã hội như
Facebook, Google+ lại hiện tên thật và có nhiều đặc điểm nhận dạng khiến cho

người dùng cảm thấy e dè khi muốn đề cập đến vấn đề sức khỏe tình dục.
Cũng tương tự, theo nghiên cứu Utilizing Social Networks for User Model
Priming: User Attitudes (2013) của nhóm tác giả châu ÂU gồm Adam Moore,
Gudrun Wesiak, Christina M. Steiner, Claudia Hauff, Declan Dagger, Gary
Donohoe & Owen Conlan cho thấy người dùng có thái độ cởi mở đối với việc
cung cấp thông tin cá nhân khi sử dụng MXH như một công cụ giải trí, giao lưu
với bạn bè, người thân hơn là cho những mục đích khác, tính thận trọng của
người dùng tăng lên theo độ tuổi của họ [31].
Các nghiên cứu trên thế giới về MXH cũng như thái độ về nó rất đa dạng.
Các nghiên cứu thái độ về MXH của các nhà nghiên cứu trên thế giới bao hàm
từ nghiên cứu tổng quát về thái độ tổng quát đối với MXH, đến thái độ khi sử
dụng MXH, hay thái độ về tính riêng tư, bảo mật trên MXH, hoặc là thái độ về
MXH như là một công cụ học tập, công cụ chuyên môn…


10
1.1.2. Ở Việt Nam
Đầu tiên, phải thừa nhận rằng có khá ít các đề tài nghiên cứu chuyên biệt
về MXH dưới góc độ Tâm lý học.Đa phần là các đề tài nghiên cứu là về mạng
xã hội ở dạng khảo sát tổng quan, khảo sát xã hội học.Có thể đề cập đến
“Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định
hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam”- Chủ trì đề tài: ThS Đỗ Công
Anh - Mã số: 52 – 11 – KHKT – RD. Nhóm đề tài đã tập trung nghiên cứu vào
các vấn đề sau: Nghiên cứu tổng quan hiện trạng phát triển mạng xã hội tại Việt
Nam và dự báo xu hướng phát triển của mạng xã hội trong thời gian tới; Bài học
kinh nghiệm trong quản lý mạng xã hội của các quốc gia; Đưa ra các yếu tốt
then chốt phục vụ công tác quản lý mạng xã hội đối với cả nhà nước và doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ; Đề ra các chính sách, giải pháp, phương án và công cụ
để quản lý mạng xã hội tại Việt Nam.
Nhóm đề tài đã lựa chọn 20 mạng xã hội nổi tiếng và được truy cập nhiều

trên thế giới và 10 mạng xã hội được truy cập nhiều tại Việt Nam để thu thập và
tổng hợp số liệu, qua đó đưa ra được cái nhìn toàn cảnh và hiện trang chi tiết của
mạng xã hội trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Qua việc nghiên cứu các đặc
điểm, bản chất của mạng xã hội, nhóm đề tài đã đề ra các nhóm các giải pháp
bao gồm:
-

Nhóm giải pháp về chính sách: Quản lý thị trường cung ứng các
ứng dụng và dịch vụ trên mạng xã hội; Quản lý thông tin đăng ký
trên mạng xã hội; Xây dựng chế tài đối với mạng xã hội nước ngoài
cung cấp dịch vụ cho người sử dụng tại Việt Nam; Khuyến khích,
thúc đẩy các hoạt động tuyên truyền của nhà nước sử dụng mạng xã
hội, các cơ quan nhà nước sử dụng mạng xã hội như một kênh tiếp
xúc với người dân.

-

Nhóm giải pháp về kỹ thuật: Nghiên cứu phương án xây dựng
công cụ quản lý, phòng ngừa và cảnh báo; Xây dựng công cụ đánh


11
giá truy cập website; Xây dựng phương án hành động khi xảy ra
tình huống khẩn cấp; Nghiên cứu tính khả thi của việc sử dụng
mạng xã hội cho các cơ quan nhà nước [2].
Bên cạnh đó là công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ“Một số vấn đề văn
hóa mạng hiện nay (Internet: Mạng xã hội và sự thể hiện bản sắc)”–Ths Vũ
Hoàng Hiếu, Ths Nguyễn Thị Huệ, Ths Đinh Mỹ Linh, Ths Vũ Thành Long,
Nguyễn Thị Phương Châm – 2012 với mục tiêu nghiên cứu là thông qua trải
nghiệm cá nhân của những người trong cuộc, phân tích, đánh giá thực trạng và

sự phát triển phổ biến của Internet hiện nay, những tác động của nó đến đời
sống. Đồng thời bàn đến những vấn đề thời sự của sự phát triển Internet đặt ra
cho xã hội hiện tại. Một vài kết quả đáng chú ý về thực trạng sử dụng Internet
như sau:
-

Đa phần giới trẻ ngày nay ít nhất có sở hữu hoặc tiếp cận các thiết bị
có thể sử dụng để truy cập Internet. Nam có xu hướng sở hữu các
thiết bị này nhiều hơn nữ (71.4% so với 65.2% với máy tính bàn và
52% so với 47.1% với máy tính xách tay).

-

Phương tiện và địa điểm truy cập Internet đa dạng: truy cập tại nhà,
nơi làm việc, quán cà phê, hàng Internet và nhiều nơi khác khi họ có
thể truy cập Internet trên điện thoại di động. Các phương tiện như:
máy tính gia đình, máy tính cá nhân, máy tính chung của cơ quan,
trường học, máy ở hàng Internet, điện thoại…

-

Thời gian truy cập: Vào ngày thường, nhóm thanh niên truy cập
mạng nhiều nhất vào buổi tối. Nhóm sinh viên thường vào mạng
trong khoảng 6 – 12h và 18 – 20h trong khi nhóm học sinh là 21 –
24h. Vào ngày nghỉ cuối tuần, học sinh và sinh viên là nhóm lên
mạng nhiều hơn.Thời gian sử dụng trong ngày: Nhóm thanh niên lên
mạng khoảng 4.5 giờ, ngày nghỉ thì là khoảng 3.4 giờ. Học sinh


12


trung học tập trung lên mạng vào các ngày cuối tuần (4.1 giờ). Sinh
viên ngày thường và ngày nghỉ tương đương nhau khoảng 3.7 giờ.
-

Mục đích sử dụng Internet: Tìm kiếm, cập nhật thông tin xã hội, giải
trí, liên lạc gia đình, bạn bè và cập nhật thông tin về cuộc sống của
bạn bè, học tập, kinh doanh. Lợi ích từ mạng lưới xã hội trực tuyến:
Dễ dàng có được mạng lưới quan hệ rộng; Mọi vấn đề trong cuộc
sống đều được chia sẻ nhanh chóng; Có được sự tự do và bình đẳng
trong các mối quan hệ; Tiết kiệm chi phí cho việc đầu tư quan hệ.
Trang mạng xã hội được sử dụng phổ biến nhất là Facebook

-

Những trải nghiệm về sự thay đổi khi sử dụng mạng xã hội: thay đổi
về thời gian (thay đổi nhịp sinh hoạt, nhịp sống, sử dụng mọi lúc
mọi nơi, thức khuya hơn); thay đổi về không gian (các không gian
gặp gỡ mới như quán cà phê Internet, quán net…); thay đổi phương
thức giao tiếp (hình thức giao tiếp mới như “like”, “share”, “tag”,
“comment”) [5].

Theo hướng nghiên cứu này còn có đề tài“Nghiên cứu đề xuất xây dựng
mạng xã hội học tập tại Việt Nam” – Lê Thị Nhị (2011). Nghiên cứu mạng xã
hội và lĩnh vực giáo dục: Giáo dục điện tử (E-Learning) và Cộng đồng học tập
trực tuyến (Online learning communities); vai trò của mạng xã hội đối với giáo
dục; các ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng mạng xã hội trong giáo dục cũng
như xu hướng ứng dụng mạng xã hội cho hoạt động giáo dục. Đề xuất xây dựng
mạng xã hội học tập: đặc điểm cần có của mạng xã hội học tập, phân tích yêu
cầu hệ thộng và thiết kế hệ thống. Cài đặt thử nghiệm cũng như đánh giá và triển

khai mạng xã hội học tập tại Việt Nam.Đề xuất mô hình, giải pháp phù hợp với
thực trạng hiện tại ở Việt Nam. Bàn về việc sử dụng mạng xã hội trong giáo dục,
tác giả đưa ra những ưu điểm và thách thức:
-

Ưu điểm:Tính linh hoạt: mở rộng sự lựa chọn cho người học về học
cái gì, học khi nào, học nơi và học thế nào; Tính lặp lại: người học


13
có thể lấy thông tin được cung cấp trên các trang web ngay lập tức
hoặc sau này; Tính thuận tiện và dễ truy cập: Các mạng xã hội
cung cấp sự dễ dàng và nhanh chóng trong việc truy cập, rà soát, cập
nhật và chỉnh sửa tài liệu học tập cần thiết bất cứ lúc nào và bất cứ
nơi đâu.
- Thách thức: Tính riêng tư: các thông tin mà người sử dụng đặt trên mạng xã
hội như thế nào? Ai có quyền truy cập vào thông tin và nó được sử dụng cho
mục đích gì?;Ảnh hưởng của các mối quan hệ: các mối quan hệ trên MXH
cũng tiềm ẩn những nguy cơ như việc lợi dụng các thông tin của người dùng
vào mục đích xấu,…;Tiêu tốn thời gian: việc đam mê và thường xuyên sử
dụng mạng xã hội trực tuyến khiến người dùng mất nhiều thời gian, ảnh
hưởng tới sức khỏe và sự tập trung trong học tập, nghiên cứu; Giao tiếp
không đầy đủ: giáo dục điện tử dựa trên môi trường mạng là sự giao tiếp
gián tiếp thông qua văn bản, người học và người dạy không được mặt đối mặt
với nhau vì vậy nó sẽ không thể có những tranh luận, giải thích thuyết phục
và rõ ràng như trong giáo dục truyền thống thông qua cử chỉ, nét mặt, lời
nói... [21].
Bài viết “Nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook của con người – một
thách thức mới cho tâm lí học hiện đại” của tác giả Đào Lê Hòa An đề cập một
số công trình nghiên cứu về mạng xã hội FB trên thế giới, đồng thời trình bày

những nghiên cứu về vấn đề hành vi sử dụng internet nói chung và FB nói riêng
tại Việt Nam từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Tâm lí học: cần sớm tiếp cận
vấn đề và kiến giải bằng những cơ sở khoa học chuyên ngành và liên ngành hệ
thống và chính thức. Đây cũng là định hướng của nhóm nghiên cứu khi thực
hiện đề tài, nghiên cứu việc sử dụng Facebook dưới góc độ tâm lý học để có
những cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động sử dụng và ảnh hưởng đến người
dung [1].


14
Nghiên cứu “Tìm hiểu ngôn ngữ trên mạng xã hội Facebook” - Bùi Hương
Giang - Ngô Minh Hường đề cập đến ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook đến
tiếng Việt qua việc xuất hiện thêm các biến thể ngôn ngữ mới được sử dụng trên
các trang mạng xã hội hiện nay. Qua cuộc khảo sát cho thấy: việc sử dụng văn
tự và ký hiệu trên FB, tuy có những nét độc đáo nhưng nhìn chung hết sức lộn
xộn. Nguyên nhân đầu tiên đó là kết quả của thói quen viết tin nhắn trên điện
thoại di động và chat trên một số dịch vụ tán gẫu đôi khi không hỗ trợ việc gõ
dấu.Từ đó, giới trẻ đã sáng tạo ra những cách biểu hiện (cách ghi dấu mũ và
thanh điệu) của riêng mình.Lâu dần những cách ghi này trở nên phổ biến và trở
thành một thói quen trong cộng đồng các cư dân mạng trẻ.Nguyên nhân thứ hai
là do tính chất của những lời lẽ, cụ thể hơn là văn bản trên Facebook mang
phong cách khẩu ngữ. Việc nảy sinh ra cách viết tắt là lẽ dĩ nhiên vì nó vừa giải
quyết khâu “nhanh”, “gọn” trong việc gõ bàn phím vừa là hình thức độc đáo
trong giao tiếp tạo ra tính nhóm trong giới trẻ. Và nguyên nhân thứ ba là do xã
hội ngày càng phát triển, cái tôi của con người càng được đề cao, vì vậy ai cũng
khát khao tìm cho mình một phong cách riêng, khác lạ. Đối với giới trẻ điều này
lại càng quan trọng. Trong quan niệm của họ,mọi thứ phải không được “đụng
hàng” (giống với người khác) mà theo cách gọi của họ là “độc” [11].
Viện nghiên cứu phát triển TP.Hồ Chí Minh (TS.Nguyễn Thị Hậu chủ biên)
đã xuất bản “Mạng xã hội với giới trẻ TP. Hồ Chí Minh” (2013) – tuyển tập

những bài viết, những công trình nghiên cứu về mạng xã hội của quốc tế, Việt
Nam và những ảnh hưởng của mạng xã hội đối với giới trẻ hiện nay, ta có thể
lưu ý một số đề tài và bài viết về FB như: Trong bài viết của ThS. Nguyễn Hải
Nguyên, tác giả có đề cập đến lí do của sự phát triển mạng xã hội ở giới trẻ hiện
nay: Thứ nhất là do tính mới của dịch vụ mạng xã hội và xu hướng thích khám
phá cái mới của giới trẻ; Thứ hai là do ưu điểm của mạng xã hội so với các
phương tiện truyền thông trước đây. Thứ ba, mạng xã hội đáp ứng được nhu
cầu đa dạng của con người một cách dễ dàng và nhanh chóng; Trong bài viết


15
“Mạng xã hội – vỏ ốc của một bộ phận giới trẻ” của Ths Lưu Đình Vinh, tác
giả có đề cập đến những ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội cụ thể là giới trẻ
sống thu mình với thế giới ảo, không dám thể hiện mình hoặc phô diễn thái quá,
sử dụng mạng xã hội để làm những việc mà trong thế giới thực họ không thể và
không dám làm[13].
Từ lịch sử nghiên cứu vấn đề về MXH ta nhận thấy, dù MXH ra đời khá lâu
nhưng chỉ mới bùng nổ khoảng 10 năm trở lại đâyở Việt Nam nên số lượng đề
tài nghiên cứu về MXH dưới góc độ tâm lý còn khá hiếm hoi. Trong khi đó khắp
nơi trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về MXH dưới nhiều khía cạnh và
góc nhìn khác nhau, từ những khảo sát đơn thuần về đối tượng người dùng đến
các nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực tâm lý học. Chính vì vậy với đề tài
“Thái độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về
mạng xã hội” tôi mong muốn được đóng góp phần nhỏ cơ sở lý luận cũng như
thực trang dưới góc độ tâm lý học trong nghiên cứu về MXH.
1.2.Các vấn đề lý luận về thái độ
1.2.1. Định nghĩa thái độ
Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, từ đó thái độ
trở thành một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học,
đặc biệt là tâm lý học xã hội.Trong “Sổ tay tâm lý học xã hội” G.W.Allport đã

cho rằng khái niệm thái độ “có lẽ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất
trong tâm lý học xã hội hiện đại Mỹ”.Sự nghiên cứu của các nhà tâm lý về thái
độ đã cho ra đời rất nhiều khái niệm thái độ khác nhau.Thái độ là một khái niệm
tâm lý học khó xác định một cách chính xác vì vậy mặc dù được nghiên cứu
nhiều nhưng các nhà tâm lý vẫn chưa thể thống nhất quan điểm về thái độ.
Trước hết phải kể đến đinh nghĩa về thái độ trong từ điển. Theo từ điển
tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân
về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là
tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với


16
con người hay một sự việc nào đó” [25].Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được
viết là “Attitude” và được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá
nhân”.
Từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn
mạnh: “tâm thế-thái độ-xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm
các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi” [30].
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New
York năm 1996 thì lại cho rằng: "Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do
tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với
một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng
được nhận thức ra sao. Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những
phản ứng đối với một nhóm đối tượng.Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực
tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”.
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “cách
ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội”. Nó được cấu
thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi
định nghĩa về thái độ là khác nhau.
Còn các nhà tâm lý, mà trước nhất phải nói đến hai tác giả W. I. Thomas

và F. Znaniecki (1918), những người đầu tiên đưa ra khái niệm thái độ, theo đó
“thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân như một thành viên (cộng đồng)
đối với giá trị này hay giá tị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động
này hay hành động khác được xã hội chấp nhận”. Với định nghĩa thía độ chính
là sự định hướng giá trị của mội cá nhân trong cộng đồng xã hội [15.
Từ sự phát hiện trên, bắt đầu bùng nổ các cuộc nghiên cứu về thái độ xã
hội. Nhiều tác giả khác cũng có quan điểm tương tự và mỗi người đều đưa ra các
lý do của mình, nhưng có thể tóm tắt lại là: khái niệm thái độ được sử dụng rộng
rãi vì nó bao hàm các mối liên hệ cơ bản với các vấn đề như dư luận xã hội,
tuyên truyền, sự mâu thuẫn giữa các nhóm, cạnh tranh kinh tế niềm tin tôn giáo,


17
thay đổi hành vi và nhiều vấn đề có ý nghĩa to lớn khác về mặt lý luận và thực
tiễn về các mối quan hệ xã hội nói chung.
H. Fillmore (1935) nhận định, thái độ là sự sẵn sang phản ứng tích cực
hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường…
Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của mội
trường và là cấu trúc có tính động cơ [15.
G. W. Allport (1935), nhà tâm lý học xã hội người Mỹ cho rằng, “thái độ
là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh
nghiệm, điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đến các phản ứng của cá nhân
với tất cả các khách thể và tình huống mà có mối liên hệ”. Định nghĩa về thái độ
của G. W. Allport được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì qua định nghĩa thái
độ là gì, tác giả còn nêu ra nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ. Tuy nhiên,
trong định nghĩa của Allport, một lần nữa lại thấy, thái độ chỉ bó gọn “trong
đầu” của một cái tôi chủ quan, mà không thấy vai trò của các yếu tố môi trường
và những người khác trong xã hội đối với việc hình thành thái độ chủ quan của
mỗi người [15].
Sau này, nhà tâm lý học T.M.Newcom cũng đưa ra một định nghĩa tương

tự như định nghĩa của Allport.Ông cho rằng:“thái độ chính là một thiên hướng
hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối tượng hay sự
việc có liên quan”.
Vào năm 1964, nhà tâm lý học nhân cách người Mỹ là J.P.Guilford đã
đưa ra một định nghĩa về “thái độ”, dựa trên quan niệm cho rằng nhân cách bao
gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độc đáo. Bảy khía cạnh đó là: Năng lực,
khí chất, giải phẫu, hình thái, nhu cầu, hứng thú và thái độ. Và ông đã định
nghĩa: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn
cảnh xã hội ”. Không chỉ một mình Guilford, mà hầu như tất cả các tác giả viết
về tâm lý học nhân cách đều coi “thái độ” như là một thuộc tính của nhân cách
[15].


×