Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Phân tích những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (167.05 KB, 14 trang )

MỤC LỤC

1


A, ĐẶT VẤN ĐỀ
Luật Trọng tài Thương mại (TTTM) được Quốc hội thông qua ngày
17/6/2010 có hiệu lực ngày 1/1/2011 đã khắc phục được những hạn chế của Pháp
lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của Việt Nam trong
giai đoạn hội nhập quốc tế về kinh tế và pháp lý. Những quy định về thủ tục giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại trong Luật trọng tài thương mại năm
2010 có nhiều điểm mới so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. Vậy những
điểm mới đó là gì? Sau đây chúng em xin đi sâu tìm hiểu đề tài: “Phân tích những
điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
theo Luật Trọng tài thương mại 2010”

B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại
1, Khái niệm trọng tài thương mại
TTTM là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản
trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, phát sinh
trong hoạt động thương mại tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận
hoặc theo quy định của pháp luật.
TTTM tồn tại dưới hai hình thức: trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực.
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận
thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại
khi giải quyết xong vụ tranh chấp.
Trọng tài thường trực tổ chức được thành lập để giải quyết tranh chấp thương
mại theo quy định của pháp luật. Thường được tổ chức dưới dạng các trung tâm


trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con
dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định.
2, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
Một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại khi có các điều
kiện sau:
2


- Tranh chấp được gửi đến trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương
mại.
- Các tranh chấp phát sinh trong dó có ít nhất một bên có hoạt động thương
mại.
- Các tranh chấp phát sinh khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải
quyết bằng Trọng tài.
Như vậy so với Pháp lệnh TTTM, phạm vi thẩm quyền của của Trọng tài đã
được mở rộng đáng kể tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của
các bên. Phạm vi giải quyết tranh chấp của Trọng tài không chỉ giới hạn là các tranh
chấp liên quan đến lĩnh vực thương mại như theo quy định của Pháp lệnh TTTM mà
còn hướng đến các tranh chấp không tranh chấp không phát sinh từ hoạt động
thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng
trọng tài, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành
như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư và các
luật chuyên ngành khác với Luật TTTM.
3, Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là những tư
tưởng chỉ đạo, định hướng việc giải quyết tranh chấp thương mại, được quy định
trong pháp luật về trọng tài thương mại. Việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc sẽ tạo
điều kiện cho trọng tài giải quyết tranh chấp một cách thuận lợi và nhanh chóng,
đồng thời còn bảo đảm cho các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp có điều kiện
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, trên cơ sở đó mà lợi ích hợp pháp của

họ được tôn trọng, bao gồm các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
- Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan, phải căn cứ vào pháp
luật
- Nguyên tắc các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

3


- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công
khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm.
Như vậy, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã đưa nguyên tắc thỏa thuận của
các bên tranh chấp lên đầu tiên. Điều này thể hiện được đúng đắn bản chất của
phương thức giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại là tôn trọng tối đa quyền
thỏa thuận của các bên tranh chấp. Hơn nữa, Luật còn bổ sung thêm nguyên tắc các
nguyên tắc: nguyên tắc bình đẳng của các bên tham gia tố tụng và yêu cầu Hội đồng
trọng tài phải tạo điều kiện để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; nguyên tắc
giải quyết tranh chấp trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận và nguyên tắc phán quyết của trọng tài là chung thẩm.
4, Trình tự giải quyết tranh chấp trọng tài thương mại
Tranh chấp giữa các bên có thể được giải quyết tại hội đồng trọng tài do trung
tâm trọng tài tổ chức hoặc tại hội đồng trọng tài do các bên thành lập. Trình tự giải
quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010
được tóm tắt bao gồm các bước:
Bước 1: Khởi kiện
Bước 2: Bị đơn gửi Bản tự bảo vệ và chỉ định trọng tài viên.
Bước 3 Thành lập hội đồng trọng tài
Bước 4: Giải quyết vụ tranh chấp
Bước 5: Mở phiên tòa giải quyết tranh chấp

Bước 6: Công bố quyết định trọng tài
II, Những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài thương mại
1, Về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ và quyền kiện lại của bị đơn
Nhìn một cách sơ bộ, có thể thấy rằng các quy định của Luật TTTM năm 2010
về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ cũng như quyền kiện lại của bị đơn đều đã được
kế thừa từ các quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003 và được tách ra thành một
4


chương riêng với tên gọi là “Khởi kiện” trong Luật TTTM 2010. Trong những quy
định mới tại chương này, cần đặc biệt chú ý tới quy định về thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Pháp lệnh TTTM 2003: “Đối với vụ tranh
chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải
quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ
trường hợp bất khả kháng. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện được tính từ
ngày xảy ra sự kiện cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng”. Với quy định
này, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là thời điểm xảy ra tranh chấp. Tuy
nhiên, trên thực tế, thời điểm này rất khó xác định; có sự không thống nhất với quy
định về thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật Thương
mại năm 2005.
Khắc phục bất cập đó, Điều 33 Luật TTTM năm 2010 đã quy định: “Trừ
trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục
trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Quy
định mới này đã loại bỏ được những bất cập trong thủ tục tố tụng trọng tài, tạo ra sự
đồng bộ thống nhất với các quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho các chủ thể bị
xâm phạm về quyền và lợi ích có thể nộp đơn sớm hơn để đảm bảo quyền làm
nguyên đơn của mình khi thực hiện khởi kiện tại Trọng tài.
2, Thành lập Hội đồng trọng tài
a, Tiêu chuẩn trọng tài viên

Kế thừa Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối
thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên
nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội. Theo
đó cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế
công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên. (Điểm a, b Khoản 1 Điều 20
Luật TTTM).
Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài
viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật TTTM
5


2010 có quy định mở trong trường hợp đặc biệt đó là “Trường hợp đặc biệt, chuyên
gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp
ứng được yêu cầu của điểm a, điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng
tài viên” (Điểm c Khoản 1 Điều 20) và “trung tâm trọng tài có thể quy định thêm
các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chí quy định tại khoản 1 điều này đối với trọng tài viên
của tổ chức mình” ( Khoản 3 Điều 20). Đây là quy định không có trong Pháp lệnh
TTTM, thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo, tiếp thu sự tiến bộ của pháp lệnh trọng tài
các nước, phù hợp với thực tiễn.
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM không yêu cầu
Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài
cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp
hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai
đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
b, Thay đổi trọng tài viên
Thứ nhất, Luật TTTM còn quy định thêm căn cứ thứ tư:“Trọng tài viên phải
từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải
quyết tranh chấp trong các trường hợp : Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư
của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ án tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ
trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản”. (Điểm d Khoản 1 Điều 42). Bởi

lẽ, chính mối quan hệ trước đó của Trọng tài viên đối với một bên tranh chấp trong
cùng vụ việc cũng có thể ảnh hưởng đền tính chi công, khách quan của Trọng tài
viên khi đưa ra phán quyết.
Thứ hai, Khoản 4 Điều 42 Luật TTTM năm 2010, so với quy định tại Khoản 4
Điều 27 Pháp lệnh TTTM 2003, ta thấy đã có những thay đổi trong quy định của
pháp luật khi đã nêu rõ hơn các trường hợp giải quyết nếu các thành viên còn lại của
Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay trọng tài
viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp. Thời hạn 15 ngày được đưa ra kể từ khi
Tòa án nhận đơn yêu cầu cũng mới được quy định rõ nhằm mục đích đẩy nhanh thủ
tục.
6


Thứ ba, Luật TTTM 2010 đã nhấn mạnh rõ Quyết định của Chủ tịch Trung tâm
trọng tài hoặc của Toà án trong trường hợp quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều
này là quyết định cuối cùng (Khoản 5 Điều 42). Quy định này mang tính khẳng định
hiệu lực của những quyết định tại Khoản 3 và 4 Điều 42. Nó tạo điều kiện để các
Tòa án và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng
trong các trường hợp cụ thể, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động
có hiệu quả.
3, Chuẩn bị xét xử của Hội đồng trọng tài
Nhằm giúp cho cơ chế tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn, Luật
TTTM 2010 đã cho phép Hội đồng Trọng tài được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân
chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (quy định tại Điều 47, 48, 49 và
50). Quy định này là sự tiếp thu những quy định mẫu của UNCITRAL được thông
qua 2006. Điều này cũng thể hiện sự tiếp thu và từng bước điều chỉnh của cơ quan
lập pháp Việt Nam để các quy định trọng tài thương mại Việt Nam hội nhập với các
thông lệ quốc tế.
a, Về cung cấp, thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp
Luật TTTM đã có những quy định mới về cung cấp, thu thập chứng cứ cho vụ

tranh chấp. Theo Luật TTTM thì việc cung cấp chứng cứ cho HĐTT trở thành
“quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp” chứ không phải chỉ là “nghĩa vụ” như
quy định của Pháp lệnh TTTM. Đồng thời, việc cung cấp chứng cứ của bên tranh
chấp không chỉ là để chứng minh cho chính yêu cầu của họ mà còn cho toàn bộ sự
việc có liên quan đến nội dung tranh chấp
Bên cạnh đó, sự hạn chế quyền hạn của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải
quyết tranh chấp của Pháp lệnh TTTM 2003 đã được khắc phục khi Luật TTTM
2010 quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài trong việc thu thập chứng
cứ, tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp chính xác và nhanh
chóng hơn: “Trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp nhưng không thu thập
được chứng cứ thì Hội đồng trọng tài có thể gửi văn bản đề nghị Tòa án nhân dân
7


có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chứng, cá nhân cung cấp các chứng cứ.” (Điều
46)
Ngoài ra, Luật mới còn quy định cho Hội đồng trọng tài các quyền khác như
triệu tập người làm chứng (Điều 47). Trong quá trình giải quyết tranh chấp, có
những trường hợp có liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ ba. Trong khi Tòa án
có thẩm quyền đương nhiên trong việc triệu tập các đối tượng này thì trọng tài trong
Pháp lệnh TTTM 2003 lại không có thẩm quyền. Khắc phục điều đó, Luật TTTM
2010 đã quy định rất rõ, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có
mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp (Khoản 1 Điều 47) hoặc đề nghị Tòa án có
thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng
trọng tài (Khoản 2 Điều 47). Bảo đảm cho Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh
chấp có hiệu quả, đồng thời cũng phù hợp với thông lệ quốc tế và luật mẫu về trọng
tài thương mại quốc tế.
b, Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005 có một Chương riêng
với 28 Điều quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (Chương VIII, các Điều từ 99

đến 126). Về bản chất, các quy định mới về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Luật
TTTM 2010 cụ thể và chi tiết hơn so với Pháp lệnh TTTM 2003, hoàn toàn phù hợp
với các quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2005. Nói cách khác, trong tố
tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của Luật TTTM 2010, nếu các
quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.
Về quy định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Điều 33 Pháp lệnh TTTM
2003 quy định, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được thực hiện
trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, với quy định
này, các biện pháp khẩn cấp tạm thời không phát huy được vai trò của nó bởi mất đi
khả năng được áp dụng nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời. Các biện pháp này phải
được áp dụng ngay khi một bên thấy rằng quyền lợi hợp pháp của mình có nguy cơ
8


bị xâm phạm, không nhất thiết phải chờ đợi đến khi khởi kiện hoặc Hội đồng trọng
tài được thành lập. Vì vậy, Điều 48 về quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời của Luật TTTM 2010 đã khắc phục bằng cách không quy định về thời
hạn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Mặt khác, quy định chỉ có Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ
tranh chấp mới có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong Pháp lệnh TTTM 2003 là không phù hợp, nên đã bị bác bỏ trong Luật TTTM
2010. Thay vào đó, theo Luật TTTM 2010 thì Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án có
quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu
cầu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Hội đồng trọng tài chỉ có quyền ra quyết định áp
dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được liệt kê tại Điều 49 của Luật TTTM
và Hội đồng trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập. Các trường hợp khác do Tòa án thực hiện.
Từ đó, ta thấy, quy định Hội đồng trọng tài không chỉ có quyền yêu cầu Tòa án mà
có thể tự mình áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nâng cao hơn vị pháp lý

của Hội đồng trọng tài. Điều này hoàn toàn phù hợp với điều 17 Luật mẫu của Uỷ
ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về trọng tài quốc tế
năm 1985 cũng như các văn bản pháp luật thương mại quốc tế của nhiều nước khác
trên thế giới.
4, Phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài
Về thời gian, địa điểm mở phiên họp, Luật TTTM có quy định ưu tiên tối đa
cho các bên tranh chấp thỏa thuận. Nếu các bên không có thỏa thuận thì tuân theo
quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài. Nếu hai phương án trên không thực hiện
được thì thời gian và địa điểm mở phiên họp sẽ do HĐTT quyết định theo nguyên
tắc đa số. Điều này hợp lí hơn so với quy định của Pháp lệnh TTTM “do chủ tịch
HĐTT quyết định”. Vì nó đảm bảo được tính làm việc tập thể và nguyên tắc quyết
định tập thể của HĐTT.
a, Hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp
9


Theo quy định của Luật TTTM thì lí do hoãn phiên họp chỉ có một, đó là xuất
phát từ yêu cầu của các bên. Hơn nữa, để đảm bảo cho yêu cầu hoãn là nghiêm túc
và đảm bảo quyền lợi của các bên và HĐTT thì yêu cầu này phải được lập thành văn
bản, có lý do và có chứng cứ kèm theo. Phải gửi yêu cầu này đến HĐTT chậm nhất
7 ngày trước khi mở phiên họp. Nếu yêu cầu này đến muộn thì mọi chi phí mà
HĐTT bỏ ra để chuẩn bị cho phiên họp sẽ do bên yêu cầu gánh chịu
Quy định này đã khác phục được điểm bất cập về thời gian hoãn, số lần hoãn của
Pháp lệnh TTTM: “ Trường hợp có lý do chính đáng, các bên có thể yêu cầu HĐTT
hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp
b, Đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp
Ngoài các căn cứ như Pháp lệnh TTTM đã quy định thì Luật TTTM còn đề
cập thêm ba trường hợp mới tại các điểm a, b, d Điều 59 làm căn cứ đình chỉ vụ
tranh chấp tại Trọng tài thương mại.
5, Phán quyết trọng tài

a, Phương thức ra phán quyết và nội dung của phán quyết
Điều 60 Luật TTTM 2010 quy định: “Nguyên tắc ra phán quyết: 1, Hội đồng
trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số. 2,
Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo
ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.”
Điểm mới của quy định này là Luật TTTM đã quy định cụ thể phương thức ra
phán quyết Trọng tài bằng cách biểu quyết và hơn nữa, Luật TTTM cũng dự trù
được trường hợp, nếu Hội đồng trọng tài có từ 3 người trở lên mà mỗi người một ý
kiến hoặc không thể đạt được nguyên tắc đa số thì phán quyết sẽ theo ý kiến của Chủ
tịch HĐTT.
Đối với nội dung của phán quyết, Luật TTTM quy định thêm các nội dung cụ
thể hơn cho phán quyết trọng tài và đồng thời xóa bỏ quy định cũ cho phép: “các
bên có quyền yêu cầu HĐTT không đưa các vấn đề tranh chấp, cơ sở của các quyết
định về vụ tranh chấp vào quyết định trọng tài”
b, Thi hành phán quyết của Trọng tài
10


Kế thừa Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM tại Khoản 5 Điều 4 vẫn khẳng định:
“phán quyết trọng tài là chung thẩm” và Khoản 1 Điều 66 quy định rõ: “Cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết của Trọng tài”.
Tuy nhiên, đối với phán quyết của trọng tài vụ việc thì Luật TTTM đưa ra quy
định phán quyết phải được đăng kí tại Tòa án trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án
hỗ trợ thi hành. Bởi lẽ, sau khi ra phán quyết, HĐTT vụ việc sẽ tự động giải tán,
phán quyết trọng tài do các bên tranh chấp nắm giữ chứ không được lưu lại Tòa án
như quy định trước đây.
c, Hủy phán quyết trọng tài
Luật TTTM đã hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên
hủy. Điều 68 Luật TTTM quy định: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng

trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ
phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp
pháp”. Như vậy, Luật TTTM khắc phục được hạn chế của Pháp lệnh TTTM “nếu
một bên không đồng ý với quyết định của trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Tòa
án....yêu cầu hủy quyết định của trọng tài”.Bởi với quy định này làm cho tố tụng
trọng tài trở nên rất rủi ro, làm mất đi tính chung thẩm phán quyết của trọng tài.
Các căn cứ hủy mà Luật TTTM quy định, ngoài một số căn cứ thừa kế Pháp
lệnh TTTM thì Luật đã bổ sung thêm căn cứ mới tại Điểm d Khoản 2 Điều 68:
“Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán
quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của
một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết
trọng tài;”. Đối với căn cứ xuất phát từ Trọng tài viên thì thay vì quy định chung
chung như Pháp lệnh cũ: “Bên yêu cầu chứng minh được trong quá trình giải quyết
vụ tranh chấp có Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ của Trọng tài viên quy định
tại khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh này” thì Luật TTTM quy định rõ ràng hơn về
11


các trường hợp vi phạm của Trọng tài viên làm căn cứ hủy bao gồm: “ Nhận tiền,
hoặc tài sản lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp”
Điểm khác biệt so với Pháp lệnh TTTM là Luật TTTM đã phân chia nghĩa vụ
chứng minh về căn cứ hủy thành 2 trường hợp. Đối với các căn cứ tại Khoản a, b, c,
d Điều 68 bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chứng minh. Đối với yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài quy định tại Điểm đ, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập
chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.
d, Về thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Điểm khác biệt lớn so với Pháp lệnh TTTM của Luật TTTM là thủ tục Tòa án
xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ 1 lần bởi một hội đồng ba thẩm phán và

quyết định của Hội đồng là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay (Điều 71 Luật
TTTM)
III, Đánh giá về những điểm mới trong thủ tục giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại
Thứ nhất, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy
định trong Luật Trọng tài Thương mại 2010 có một số điểm mới cơ bản và hoàn
toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài các nước trên thế giới. Những điểm
mới quan trọng trong Luật đã khắc phục được những tồn tại của Pháp lệnh Trọng tài
Thương mại 2003 như phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài
đối với các tranh chấp thương mại; Luật đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng
phạm vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và
lợi ích của các bên.
Thứ hai, từ những nội dung mới như trên có thể khẳng định rằng Luật TTTM
đã đưa ra các quy định ngày càng hợp lý hơn so với các văn bản pháp luật trước đây
và phù hợp với pháp luật Trọng tài quốc tế. Điều này sẽ tạo ra những cơ hội lớn cho
TTTM nước ta trở thành phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi
và có nhiều ưu thế đúng với bản chất vốn có của nó.
Thứ ba, với các điểm mới trên đã làm cho Luật TTTM trở thành căn cứ và
công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần thúc đẩy trọng tài phát triển. Các doanh nghiệp
12


sẽ tin tưởng và lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn.
Hiện nay, tại Việt Nam có 7 Trung tâm trọng tài. Nhìn chung, tất cả các trung tâm
trọng tài đều đầy đủ năng lực xét xử tất cả các loại vụ việc. Trong đó, Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) được đánh giá là tổ chức trọng tài được thành
lập sớm nhất và có số vụ tranh chấp được giải quyết nhiều nhất.
Thứ tư, Luật Trọng tài thương mại là Luật được quy định khá chi tiết, kế thừa
nhiều nội dung của pháp luật quốc tế và pháp luật hiện hành còn phù hợp. Để khi có

hiệu lực thi hành Luật được áp dụng dễ dàng và thuận lợi, một số văn bản quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành cần được xây dựng, ban hành, trước mắt sẽ ban hành
Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Trọng tài thương mại. Đồng thời tiến hành tổ chức tuyên truyền và giới thiệu
một cách sâu rộng để xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp biết đến cơ chế giải quyết
bằng Trọng tài. Cần sớm hình thành những tổ chức mà Luật cho phép, tổ chức các
khóa đào tạo Trọng tài viên và nâng cao trình độ cho các Trọng tài viên Việt Nam.
Cuối cùng là phát triển các tổ chức trọng tài mới (dưới dạng Trung tâm hoặc Viện
trọng tài) trên cơ sở cân nhắc đến nhu cầu khách quan của xã hội. Đồng thời, đảm
bảo hiệu quả và chất lượng đối với những Tổ chức trọng tài mới thành lập trên cơ sở
sự quản lý của Nhà nước về hoạt động trọng tài.

C, KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Các điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại nói riêng và các quy định trong Luật TTTM nói chung đang tiếp cận với
các chuẩn mực của pháp luật và thực tiễn của trọng tài thương mại quốc tế hiện đại
và có tính đến điều kiện thực tế của Việt Nam. Sự ra đời của Luật TTTM khẳng định
rằng khung pháp luật về trọng tài của Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, đảm bảo
phù hợp với trọng tài thương mại quốc tế.

13


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại tập 2, Nxb.công
an nhân dân.
2, Luật trọng tài thương mại năm 2010.
3, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003.
4, Nguyễn Thị Khế (chủ biên), Luật thương mại và giải quyết tranh chấp
thương mại, Nxb. Tài chính, Hà Nội, 2007;

5, Khóa luận tốt nghiệp, “ Những điểm mới của Luật trọng tài thương mại
năm 2010”, Trần Bảo Yến, Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Viết Tý, Hà Nội,
2011
6, />ItemID=2775

14



×