Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 60 trang )

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRẦN THỊ DUNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU

CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM MỸ THUẬT


Thanh Hóa 2014


ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRẦN THỊ DUNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU

CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM MỸ THUẬT
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths. LÊ THỊ THANH

Thanh Hóa 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Một số biện pháp giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh ở Trường tiểu học Quảng Châu”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ths.

Lê Thị Thanh. Kết quả nghiên cứu được nêu trong đề tài là trung thực,
không trùng lặp. Các số liệu, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Nếu có điều gì
sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 12 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Dung


BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ĐDDH:

Đồ dùng dạy học

GD:

Giáo dục

GD-ĐT:

Giáo dục – đào tạo

GV:


Giáo viên

HS:

Học sinh

NXB:

Nhà xuất bản

SAEPS:

Dự án hỗ trợ mĩ thuật tiểu học

SGK:

Sách giáo khoa

VHTT&DL:

Văn hóa thể thao và du lịch

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................51



A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môn Mĩ Thuật là một môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà không
phải bất kỳ em học sinh nào cũng có năng khiếu Mĩ thuật. Vì thế, môn mĩ
thuật ở trường tiểu học không nhằm đào tạo ra những họa sĩ chuyên nghiệp
mà nhằm giáo dục thẩm mĩ cho các em là chủ yếu, tạo điều kiện cho các em
tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp thông qua cách
cảm nhận ngây thơ trong sáng của các em. Từ đó, các em biết vận dụng cái
đẹp trong cuộc sống hằng ngày và những công việc cụ thể mai sau.
Ngày nay, khoa học kĩ thuật ngày một phát triển, nhu cầu xã hội ngày
càng cao, đòi hỏi con người cũng cần có những phẩm chất, nhân cách của một
con người XHCN mới có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ,…Bởi vậy,
việc dạy học mĩ thuật đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tìm tòi và
sáng tạo. Ngoài việc dạy học sinh những kiến thức cơ bản thì việc học mĩ
thuật còn phải đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh, làm cho các em nhìn
ra cái đẹp, thấy cái đẹp ở trong mình và thấy xung quanh mình trở nên gần
gũi đáng yêu hơn.
Trong chương trình mĩ thuật ở tiểu học gồm có 5 phân môn: Vẽ theo
mẫu; Vẽ trang trí; Vẽ tranh; Thường thức mĩ thuật; Tập nặn tạo dáng.
Ở phân môn Vẽ tranh, một số học sinh không hứng thú học môn này vì:
Các em chưa quen sắp xếp bố cục như: sắp xếp hình mảng trong tranh thế nào
cho cân đối, cho rõ chính phụ. Nên việc dạy học giáo viên thường mất nhiều
thời gian dẫn đến bài vẽ của học sinh không đủ thời gian hoàn thành tại lớp.
Chính vì những lý do trên, nên em quyết định chọn đề tài: “Một số biện
pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh ở
Trường tiểu học Quảng Châu” cho bài viết của mình.


2. Tình hình nghiên cứu:

Các sách và tài liệu nghiên cứu đã viết về giảng dạy phân môn vẽ tranh
nói chung gồm:
- Giáo trình mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật – Tuấn Nguyên
Bình, Võ Quốc Thạch, Nguyễn Thị Ngọc Bích (2007), Ebook.moet.gov.vn,
đây là một giáo trình góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo
viên tiểu học, Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã tổ chức biên soạn các mô
đun đào tạo theo chương trình Cao đẳng sư phạm và chương trình liên thông
từ Trung học sư phạm lên Cao đẳng sư phạm; biên soạn các mô đun bồi
dưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật
những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết
quả giáo dục tiểu học theo chương trình, sách giáo khoa tiểu học mới.
- Giáo trình Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học– Nxb GD, tài liệu
nhằm cung cấp cho giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục tiểu học ở các cơ
quan quản lí giáo dục, các trường tiểu học những kiến thức và kĩ năng về đổi
mới phương pháp dạy học nói chung, về phương pháp dạy học các môn học
theo chương trình - sách giáo khoa mới ở tiểu học nói riêng.
- SKKN “Nâng cao chất lượng phân môn vẽ tranh ở trường tiểu học”
của Phan Thị Vân Tuyến - Trường Th Tràm Chim 3, nghiên cứu về nội dung
phương pháp giảng dạy để góp phần nâng cao chất lượng phân môn vẽ tranh
nhằm giúp học sinh có thể đễ tiếp thu, mở rộng thêm kiến thức để làm nền tản
học tập về sau.
Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết từng phương pháp dạy học
mĩ thuật tiểu học, phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh và những biện
pháp nâng cao chất lương phân môn vẽ tranh nói riêng.
Tuy nhiên các tài liệu trên vẫn chưa làm rõ được vấn đề biện pháp giáo
dục nhằm nâng cao chât lượng giảng dạy trong phân môn vẽ tranh ở tiểu học,


nên nay em viết bài tiểu luận này trên cơ sở tiếp cận, lĩnh hội kiến thức của
những tác giả trước, tổng hợp những gì đã đạt được của các bài viết liên quan

và nghiên cứu tiếp những phần còn hạn chế của các tài liệu đó, đồng thời
đóng góp một phần cá nhân của mình trong việc tìm ra tính mới của đề tài:
“Một số biện pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân
môn vẽ tranh ở Trường tiểu học Quảng Châu”
3. Mục đích ngiên cứu:
Nghiên cứu về nội dung biện pháp giảng dạy để góp phần nâng cao
chất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh nhằm giúp học sinh có thể đễ tiếp
thu, mở rộng thêm kiến thức để làm nền tảng học tập về sau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chương trình Mĩ thuật, phương pháp dạy Mĩ thuật
- Giáo viên, học sinh của một số trường tiểu học trong địa bàn Quảng
Châu.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh từ khối 1 đến khối 5 trường Tiểu học Quảng Châu và một số
trường khác ở địa phương.
5. Phương pháp nghiên cứu:
a) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết (Nghiên cứu qua các văn
bản, chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương pháp dạy học môn
Mĩ thuật.)
b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh.
- Dự chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng
dạy môn Mĩ thuật.


- Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.
- Tìm giải pháp rút kinh nghiệm.
- Cho HS hoạt động ngoài trời, tham quan, toạ đàm.

- Phương pháp thực nghiệm dạy thí điểm ở một số lớp bằng phương
pháp mà mình đề ra.
6. Những đóng góp mới của đề tài:
Giúp giáo viên nắm chắc phương giảng dạy phân môn vẽ tranh nhằm
hướng dẫn học sinh hoàn thiện kiến thức và các kĩ năng, kĩ xảo về nghệ thuật
hội hoạ đặc biệt là trong phân môn vẽ tranh.
7. Cấu trúc đề tài:
Tiểu luận gồm 43 trang ngoài phần mở đầu (4 trang), kết luận (2 trang),
tài liệu tham khảo (1 trang), phụ lục (8 trang), được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của dạy học phân môn vẽ tranh trong dạy học
mĩ thuật ở bậc tiểu học (12 trang).
Chương 2. Thực trạng và tình hình dạy học phân môn vẽ tranh tại
trường tiểu học Quảng Châu (6 trang).
Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn vẽ tranh
trong dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học Quảng Châu (18 trang).


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG
DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở BẬC TIỂU HỌC
1.1. KHÁI QUÁT VỀ DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở BẬC TIỂU HỌC.
1.1.1. Mục tiêu.
- Giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen, cảm
nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản phẩm mĩ thuật.
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu vềmôn mĩthuật, hình
thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong
chương trình.
- Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát huy trí
tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới.

- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mĩ thuật của học sinh.
1.1.2. Nhiệm vụ.
- Giáo dục thẩm mĩ là chính.
- Giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng
kiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên
nhiên, trong cuộc sống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào
sinh hoạt, học tập hàng ngày.
- Góp phần tạo dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội.
1.1.3. Chương trình.
Chương trình mỹ thuật ở trường từ lớp 1 đến lớp 5 mỗi lớp có 35
tiết/năm, mỗi tuần học một tiết, mỗi tiết có thời gian dạy từ 30 – 35 phút.
Môn học mỹ thuật ở tiểu học được chia thành các phân môn chính: Vẽ
tranh, Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, thưởng thức mỹ thuật, tập nặn tạo dáng.


Trong đó, các bài lý thuyết viết dưới dạng giới thiệu theo trình tự nội
dung và cuối bài là câu hỏi hướng dẫn. Các bài thực hành viết dưới dạng:
quan sát, nhận xét; tìm và chọn nội dung đề tài; cách vẽ; bài tập.
Về nội dung: giải thích các khái niệm, nêu lên đặc điểm của từng phân
môn để các em tìm ra cách học, cách vẽ, cung cấp những kiến thứ cơ bản
nhất cho từng phân môn, bài tập ứng dụng.
1.2. PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG DẠY HỌC Ở BẬC TIỂU HỌC.
1.2.1. Khái niệm và nhiệm vụ về vẽ tranh.
- Khái niệm:
Vẽ tranh là vẽ về một đề tài cho trước trong cuộc sống, thiên nhiên ….
thông qua cảm xúc và khả năng thể hiện của người vẽ.
- Nhiệm vụ:
Học sinh được vẽ tranh theo ý thích để thể hiện cảm nhận thế giới xung
quanh theo cách hiểu, cách nghĩ của mình.
Học sinh biết cách sắp xếp các hình ảnh chính, phụ, màu, … để làm rõ

nội dung.
Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, tìm hiểu thế giới xung quanh, tìm
ra đặc điểm và vẻ đẹp của đối tượng, có thói quen quan sát cuộc sống và thiên
nhiên.
Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm yêu thiên nhiên, đất nước, con người.
1.2.2. Các hình thức vẽ tranh.
1.2.2.1. Vẽ tranh đề tài.
Vẽ tranh đề tài là vẽ tranh về một đề tài cho trước mà học sinh không
được chọn, mà phải vẽ theo. Trong mỗi đề tài có nhiều cách thể hiện hay nói
cách khác cùng một đề tài nhưng cách thể hiện nội dung khác nhau, tùy thuộc
vào người vẽ mà suy nghĩ, tìm tòi, sao cho tranh của mình đúng đề tài mà
cách thể hiện nhẹ nhàng, dí dỏm tình cảm hơn. Muốn vẽ tranh đề tài, học sinh


cần nắm được kiến thức cơ bản, ngoài ra phải là người chăm quan sát thực
tiễn, chịu khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh. Bởi trong tranh đề tài phản ánh
cuộc sống bằng ngôn ngữ hội họa thể hiện ở bố cục, hình vẽ, màu sắc thông
qua ngôn ngữ làm cho người xem hiểu về cuộc sống hay nói cách khác các
em vẽ theo ý tưởng và cảm xúc của mình trong tranh bằng hình ảnh quen
thuộc trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày
1.2.2.2. Vẽ tự do.
Vẽ tự do hay vẽ theo ý thích chính là vẽ tranh về đề tài nào đó do người
vẽ tự lựa chọn theo ý của mình. Cách khai thác đề tài sắp xếp bố cục chọn
hình tượng và màu sắc giống như tranh đề tài cho trước.
1.2.3. Khả năng cảm nhận của học sinh Tiểu học.
-

Đặc điểm tâm lý

Lứa tuổi học sinh Tiểu học tuổi từ 6-10 đang theo học từ lớp 1 đến lớp

5, là lứa tuổi ngây thơ trong sáng, biểu hiện tình cảm yêu ghét rõ ràng. Đây là
lứa tuổi mà trẻ bắt đầu làm quen với cái mới, hình thành những kiến thức cơ
bản, cần thiết về đường nét, hình khối, đậm nhạt, màu sắc, bố cục. Các em bắt
đầu tập quan sát, qua đó phát triển tư duy, trí tưởng tượng, sáng tạo, bước đầu
cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, con người. Biết vận dụng
những kĩ năng đó vào trong cuộc sống. Tuy nhiên, do đặc điểm lứa tuổi, các
em thường có cảm nhận rất ngộ nghĩnh về cuộc sống và mọi vật xung quanh.
Trong quá trình làm bài, các em thường e ngại, sợ sai nên phần nào hạn chế,
không thể hiện được hết ý tưởng của các em.
Sự phát triển thể chất tâm lý, trí tuệ của các em thường không đồng
đều, không phải em nào cũng có năng khiếu mĩ thuật. Đa phần các em còn bỡ
ngỡ vụng về trong khi vẽ, điều chỉnh hình vẽ nét bút không theo suy nghĩ của
bản thân. Và lứa tuổi này còn ở tuổi ham thích vui chơi hoạt động, do đó


trong bài vẽ đặc biệt là các bức tranh đề tài thể hiện rõ dấu ấn của sự trẻ trung
hồn nhiên ngây thơ, ngộ nghĩnh và hết sức chân thành.
Ở học sinh Tiểu học đa số các em thích vẽ theo suy nghĩ, ý thích của
mình hơn là vẽ theo sự hướng dẫn của giáo viên. Nghĩ gì và vẽ nấy, đặt bút
vào là vẽ không theo trình tự khuôn khổ các bước vẽ. Mặt khác, các em cũng
thường làm giống với những bài mẫu tham khảo được. Chính vì vậy, người
giáo viên cần hiểu và hướng dẫn các em dần dần, để các em nắm bắt và thấy
được tác dụng của việc vẽ tranh đúng đem lại cho bài vẽ của mình có một kết
quả tốt.
- Khả năng cảm nhận của học sinh Tiểu học trong phân môn vẽ
tranh
Học sinh Tiểu học có ngôn ngữ tạo hình rất đơn giản nhưng không vì
thế mà thiếu đi sự sáng tạo phong phú. Các em thường vẽ tranh theo nhiều nội
dung đề tài khác nhau, một số em cũng đã tìm cho mình được nội dung và
cách thể hiện rất dí dỏm, có nhiều bố cục lạ, đẹp mắt. Tuy nhiên cũng không

ít bố cục thể hiện sự lỏng lẻo vụng về, lúng túng của các em trong khi xây
dựng bố cục. Về hình tượng thì đa phần các em chưa có suy nghĩ tìm tòi về
dáng, hình, động tác và nhất là những đặc điểm điển hình trong từng loại đề
tài hay nội dung mà các em chọn. Bởi hình tượng các em chọn để vẽ còn
chung chung, thiếu cái động, tĩnh, thiếu chiều sâu bức tranh. Các em vẽ tranh
đơn giản chỉ là kể, tả lại những hoạt động, động tác của nhân vật, nguời hay
vật hay một quang cảnh nào đó. Đa số học sinh thể hiện màu sắc trong tranh
thường rực rỡ đôi khi trở nên đối lập về màu sắc khiến cho tranh trở nên khô
cứng. Những đề tài được các em ưa thích nhất là thường là tranh phong cảnh,
bởi vì đó là những thứ gần gũi được các em quan sát thu nhận một cách
thường xuyên thể hiện trí tưởng tượng ghi nhớ của các em hết sức phong phú


đa dạng. nghệ thuật ngôn ngữ tạo hình cũng từ đó mà được hình thành. Bộc lộ
với những đặc trưng riêng của từng lứa tuổi.
Chất liệu mà các em thể hiện chủ yếu là màu sáp và bút dạ ngoài ra còn
màu nước. Chính vì thế mà tranh các em thường là nhưng gam màu rất sống
động, tươi vui. Vì vậy đa phần những bài vẽ của các em có sự chênh lệch về
gam màu đậm nhạt rất lớn. Ở lứa tuổi từ 6 – 7 các em thường chưa ý thức rõ
cách thể hiện màu sắc, chủ yếu các em tô màu theo ý thích, cảm nhận về vẻ
đẹp của các em cũng hết sức đơn giản, ngây ngô.
1.2.4. Kỹ thuật trong vẽ tranh.
Đối với học sinh tiểu học các em có cách cầm bút vẽ đứng, dễ dàng
hơn, hoạt động các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng nên điều
khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn, nét vẽ mạch lạc rõ ràng, chi tiết làm rõ đối
tượng. Nhưng nhìn chung từ nét vẽ cho đến cách sử dụng màu của học sinh
còn theo cảm tính, theo suy nghĩ và ý thích riêng chưa theo một nguyên tắc
nào bởi vậy trong tranh của các em màu sắc tươi sáng, ngộ nghĩnh.
1.2.4.1. Khai thác nội dung chọn hình tượng.
Vẽ tranh đề tài rất thu hút học sinh tiểu học, các em có thể vẽ tranh về

các loại đề tài, tìm được ý hay, dí dỏm có nhiều bố cục lạ, đẹp. Riêng về hình
tượng trong tranh chưa có nhiều suy nghĩ về hình dáng và những nét điển
hình nên tranh của các em hình tượng còn chung chung, thiếu cái động, cái
tĩnh, thiếu chiều sâu. Vì vậy học sinh chưa “giải phóng” được cách thể hiện
nội dung và xây dựng hình tượng, vẫn còn tình trạng chung chung. Bài vẽ đạt
yêu cầu nhiều hơn khá, giỏi.
1.2.4.2. Về bố cục.
Điểm chung nổi bật của các em khi tiến hành bài vẽ là không tuân theo
trình tự các bước vẽ, nhiều em vẽ thẳng hình vào giấy nghỉ gì là thể hiện ra
mà không chú ý đến bố cục sắp xếp chính phụ, dẫn đến bố cục bị to bị lệch,


có em thì bố cục lỏng lẻo, có em lại chật chội vv... dẫn đến kết quả bài vẽ
không cao. Các em ở lứa tuổi 6 – 7 thường chỉ vẽ được những hình đơn giản,
bước đầu làm quen với đường nét, màu sắc. Còn những em ở độ tuổi lớn hơn
đã phần nào ý hiểu được thế nào là bức tranh đẹp. Nhưng ý thức về bố cục
của các em chưa được rõ ràng. Bố cục như thế nào là đẹp? Và như thế nào là
bố cục? Khi làm bài các em thường bỏ qua một bên không cần biết chính phụ
là gì. Điều đó cho thấy giữa thực hành và lý thuyết còn cả một khoảng cách
lớn đối với các em có lẻ thực hành là một chuyện, lý thuyết lại là một chuyện
khác cái cốt yếu là mình thích mình vẽ, nói thế nhưng củng có một số em ý
thức được bố cục đẹp và hợp lý đưa lại kết quả cao cho bài vẽ…
1.2.4.3. Về đường nét.
Đa số các em đã biết kết hợp giữa nét cong mềm mại để vẽ cây cối, con
vật và nét thẳng để vẽ nhà cửa, và một số cảnh vật. Tuy nhiên để bắt đầu bài
vẽ các em thường đi ngay vào những nét vẽ chính không có sự phác nét trước,
nét vẽ thiếu sự dứt khoát linh hoạt và còn lưỡng lự, khô khan, nét vẽ cứng.
Đặc biệt các em lớp 1 khi mới bước vào học vẽ thường chưa đều chỉnh được
nét vẽ theo ý mình, nét vẽ thường nguệch ngoạc. Hình ảnh người trong một
bức tranh thường làm cho tranh trở nên sinh động hơn, nhưng da số các em

chưa vẽ được người đúng.Hình vẽ của các em thường ngây ngô, chỉ vẽ mô
phổng tượng trưng là chủ yếu. Nhưng đó cũng là cái riêng ở lứa tuổi các em,
làm cho bức tranh của các em có vẽ gì đó ngộ nghĩnh, dí dỏm hồn nhiên.
Vì vậy mà người giáo viên phải biết được đặc trưng đường nét ngôn
ngữ tạo hình ở lứa tuổi của các em để có cách nhận xét đánh giá cho phù hợp.
Tuy nhiên cũng cần có phương pháp nắm bắt và uốn nắn dần tỉ mĩ cho các
em, để các em vẽ bài linh hoạt hơn nâng cao kỹ năng vẽ hình cho các em, làm
tiền đề cho các em học tốt môn học này ở những bậc học cao hơn.


1.2.4.4. Về hình khối.
Đa số các em ở học sinh Tiểu học khi vẽ tranh đề tài đều không chú ý
đến hình khối, vẽ chỉ là một mảng bẹt, thiếu chiều sâu cho không gian. Thực
tế các em khi vẽ người hay cảch vật chỉ chú ý diễn tả chiều rộng và cao của
đối tượng, chiều sâu do định luật xa gần tạo nên các em không nắm bắt
được.. Các em chỉ đơn thuần sắp sếp các hình ảnh vào bài vẽ mang tình chất
trang trí là chủ yếu kết hợp với những đường viền đậm. Một điều đáng lưu ý
nữa là khi các em vẽ tranh đề tài thì từ bước 1 phác bố cục nhưng khi sang
bước hai vẽ hình thì đa số các em thiếu thực hiện theo trình tự các bước, hình
vẽ thường vượt ra khỏi bố cục đã phác, hoặc nhỏ hơn dẫn đến hình vẽ không
cân đối.
1.2.4.5. Màu sắc trong tranh.
Màu sắc là yếu tố đặc biệt tạo được hứng thú nhất cho học sinh. phần
lớn do màu sắc là yếu tố tác động mạnh đến thị giác của con người, nhất là
lứa tuổi học sinh Tiểu học. Đại đa số các em thích vẽ màu, đặc biệt là ở phân
môn vẽ tranh, phần vẽ hình vẽ đường nét được các em vẽ nhanh, và các em
dành phần lớn thời gian để vẽ màu. Một số em chưa ý thức được rằng màu sắc
góp phần quan trọng tạo nên vẻ đẹp của bức tranh nên các em vẽ màu cẩu thả.
Cũng có những em yếu về kĩ năng tô màu nên màu vẽ thường không đều màu
nhất là ở những mảng hình lớn. Một số khác vẽ màu kĩ, những màu sắc sặc

sở, bắt mắt thường là những màu được các em sử dụng nhiều nhất. Bên cạnh
đó một số học sinh có cách nhìn màu rất tốt, sự cảm thụ màu hết sức nhạy
cảm. Các em đã bắt đầu có sự suy nghĩ tìm tòi, đầu tư về màu sắc trong bài vẽ
của mình. Có những em đã biết cách pha màu, chồng màu kéo màu từ mảng
chính ra xung quanh một cách hợp lý, làm nổi bật trọng tâm bài vẽ nhưng vẫn
tạo được sự hài hoà về màu sắc.


Tuy nhiên nhiều em còn chưa thể hiện được độ đậm nhạt ở trong bức
tranh làm cho bức tranh đều đều, màu sắc dàn trải, không tạo được chiều sâu
của bức tranh là “ gần thì tỏ, xa thì mờ”. Nên đa phần tranh của các em mang
đậm tính chất trang trí.
1.3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở BẬC TIỂU HỌC.
1.3.1. Khái niệm về phương pháp dạy học.
Phương pháp dạy - học là cách thức hoạt động của giáo viên và học
sinh, trong đó giáo viên là người chỉ đạo, tổ chức các hoạt động dạy và học;
học sinh là người tổ chức, chủ động tham gia các các hoạt động học tập nhằm
đạt được các mục tiêu dạy - học.
1.3.2. Các phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh ở bậc tiểu học.
a) Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thể hiện qua cách giáo viên hướng dẫn cho
học sinh cách nhìn, cách ngắm đối tượng với mục đích nhất định để có những
nhận xét, đánh giá chính xác về đối tượng, …
Có thể vận dụng phương pháp quan sát như sau:
• Cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát cho học sinh.
• Hướng dẫn học sinh quan sát có trọng tâm, cần nêu được đặc điểm
của mỗi bài.
• Hướng dẫn cho học sinh cách quan sát đối tượng:
- Quan sát từ bao quát đến chi tiết.
- Quan sát cần đối chiếu, so sánh để rút ra nhận xét đúng, khách quan.

b) Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan được thể hiện qua cách giáo viên trình bày nội
dung, kiến thức của bài học qua vật thật, hình tượng hay hình ảnh nhằm giúp
học sinh hiểu bài được dễ dàng và vững chắc hơn.
Có thể vận dụng phương pháp trực quan như sau:


- Trình bày đồ dùng dạy - học (ĐDDH) phải khoa học, đúng lúc, rõ
ràng, phù hợp với nội dung; giới thiệu hay cất ĐDDH phải hợp lí, có thể:
• Giới thiệu xong từng đơn vị kiến thức nên cất đi vì một số học sinh
thường rập khuôn, sao chép lại mẫu.
• Lời giới thiệu nội dung hoặc các câu hỏi gợi ý học sinh suy nghĩ của
giáo viên phải ăn khớp cùng thời điểm với sự xuất hiện ĐDDH.
• Giáo viên cần chỉ vào những nơi cần thiết ở ĐDDH để nhấn mạnh
trọng tâm của bài …. Không để học sinh bị các chi tiết lôi cuốn mà không tập
trung vào những điểm chính.
- Không lạm dụng quá nhiều ĐDDH hoặc kéo dài thời gian làm cho
học sinh dễ phân tán chú ý.
- Cho học sinh vận dụng nhiều giác quan (nghe, nhìn, ngửi, sờ, …).
- Trình bày bảng: Bảng cũng là ĐDDH khi lên lớp, do đó giáo viên cần
lưu ý:
* Trình bày bảng gồm có kênh hình và kênh chữ, trình bày khoa học,
thẩm mĩ, rõ ràng…Chữ viết phải to vừa phải, kiểu chữ chân phương, các đề
mục phải rõ ràng. Kênh hình phải trình bày có hệ thống, không chen lấn kênh
chữ…
c) Phương pháp gợi mở
Phương pháp gợi mở được thể hiện qua những câu hỏi hợp với đối
tượng của giáo viên để tác động đúng lúc, đúng chỗ, có mức độ, có chất lượng
cho học sinh giúp các em suy nghĩ thêm, tự tìm tòi và giải quyết được bài tập
hay nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình.

Môn mĩ thuật lấy thực hành là chủ yếu, sau khi được hướng dẫn cách
vẽ, học sinh phải tự giải quyết bài tập bằng chính khả năng của mình. Vì vậy
làm việc cá nhân giữa thầy giáo và học sinh lúc này rất quan trọng, quyết định
đến kết quả bài vẽ của mỗi em.


Có thể vận dụng phương pháp gợi mở như sau:
• Giáo viên gợi mở trên thực tế bài vẽ của học sinh, phù hợp với từng
đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình ...
• Các câu gợi mở phải mang tính khích lệ, động viên, không mang tính
phủ định hay mệnh lệnh.
• Lời nhận xét, gợi mở luôn ở dạng nghi vấn.
Ví dụ với đề tài Ngày nhà giáo Việt Nam, học sinh có thể vẽ một số nội
dung như: vẽ chân dung thầy, cô giáo; vẽ về buổi lễ kỉ niệm Ngày nhà giáo
Việt Nam, về cảnh học sinh đang chúc mừng thầy, cô, … Với bài có nội dung
vẽ chân dung, nếu học sinh chỉ vẽ hình ảnh người thầy, giáo viên có thể gợi
mở: “Bài vẽ chân dung đẹp quá vì hình thầy to, rõ, màu rất đẹp, nhưng có một
mình thầy thì buồn quá, làm sao để có không khí ngày lễ nhỉ?”, …
d) Phương pháp luyện tập
Phương pháp luyện tập được thể hiện thông qua các hoạt động giữa
giáo viên và học sinh để các em hoàn thành bài tập nhằm củng cố những kiến
thức đã tiếp thu được từ bài học, từ thực tế cuộc sống.
Kiến thức cơ bản của mĩ thuật được lặp đi lặp lại và nâng cao dần qua
các bài tập, do vậy đối với từng phân môn, giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách
vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại những ý chính, dành thời
gian cho học sinh thực hành.
Có thể vận dụng phương pháp luyện tập như sau:
• Cung cấp kiến thức chung cho tất cả, những bài đầu của mỗi loại bài
tập cần hướng dẫn kỹ phương pháp thực hiện, những bài sau chỉ hướng dẫn
những ý chính, để thời gian cho học sinh luyện tập thực hành.

• Ra bài tập và nêu yêu cầu cần đạt để học sinh nắm được trước khi làm
bài.


• Khi học sinh làm bài, giáo viên không vẽ giúp cho học sinh, cần kết
hợp với phương pháp gợi mở.
e) Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là cách tổ chức, hướng
dẫn hoạt động học tập tập thể của học sinh theo từng nhóm nhỏ dưới sự chỉ
đạo của giáo viên
Có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ qua các
bước như sau:
• Chia nhóm (từ 5–6 em), học sinh tự đặt tên cho nhóm, cử nhóm
trưởng.
• Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm việc cho các nhóm (làm bài
tập thực hành, phân tích tranh, tượng…).
• Cả nhóm tham gia hoàn thành nhiệm vụ (thảo luận hoặc phân công
công việc cho cá nhân thực hiện).
• Các nhóm trưng bày sản phẩm, đại diện nhóm trình bày kết quả học
tập của nhóm.
• Học sinh phân tích, đánh giá kết quả học tập của các nhóm khác
(đúng, chưa đúng nội dung, hoặc đẹp, chưa đẹp) đồng thời nêu lí do rồi xếp
loại, giáo viên nhận xét, bổ sung, đánh giá kết quả của từng nhóm và động
viên, khích lệ tinh thần làm việc chung của học sinh.
g) Phương pháp dạy-học tích hợp
Phương pháp dạy-học tích hợp được thể hiện:
• Giáo viên nêu được mối quan hệ kiến thức giữa các môn học, giữa
các sự vật, hiện tượng trong một tổng thể thống nhất.
• Kiến thức mĩ thuật có liên quan đến kiến thức các môn học khác như
toán, văn, lịch sử, địa lí, sinh vật, nhạc, giáo dục công dân, …. liên quan đến



cuộc sống xung quanh, giáo viên cần lưu ý cho học sinh những mối quan hệ
trên, cần chọn lọc kiến thức các môn học khác một cách phù hợp, linh hoạt.


Tiểu kết chương 1
Dạy học mĩ thuật ở trường tiểu học, giáo dục thẩm mĩ là chính, giúp
học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng kiến thức, kinh
nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc
sống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập
hàng ngày.
Môn mĩ thuật là môn rèn luyện trí thẩm mĩ và rèn luyện tư duy sáng tạo
cho học sinh, làm cho các em hồn nhiên, vui tươi, nhận thấy được cái hay cái
đẹp trong cuộc sống xung quanh qua nhiều đề tài. Học sinh rất say mê trong
giờ học mĩ thuật. Bên cạnh có một số phụ huynh học sinh xem nhẹ môn mĩ
thuật (không phải là môn chính) nên ảnh hưởng đến môn mĩ thuật thấp đi và
chất lượng giáo dục thẩm mĩ cũng thấp đi. Môn mĩ thuật là môn nghệ thuật,
giáo viên bộ môn phải say mê, nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo và nâng dần chất
lượng và đồng bộ số quan niệm xem nhẹ môn mĩ thuật. Chính vì thế tôi
nghiên cứu và tích luỹ những phương pháp mới tổ chức cho học sinh học tập
thoải mái, nhẹ nhàng nhưng đạt kết quả cao.


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU.
- Lịch sử:
Trường thành lập năm 1952, sau nhiều lần chia tách cấp 1 và cấp 2.

Tháng 1 năm 1996 trường chính thức mang tên là trường tiểu học Quảng
Châu. Dưới sự lãnh đạo của nhà giáo ưu tú Đinh Văn Khôi nhà trường liên
tục là lá cờ đầu của ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa, được nhận huân chương
lao động hạng 3 do nhà nước trao tặng năm 1986, trường liên tục là trường
tiên tiến cấp huyện cấp tỉnh.
Trường được công nhận chuẩn quốc gia giai đoạn 1996 – 2000, được
công nhận lại trường chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2007, năm 2012 nhà
trường được công nhận chuẩn mức độ 2. Năm 2013 – 2014 được hội đồng thi
đua cấp tỉnh đề nghị Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen, trường là một
trong những trường tốp đầu của huyện về chất lượng dạy và học.
- Đội ngũ chung:
Trường có 36 giáo viên, nhân viên trong đó có 3 cán bộ quản lý: 1 hiệu
trưởng, 2 hiệu phó, 22 giáo viên dạy văn hóa, 1 giáo viên dạy mĩ thuật, 1 giáo
viên thể dục, 3 giáo viên tiếng anh, 2 giáo viên tin học, 1 giáo viên đoàn đội,
1 nhân viên văn thư, 1 nhân viên thư viện, 1 nhân viên kế toán.
- Cơ sở vật chất:
Trường tiểu học Quảng Châu là trường đạt chuẩn mức độ 2 nên được
Ban giám hiệu nhà trường và các cấp lãnh đạo quan tâm đầu tư về cơ sở vật
chất phương tiện dạy học rất đầy đủ và hiện đại. Trường có phòng học mĩ
thuật riêng có trang bị máy tính, máy chiếu, màn hình chiếu để phục vụ cho


việc giảng dạy, có các giá vẽ và tủ đựng đồ dùng phục vụ cho giáo viên và
học sinh có các loại tranh ảnh phục vụ cho giáo viên và học sinh, có các loại
tranh ảnh phục vụ cho bài vẽ tranh của từng khối lớp.
Giáo viên trong trường được trang bị tương đối đầy đủ sách giáo khoa,
tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học của môn mĩ thuật.
Ngoài ra giáo viên còn được cung cấp sách giáo viên, sách thiết kế bài
giảng.
Học sinh trường được cung cấp mẫu tượng thạch cao, các vật mẫu hình

cầu, lọ hoa, ấm, chén đĩa, bát.
Ban giám hiệu nhà trường đều nhận thức tăng cường giáo dục Mĩ thuật
cho học sinh nhằm phát triển khả năng tư duy sáng tạo và bồi dưỡng óc thẩm
mỹ cho học sinh, giúp học sinh hiểu khái quát về cách vẽ tranh, biết tạo ra
những bức tranh đẹp. Đồng thời qua phân môn này giáo dục học sinh thêm
yêu thiên nhiên cuộc sống và con người. Từ đó, các em có ý thức quan sát
tinh tế về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, là cơ sở để học tốt các môn học
khác
2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẢNG CHÂU.

Nhà trường có 1 giáo viên dạy mĩ thuật, 28 tuổi, có trình độ chuyên
môn tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Mĩ thuật, có năng lực nghiệp vụ giảng dạy
tốt.
2.3. THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẢNG CHÂU.

2.3.1. Chuẩn bị.
- Soạn giáo án: Giáo viên nghiên cứu bài và chuẩn bị giáo án đầy đủ
trước khi lên lớp.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy và phương tiện học chu đáo


×