Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Thực trạng và nguyên nhân trẻ em nghèo ở xã Ngọc Liên.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.91 KB, 16 trang )

Chuyên đề trẻ em
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước Việt Nam
hay bất cứ quốc gia nào. Trên thế giới đều cần quan tâm đến sự phát triển toàn
diện của trẻ em, bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em xã hội càng phát triển thì
càng cần có thế hệ tương lai hội tụ đầy đủ trí tuệ và phẩm chất, để họ trở
thành những chủ nhân của tương lai đất nước sau này.
Bước sang thời kỳ kinh tế mở cửa, Việt Nam đang hoà nhập với sự phát
triển chung của thế giới, đất nước ta đang thực sự chuyển mình song song với
sự phát triển đó thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội trong
đó có vấn đề của trẻ em nghèo. Chúng ta thấy rằng sự tồn tại của trẻ em
nghèo ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hạnh phúc của
mỗi gia đình tương lai của mỗi dân tộc và của cả loài người trong các thế kỉ
tiếp theo phụ thuộc vào sự chăm sóc và giáo dúc của gia đình, của Đảng và
nhà nước ta chính vì vậy Việt Nam hay bất kì quốc gia nào trừ thế giới phải
luôn luôn chăm sóc và bảo vệ trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện cho các em.
Với mong muốn có cái nhìn thiết thực và mới mẻ hơn thực trạng trẻ em
nghèo một khía cạnh của vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên
em viết chuyên đề này.
Chuyên đề gồm 3 phần:
A. Cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu trẻ em nghèo
B. Thực trạng và nguyên nhân trẻ em nghèo ở xã
C. Một số giải pháp và kiến nghị
Do thời gian thực tế và kinh nghiệm viết chuyên đề này có hạn nên bài
viết của em không thể tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa để chuyên đề của em được hoàn
thiện hơn.
SV thực hiện: Trần Thị Nội Lớp
8CT1
1


Em xin chân thành cảm ơn!
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm trẻ em theo pháp luật quốc tế
Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: "Trong phạm vi công ước
này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi".
Những quy tắc tối thiểu phổ biến của liên hợp quốc về bảo vệ người
chưa thành niên bị tước quyền tự do nêu rõ: "Những người chưa thành niên là
người dưới 18 tuổi".
Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế thì trẻ em và người chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi.
2. Khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm con người Việt Nam; luật bảo vệ
chăm sóc giáo dục trẻ em xác định: trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
Còn đối với người chưa thành niên, pháp luật Việt Nam có sự thống
nhất về độ tuổi với pháp luật quốc tế; Bộ luật dân sự nêu rõ "người chưa đủ
18 tuổi là người chưa thành niên.
Như vậy ở Việt Nam, trẻ em và người chưa thành niên được hiểu khác
nhau, theo đó trẻ em chỉ bao gồm những người chưa thành niên dưới 16 tuổi.
3. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Tre em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình
thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện các quyền
cơ bản và hoà nhập với gia đình và cộng đồng (điều 3 luật bảo vệ - chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004).
- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em dưới 16 tuổi do nhiều lý do
khác nhau mà rơi vào hoàn cảnh sau:
+ Trẻ em lang thang là những trẻ dưới 16 tuổi, rời bỏ gia đình, tự kiếm
sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định.
2
Chuyên đề trẻ em

+ Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là những trẻ em
dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ để nương tựa.
+ Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học là
những trẻ em dưới 16 tuổi bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng
lao động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.
+ Trẻ em lạm dụng sức lao động là trẻ em đi làm ở độ tuổi nhỏ dưới
quy định của pháp luật đã đi làm vì mức sinh cho bản thân và gia đình, công
việc đó các em chịu trách nhiệm lớn hoặc quá sức mình hoặc những công việc
ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần và thể chất.
+ Trẻ em bị xâm hại tình dục.
Là trẻ em dưới 16 tuổi bị người khác xâm hại vì mục đích thương mại
hay thoả mãn nhu cầu của họ.
+ Trẻ em nghiện ma tuý: là những đứa trẻ dưới 16 tuổi sử dụng thường
xuyên chất gây nghiện.
+ Trẻ em nghèo: là những trẻ em dưới 16 tuổi, thiếu thốn cả về vật chất
và tinh thần, có mức sống dưới mức trung bình so với các trẻ em cùng đồng
lứa tuổi.
4. Hệ thống thứ bậc nhu cầu:
4.1. Hệ thống nhu cầu theo cách phân chia của Maslow
Maslow phân loại nhu cầu của con người thành 5 nhu cầu cơ bản theo
ông các nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo nhu cầu từ thấp đến cao, từ nhu cầu
thiết yếu đến nhu cầu thứ yếu. Con người thoả mãn những nhu cầu thấp rồi sẽ
tiến tới thoả mãn những nhu cầu cao để phát triển toàn diện và bền vững.
* Các nhu cầu đó là:
- Nhu cầu sinh lý: đây là nhu cầu đặc biệt quan trọng và là nhu cầu đầu
tiên của loài người, nhu cầu này đảm bảo nơi ăn, ở, đi lại, học hành, y tế. Nếu
thiếu nhu cầu này thì con người khó có thể tồn tại được.
SV thực hiện: Trần Thị Nội Lớp
8CT1

3
- Nhu cầu an toàn: Đáp ứng nhu cầu này là cần có một môi trường
không nguy hiểm có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh. Trong điều
kiện làm việc được thể hiện bằng an toàn nghề nghiệp, tiếp nhận các dịch vụ y
tế và sự bảo vệ thân thể.
- Nhu cầu yêu thương và chấp nhận: Con người từ khi sinh ra đã cần
được yêu thương, vỗ về của người mẹ. Khi tồn tại và phát triển thì nhu cầu
này cần có phải cao hơn. Họ không tồn tại nếu chỉ là một cá thể lạc lõng giữa
xã hội.
- Nhu cầu tôn trọng: Theo nhu cầu này thì con người cần được mọi
người nhìn nhận và đánh giá đúng công bằng về mình.
- Nhu cầu hoàn thiện: Đây là nhu cầu cao nhất và quan trọng nhất trong
sự phát triển toàn diện của con người. Đó là nhu cầu của sự trưởng thành cá
nhân, cơ hội để phát triển khả năng và kĩ thuật như những người khác để sự
phát triển, hoàn thiện mình. Các nhu cầu trên luôn có mối quan hệ với nhau.
Chúng ta cần phải đi từ nhu cầu thấp đến nhu cầu cao, tiến tới sự phát triển
bền vững của mỗi bản thân con người.
4.2. Nhu cầu cơ bản của trẻ em
- Nhu cầu sinh lý: bao gồm ăn, ở, đi lại, điều kiện chăm sóc bảo vệ sức
khoẻ. Tất cả các yếu tố này bảo đảm sự phát triển thể lực của các em.
- Nhu cầu sức sống với cha mẹ và đoàn thể gia đình: gia đình là môi
trường tốt nhất để trẻ em được thương yêu chăm sóc đầy đủ và được bảo vệ
an toàn. Vì vậy để đảm bảo loịư ích tối đa cho trẻ em, cần phải tạo điều kiện
cho trẻ em được sống với cha mẹ và được đoàn tụ gia đình.
- Nhu cầu vui chơi, học hành phát triển trí tuệ: hoạt động này sẽ giúp
các em trải nghiệm cuộc sống, phát triển trí tuệ, tích luỹ những hiểu biết
những kiến thức cho mai sau.
- Nhu cầu được thừa nhận tôn trọng: trẻ em có quyền bày tỏ quan điểm
suy nghĩ của mình. Việc thừa nhận tôn trọng trẻ em làm tăng khả năng tự tin,
trẻ dễ hoà nhập hơn.

4
Chuyên đề trẻ em
5. Quan điểm của Đảng và nhà nước đối với trẻ em
a. Hiến pháp năm 1992
Trẻ em là đối tượng được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Các
hiến pháp của nhà nước Việt Nam đều thể hiện quan điểm. Trẻ em phải được
bảo vệ, chăm sóc, giáo dục đầy đủ để trở thành những công dân có ích của xã
hội.
Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định quan điểm đó bằng những qui
định về trách nhiệm chăm sóc bà mẹ trẻ em, quyền học tập của trẻ, chính sách
khuyến khích học tập nghĩa vụ nuôi dạy con của các bậc cha mẹ, việc chăm
sóc trẻ mồ côi…
Những quan điểm này đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật
của nhà nước. Trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Ngay từ những năm
1945, Đảng và Nhà nước có sắc lệnh trong đó có những điều khoản chăm sóc
bảo vệ trẻ em.
Năm 1960 quốc hội thông qua điều luật: "Toàn dân bảo vệ và chăm sóc
thiếu nhi nhi đồng".
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ "vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người trong những năm qua Đảng, Nhà nước và nhân dân đã
thực hiện tốt lời dạy đó, qua các tổ chức. "Vì ngày trẻ em ra đời" như tổ chức
ủng hộ các em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở tất cả các lĩnh
vực văn hoá, kinh tế, giáo dục, y tế đều đồng loạt tổ chức nhiều hoạt động để
nhằm bù đắp phần nào những kém may mắn mà các em gặp phải.
Trong lĩnh vực giáo dục các em nhận thức được sự quan tâm sự bình
đẳng từ các thầy cô giáo. Ngành y tế đã tổ chức nhiều đợt khám chữa bệnh
miễn phí nhằm phục hồi sức khoẻ, chức năng cho các em.
Các hoạt động văn hoá cũng được mở rộng nhiều hơn với nhiều hoạt
động tạo nhiều sân chơi thú vị cho các em. Các phương tiện thông tin đại
chúng đã đang và ngày càng có nhiều chương trình nói về những trẻ em cần

được sự giúp đỡ, cưu mang.
SV thực hiện: Trần Thị Nội Lớp
8CT1
5
- Tháng 12/1979, nhân năm quốc tế thiếu nhi, thường vụ quốc hội đã
thông qua pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Năm 1991 Quốc hội thông qua luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em đồng thời với luật phổ cập tiểu học.
- Năm 1994 ra đời bộ luật lao động
- Năm 1995 ra đời luật dân sự
- Năm 1997 sửa đổi luật dân sự
Nhìn chung văn bản hệ thống pháp luật trên đã củng cố cơ sở pháp lý
cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
II. KHÁI NIỆM VỀ TRẺ EM NGHÈO VÀ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
NÀY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Khái niệm trẻ em nghèo
Hiện nay chưa có khái niệm hay quan điểm nào về trẻ em nghèo mà nó
chỉ mới đề cập vấn đề này trong mấy năm gần đây, có chăng chỉ là bước khởi
đầu khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ ở nước ta. Theo suy nghĩ
của em thì trẻ em nghèo được nhìn nhận như sau:
Trẻ em nghèo là những trẻ em dưới 16 tuổi, thiếu thốn cả về vật chất,và
tinh thần ít có điều kiện để vui chơi giải trí, học hành và tham gia vào hoạt
động xã hội, thuộc những hộ nghèo đói.
Trẻ em nghèo được chia theo vùng và khu vực.
- Trẻ em nghèo miền núi, hải đảo
- Trẻ em nghèo nông thôn trung du
- Trẻ em nghèo thành thị
Nhìn chung ở mỗi khu vực địa bàn thì trẻ em nghèo được nhìn nhận
một cách khái quát.
2. Sự cần thiết nghiên cứu trẻ em hiện nay

a. Ở Việt Nam
Đất nước ta đang phát triển với tốc độ mạnh mẽ, sự phát triển khoa học
kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin đã tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã
6

×