Tải bản đầy đủ (.docx) (99 trang)

Luận văn thạc sỹ kinh tế Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (489.71 KB, 99 trang )

1

1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch

vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây
Hà Nội” là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu trong luận văn được sử
dụng trung thực.Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng
được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2014
Tác giả luận văn

Bùi Thúy Nga

MỤC LỤC


2

2
2


3

3
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


ATM
ACB
Agribank
BIDV

Máy rút tiền tự động
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
BIDV Tây Hà Nội
Tây Hà Nội
CNTT
Công nghệ thông tin
CLB MU
Câu lạc bộ Manchester United
ĐVCNT
Đơn vị chấp nhận thẻ
Eximbank
Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam
IBMB
Internet Banking, Mobile Banking
NHBL
Ngân hàng bán lẻ
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMNN
Ngân hàng thương mại nhà nước

POS
Thiết bị thanh toán thẻ
PIN
Personal Identification Number
Sacombank
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Techcombank
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
TMCP
Thương mại cổ phần
TCTQT
Tổ chức thẻ Quốc tế
TTKDTM
Thanh toán không dùng tiền mặt
TP
Thành phố
TW
Trung ương
UOB
United Oversea Bank
VIB
Ngân hàng Quốc tế
Vietcombank
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Vietinbank
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG



4

4
4
TT

Mục lục

Bảng 2.1

2.1.3.1

Bảng 2.2

2.1.3.2

Bảng 2.3

2.2.1.1

Bảng 2.4

2.2.1.1

Bảng 2.5

2.2.1.2

Bảng 2.6


2.2.2.1

Bảng 2.7

2.2.2.2

Bảng 2.8

2.2.2.3

Tên bảng
Kết quả hoạt động dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa
2010-2013
Kết quả hoạt động dịch vụ thẻ tín dụng 20102013
Tình hình phát triển thẻ tín dụng quốc tế của
BIDV Tây Hà Nội giai đoạn 2010-2013
Số lượng thẻ tín dụng do BIDV Tây Hà Nội phát
hành hàng năm giai đoạn 2010-2013
Số lượng thẻ ATM do BIDV Tây Hà Nội phát
hành hàng năm giai đoạn 2010-2013
Doanh số thanh toán thẻ tín dụng của BIDV Tây
Hà Nội giai đoạn 2010-2013
Doanh số thanh toán thẻ ghi nợ nội địa của
BIDV Tây Hà Nội
Số lượng POS và doanh số thanh toán qua POS
của BIDV Tây Hà Nội, giai đoạn 2010-2013

Trang
39

40
41
44
48
50
54
55

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TT
Sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.2
Sơ đồ 2.3
Sơ đồ 2.4

Mục lục
Tên bảng
2.1.1
Mô hình tổ chức của BIDV Tây Hà Nội
Cơ cấu số lượng thẻ phát hành năm 2013 của
2.2.1.1
BIDV Tây Hà Nội
Cơ cấu số lượng thẻ ghi nợ quốc tế phát hành
2.2.1.2
năm 2013 của BIDV Tây Hà Nội
2.2.1.2 Sơ đồ mô tả số lượng thẻ ATM phát hành năm

Trang
37
44

46
49


5

5
5

Sơ đồ 2.5

2.2.1.2

Sơ đồ 2.6

2.2.2.1

2013 của BIDV Tây Hà Nội
Cơ cấu số lượng thẻ ATM phát hành năm 2013
của BIDV Tây Hà Nội
So sánh giữa tốc độ tăng trưởng doanh số
thanh toán và tốc độ tăng trưởng số lượng thẻ
tín dụng của BIDV Tây Hà Nội giai đoạn

49

51

2011-2013
So sánh giữa tốc độ tăng trưởng doanh số

Sơ đồ 2.7

2.2.2.1

thanh toán và tốc độ tăng trưởng số lượng thẻ
tín dụng của BIDV Tây Hà Nội giai đoạn

52

2011-2013
Sơ đồ so sánh giữa tỷ trọng doanh số rút tiền
Sơ đồ 2.8

2.2.2.2

mặt và doanh số chuyển khoản của thẻ ghi nợ

54

nội địa của BIDV Tây Hà Nội trong năm 2013
Sơ đồ so sánh giữa tốc độ tăng trưởng doanh
Sơ đồ 2.9

Sơ đồ 2.10

2.2.2.3

2.2.2.3

số giao dịch và tốc độ tăng thiết bị POS của

BIDV Tây Hà Nội giai đoạn 2011-2013
Doanh số thanh toán bình quân/POS của
BIDV Tây Hà Nội giai đoạn 2010-2013

56

57


6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập quốc tế hiện là xu thế tất yếu của hầu hết các nền kinh tế trên thế
giới. Đối với Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế đang ngày càng hội
nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới. Việc chính thức gia nhập Tổ chức
thương mại Thế giới WTO đã mở ra rất nhiều cơ hội nhưng cũng đồng thời đặt ra
không ít thách thức đối Việt Nam nói chung và các tổ chức tín dụng nói chung và
các tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng nói riêng, khi phải đối mặt với những thách
thức từ phía các ngân hàng nước ngoài - những ngân hàng không chỉ mạnh về tiềm
lực tài chính mà còn có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển các dịch vụ ngân
hàng hiện đại, trong đó có dịch vụ thẻ Ngân hàng
Xu hướng phát triển ngành ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian gần đây và
việc thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng cho thấy dịch vụ thẻ sẽ là loại
hình dịch vụ đem lại nguồn thu lớn cho các ngân hàng. Bởi vậy dịch vụ thẻ đang
ngày càng được các ngân hàng thương mại (NHTM) coi trọng.Cùng với sự phát
triển mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, thị trường dịch vụ thẻ của Việt Nam được
đánh giá là thị trường có nhiều tiềm năng và sẽ mang lại lợi nhuận lớn trong tương
lai.Tính đến hết năm 2013, Việt Nam đã có hơn 63 triệu thẻ ngân hàng, tuy nhiên
mới chí có khoảng 50% dân số có thẻ và tài khoản ngân hàng, và 97% khách hàng
vẫn dùng tiền mặt cho các giao dịch thông thường. Hơn nữa dịch vụ thẻ trên thực tế

đem lại nguồn doanh thu cao, ít rủi ro cho các ngân hàng.
Trong xu thế phát triển chung, các NHTM Việt Nam đang ráo riết tăng tốc ở
mảng dịch vụ này. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) cũng đã có những định hướng chung trong lộ trình phát triển là lựa chọn
hoạt động NHBL nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng là chiến lược kinh doanh lâu
dài. Với mục tiêu là ngân hàng hiện đại phát triển theo mô hình NHBL và trở thành
NHBL có thị phần lớn nhất trong 5 năm tới, hoạt động NHBL nói chung và dịch vụ
thẻ nói riêngđã được triển khai, chú trọng tại hệ thống BIDV nói chung cũng như tại


7
BIDV Tây Hà Nội nói riêng, tuy vậy kết quả đạt được còn chưa xứng với tiềm năng,
đồng thời vẫn còn nhiều khó khăn bất cập.
Mặt khác, trong tình hình các hoạt động kinh doanh truyền thống đang ngày
càng khó khăn, hoạt động cho vay chịu nhiều rủi ro, thu nhập từ chênh lệch về lãi
suất huy động, lãi suất cho vay ngày càng thu hẹp thì xu hướng chung của các
NHTM là tập trung đẩy mạnh các hoạt đông NHBL nói chung và dịch vụ thẻ, bởi
hoạt động này mang lại nguồn thu nhập ổn định và ít rủi ro, đồng thời là xu hướng
phát triển tất yếu của hoạt động ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách
khách quan thì hoạt động dịch vụ thẻ hiện nay tại BIDV Tây Hà Nội tuy đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ trong những năm gần đầy, nhưng chưa xứng đáng
với tiềm năng của Chi nhánh, chưa có nhiều đóng góp vào kết quả kinh doanh của
Chi nhánh. Vì vậy, cần tìm ra những giải pháp đồng bộ để phát triển mạnh mẽ hơn
nữa dịch vụ thẻ của BIDV Tây Hà Nội, từng bước biến dịch vụ thẻ thành dịch vụ
mũi nhọn, đóng góp nhiều vào hoạt động kinh doanh chung của BIDV Tây Hà Nội,
đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, ổn định và đáp ứng được yêu cầu phát triển
và mục tiêu kinh doanh đặt ra.
Hiện nay tại BIDV Tây Hà Nội chưa có một công trình nghiên cứu nào có tính
hệ thống về năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ. Các công trình nghiên cứu nói chung
mới chỉ xoay quanh mảng hoạt động tín dụng, huy động vốn và thu dịch vụ. Xuất

phát từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
dịch vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Tây Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của NHTM;
- Phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại BIDV Tây
Hà Nội;
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch
vụ thẻ tại BIDV Tây Hà Nội.


8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của BIDV Tây Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu các số liệu về dịch
vụ thẻ của BIDV Tây Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp suy luận, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp để nghiên cứu và dự báo các sự kiện liên
quan đến luận văn.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa lại các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh dịch
vụ thẻ của NHTM. Đánh giá thực tiễn năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại BIDV Tây
Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2013, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của BIDV Tây Hà Nội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo… nội
dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP

Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội.


9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ
THẺ TẠI NGÂN HÀNG
1.1 Lý thuyết chung về thẻ ngân hàng
1.1.1

Khái niệm cơ bản về thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng được hình thành và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20, từ
đó đến nay thẻ ngân hàng đã có những sự phát triển và cải tiến vượt bậc so với thời
điểm khi mới hình thành. Ngày nay thẻ ngân hàng được xem là xem như một
phương tiện văn minh, thuận lợi trong các giao dịch mua bán và là một mảng kinh
doanh quan trọng đem lại lợi nhuận và đóng góp lớn vào sự phát triển ổn định của
các Ngân hàng và nền kinh tế.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Thẻ ngân hàng:
- Theo Quyết định 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước và xét theo mục đích sử dụng khái niệm Thẻ ngân hàng được hiểu là:
“Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không dùng tiền
mặt hoặc có thể rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động, các ngân hàng đại lý, các
điểm chấp nhận thẻ”
- Từ góc độ công nghệ thanh toán:“Thẻ ngân hàng là phương thức thanh toán
ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống
thanh toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ
ngân hàng và tin học viễn thông”
- Từ góc độ phát hành:“Thẻ ngân hàng là một phương tiện do ngân hàng, các
định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng

hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt”
- Từ góc độ người sử dụng: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát
hành thẻ (thường là ngân hàng) phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều
kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”
Từ khái niệm trên ta có thể rút ra nhận xét chung về thẻ ngân hàng là: Bản chất
thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể
dùng để thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng


10
nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác
cung cấp. Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân
hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử
dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại
ngân hàng
Ngày nay thẻ ngân hàng thường được làm bằng plastic kích thước chữ nhật tiêu
chuẩn để phù hợp với khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 8,5 cm x 5,5 cm.
Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ
từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại
ngân hàng phát hành thẻ
Phân loại thẻ ngân hàng, hiện nay có nhiều loại Thẻ ngân hàng và được phân loại
dựa theo các đặc điểm sau:
 Phân loại theo công nghệ sản xuất:

- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ
đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại
thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa
thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua ,
nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được,

thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ
thuật mã hoá, bảo mật thông tin...
- Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có
cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. Loại thẻ này có đặc tính bảo mật và an toàn rất
cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một
máy tính hoàn hảo. Thông thường một tấm thẻ thông minh được gắn chip điện tử để
thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả Chip điện
tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất
gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu. Chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các
thông tin cần thiết phục vụ cho công tác thanh toán thẻ trong mỗi lần sử dụng còn chip


11
xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xoá bỏ hoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ.
Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ
thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ cả số liệu về những lần giao dịch của chủ
thẻ tại ĐVCNT. Tính năng vượt trội này của thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý
đối với ngân hàng và các trung gian thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản
và thông tin của chủ thẻ cũng như việc cập nhật thông tin liên quan tới thẻ giờ đây đã
được thực hiện ngay tại ĐVCNT. Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mới nên giá thành
cao, hệ thống máy móc chấp nhận thanh toán thẻ này cũng đắt nên sử dụng còn chưa
phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ này mới chỉ phổ biến
ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn khuyến khích các ngân hàng
thành viên phát hành và thanh toán lại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ
 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:

- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó
người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm
hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay ... chấp nhận loại thẻ
này.Gọi là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không

phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà
người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả.
-Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài
khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị
những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua
những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn ... đồng thời chuyển ngân ngay lập
tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn... Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên
tài khoản của chủ thẻ.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức
vào tài khoản chủ thẻ.


12
- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản
chủ thẻ sau đó vài ngày.
Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động
hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối
với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ
được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được
sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng
phát hành thẻ.
 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng

tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
- Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại
tệ mạnh để thanh toán.
1.1.2 Thành phần tham gia hoạt động thẻ
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng trong nước có sự
tham gia chặt chẽ của 4 thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng
thanh toán thẻ, chủ thẻ và các ĐVCNT. Đối với thẻ quốc tế còn thêm một thành
phần nữa là các Tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau
trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiên đại không dùng
tiền mặt của thẻ ngân hàng
 Tổ chức thẻ quốc tế: là Hiệp hội các Tổ chức tài chính, tín dụng tham gia phát hành và

thanh toán thẻ quốc tế, là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ
trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng
lưới hoạt động rông khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và sản phẩm đa
dạng như: thẻ MasterCard, thẻ Visa, thẻ American Express, JCB, thẻ Diners Club, công
ty Mondex…. Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát


13
hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các công
ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các công
ty thành viên. Hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới có hai tổ chức thẻ được biết đến
rộng rãi nhất là hai tổ chức thẻ quốc tế là Visa và Mastercard. Tại Việt Nam hiện phần
lớn các ngân hàng là tổ chức thành viên phát hành hai loại thẻ này
 Ngân hàng phát hành thẻ: là ngân hàng tự mình phát hành thẻ mang thương hiệu riêng
hoặc được tổ chức thẻ quốc tế, công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu
của những tổ chức và công ty này. Ngân hàng phát hành là ngân hàng có tên in trên thẻ
do ngân hàng đó phát hành thể hiện đó là sản phẩm của mình. Ví dụ như Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)phát hành thẻ ghi nợ nội địa Hamorny,

thẻ Etrans, thẻ Moving, thẻ ghi nợ quốc tế Mastercard Ready, Mastercard Debit BIDVMU, và các loại thẻ tín dung quốc tế nhưBIDV Plexi, BIDV Precious BIDV
Mastercard Platinum, BIDV Manchester United.
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ đối với
khách hàng. Ngân hàng có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là một ngân
hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát hành thẻ.
Trong trường hợp này, ngân hàng phát hành tận dụng được ưu thế của bên thứ ba về
kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và những ưu thế về vị trí địa lý. Tuy nhiên
cũng phải chịu chấp nhận rủi ro về tài chính bởi ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho bên
thứ ba làm ngân hàng đại lý của mình trong việc phát hành thẻ. Bên thứ ba khi ký kết
hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân hàng đại lý phát hành. Nếu
tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì nhất thiết ngân hàng
đại lý đó phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ quốc tế.
 Ngân hàng thanh toán: là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một phương tiện thanh

toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá
dịch vụ trên địa bàn. Ngân hàng thanh toán sẽ cung cấp cho các ĐVCNT thiết bị phục
vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận hành, chấp nhận thanh
toán thẻ cũng như quản lý và xử lý những giao dịch thẻ tại các đơn vị này. Thông
thường ngân hàng thanh toán sẽ thu từ các ĐVCNT một mức phí chiết khấu cho việc


14
chấp nhận thanh toán thẻ của đơn vị, nó có thể tính phần trăm trên giá trị mỗi giao dịch
hoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ. Mức chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vào
từng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với ĐVCNT.
Trên thực tế rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng
thanh toán thẻ. Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn
với tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch
vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.
 Chủ thẻ: là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền( nếu là thẻ do công ty uỷ quyền


sử dụng ) được ngân hàng phát hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo
những điều khoản, điều kiện ngân hàng quy định. Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính có
thể phát hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản.
Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ
thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng. Chủ thẻ sử
dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá,
dịch vụ có trang bị thiết bị thanh toán thẻ (POS), các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống
ngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động. Đối với
thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng
phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê (statement). Sao kê là bảng thông báo chi tiết
các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻ của chủ thẻ trong kỳ sao kê, số dư nợ cuối kỳ, ngày
đến hạn thanh toán cũng như số tiền thanh toán tối thiểu mà khách hàng phải thanh
toán trong kỳ cho ngân hàng và các thông báo liên quan đến việc sử dụng thẻ. Căn cứ
vào các thông tin trên sao kê, nếu không có gì thắc mắc chủ thẻ sẽ thực hiện việc thanh
toán sao kê cho ngân hàng phát hành thẻ, ngược lại chủ thẻ có quyền khiếu nại đối với
các thông tin, các giao dịch không chính xác hoặc không thực hiện gửi tới ngân hàng
yêu cầu được giải đáp.
 Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT):là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký kết hợp
đồng chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán. Các ngành kinh doanh của các
ĐVCNT trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ đến các nhà hàng ăn uống, khách sạn, sân
bay.... Tại nhiều nước trên thế giới khi thẻ ngân hàng đã trở thành một phương thức


15
thanh toán thông dụng, chúng ta có thể nhìn thấy những biểu trưng của thẻ xuất hiện
rộng rãi tại các cửa hàng. Ở Việt Nam, các ĐVCNT tập trung chủ yếu tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ phí chiết
khấu nhất định nhưng bù lại các ĐVCNT thông qua đó thu hút được một khối lượng
khách hàng lớn, bán được nhiều hàng hơn qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất

kinh doanh cũng như lợi nhuận của đơn vị.
Để trở thành ĐVCNT của một ngân hàng nhất thiết đơn vị đó phải có tình hình
tài chính tốt và có năng lực kinh doanh. Cũng như các ngân hàng phát hành thẩm định
khách hàng trước khi phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán cũng tiến hành đánh giá lựa
chọn ĐVCNT. Chỉ có những đơn vị có hiệu quả kinh doanh cao, có khả năng thu hút
được nhiều giao dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được vốn đầu tư
cho các đơn vị đó và có lãi.
1.2 Lý thuyết chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ ngân hàng
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh, vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh trong
hoạt động ngân hàng
1.2.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trườngViệt Nam hiện nay, các khái niệm
liên quan đến cạnh trạnh còn rất khác nhau. Theo Mác “cạnh tranh là sự phấn đấu ganh
đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác
lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác” (Theo nhóm tác giả cuốn “Nâng
cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”). Theo kinh tế chính trị học
“cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách
hàng cho doanh nghiệp mình”.
Cạnh tranh là xu hướng tất yếu của bất cứ loại hình sản xuất hay dịch vụ nào. Đó
là sự ganh đua giữa các đối thủ để giành giật thị trường, giành lấy các điều kiện thuận
lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận cao nhất có thể.


16
Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu và diễn giả về cạnh tranh trong hoạt động
ngân hàng như sau:Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, cạnh tranh trong hoạt động
ngân hàng được hiểu là sự ganh đua giữa các NHTM, nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong quá trình xây dựng và đưa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ra thị

trường với mục đích cuối cùng là giành lấy thị trường và mang lại lợi ích tối đa cho các
chủ sở hữu của NHTM.
Xét trên khía cạnh hẹp hơn của cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng, là khái
niệm cạnh tranh trong dịch vụ thẻ của ngân hàng: Được hiểu là sự ganh đua của các
NHTM trong quá trình xây dựng các sản phẩm dịch vụ thẻ với chất lượng tốt và tiện
ích tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đi cùng với nó là hoạt động Marketing phù
hợp với từng sản phẩm dịch vụ thẻ nhằm mục đích cuối cùng là lôi kéo các khách hàng
sử dụng sản phẩm dịch vụ thẻ của mình, giành lấy thị trường và mang lại lợi ích cao
nhất cho ngân hàng. Tóm lại cạnh tranh trong dịch vụ thẻ giữa các ngân hàng là sự
ganh đua trong việc xây dựng, thiết kế các sản phẩm thẻ và trong hoạt động Marketing
nhằm đưa sản phẩm, thương hiệu của ngân hàng đến người tiêu dùng với mục đích
cuối cùng là lợi ích của ngân hàng. Cũng như sự cạnh tranh trong các lĩnh vực khác,
cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng có tính chất quyết định sống còn đối với sự
phát triển của NHTM trong tương lai.
Các đặc điểm của cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng: Cạnh trang trong dịch
vụ thẻ ngân hàng cũng chứa đựng sự gay gắt, khắc nghiệt như cạnh tranh trong các lĩnh
vực khác, tuy nhiên nó cũng mang một số đặc điểm khác biệt sau:
- Thứ nhất: là một loại hình dịch vụ cho nên nó có đặc tính là rất khó đo lường
bằng các tiêu chí định lượng cụ thể. Giống nhu các loại hình dịch vụ nói chung,
dịch vụ thẻ ngân hàng chịu sự chi phối sâu sắc bởi tính tiện ích mang lại cho khách
hàng. Bởi vì không giống như các hàng hoá vật chất khác, người tiêu dùng có thể
ngay lập tức đánh giá được chất lượng sản phẩm, đối với dịch vụ thẻ ngân hàng chỉ
khi khách hàng tiêu dùng dịch vụ rồi thì mới thấy được các tiện ích của dịch vụ mà
thôi. Điều này cũng gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc xây dựng chiến
lược quảng cáo tiếp thị sản phẩm thẻ.Công việc này đòi hỏi phải làm sao cho khách


17
hàng hiểu và tin tưởng vào những tiện ích của thẻ cho dù chưa được sử dụng bao
giờ. Các ngân hàng muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì không có cách

gì khác và phải trước nhất là tạo cho sản phẩm thẻ của mình càng nhiều tính năng
càng tốt
- Thứ hai: là một sản phẩm công nghệ hiện đại cho nên cạnh tranh trên dịch vụ
thẻ ngân hàng cũng mang tính hơi hướng công nghệ cao. Các ngân hàng luôn phải cố
gắng nỗ lực đổi mới công nghệ. Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng:
thông qua việc nâng cao năng lực công nghệ mà từ đó tạo thêm các tính năng mới
cho thẻ, phát triển công nghệ sẽ giúp tạo ra một hình ảnh ngân hàng hiện đại giúp
củng cố lòng tin nơi khách hàng và tạo uy tín cho ngân hàng, đồng thời cũng tạo cảm
giác thoải mái cho khách hàng vì họ được sử dụng những thiết bị hiện đại. Cuộc cạnh
tranh trên lĩnh vực đổi mới công nghệ cho dịch vụ thẻ ngân hàng đòi hỏi một tiềm lực
tài chính lớn từ ngân hàng.Ngoài ra, việc đổi mới công nghệ còn giúp cho ngân hàng
hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ cho cả khách hàng và ngân hàng. Dịch
vụ thẻ ngân hàng càng an toàn càng thu hút được đông đảo khách hàng
- Thứ ba: Sự cạnh tranh trong cuộc chiến giành giật thị phần trên thị trường
thẻ không những chỉ là sự cạnh tranh giành lấy khách hàng mà còn là sự cạnh tranh
trong việc mở rộng mạng lưới các ĐVCNT. Mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ
cũng sẽ ảnh hưởng lớn tới khả năng phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng. Điều này
là vì ĐVCNT chính là nơi khách hàng mua hàng hoá dịch vụ do đó cũng chính là
nơi khách hàng phát hiện ra những tiện ích to lớn của thẻ. Mạng lưới này càng rộng
lớn thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong thanh toán và do đó sẽ
ngày càng thu hút được nhiều khách hàng đến với mình
Cạnh tranh trên thị trường dịch vụ thẻ ngân hàng còn là ở chỗ các ngân hàng
không ngừng phát triển và đa dạng hoá các sản phẩm của mình.Việc đa dạng hoá
sản phẩm giúp khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn phù hợp với mình.Và trong
tác động ngược lại, việc đa dạng hoá sản phẩm này lại giúp ngân hàng hướng tới
được nhiều đối tượng khách hàng hơn.Ngân hàng nào có cơ cấu sản phẩm càng đa
dạng thì càng chứng tỏ khả năng cạnh tranh to lớn của mình.


18

Công cụ có thể coi là hiệu quả nhất giúp các ngân hàng chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh gay gắt này lại là công tác Marketing và tiếp thị. Bởi lẽ là một sản phẩm
dịch vụ nên không thể sờ nắm trực tiếp được mà chỉ có thể thông qua các hoạt động
quảng cáo để giúp cho khách hàng tiếp cận gần hơn với thẻ, thông qua đó kích thích
ham muốn sử dụng thẻ cho các giao dịch cá nhân của mình. Trong đó, các chính
sách khuyến mại, tặng quà hay các chương trình ưu đãi đi kèm theo dịch vụ thẻ là
có tác động ngay trực tiếp lên mong muốn sử dụng thẻ của khách hàng
Cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàngđòi hỏi các NHTM cần nhận thức đúng
đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận canh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó
phát huy yếu tố nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, mặt khác tránh tình
trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm
suy yếu chính mình.
1.2.1.2. Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu như
không tồn tại ở ngân hàng, tại thời điểm này ngân hàng hầu như đã được nhà nước
bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các ngân hàng làm
ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về nhà nước. Vì vậy, vô hình dung nhà nước
đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, ngân hàng
không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm đến ngân
hàng.Chính điều đó đã không tạo được động lực cho ngân hàng phát triển. Sau khi
kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai
đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề
cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với ngân hàng
mà còn đối với các khách hàng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung.
* Đối với khách hàng:
Sự cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng bắt buộc các NHTM phải năng
động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ, thường xuyên cải tiến kỹ thuật công nghệ, áp dụng
những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong quá trình xây dựng,



19
phát hành và các tiện ích của dịch vụ thẻ ngân hàng. Nhờ vậy người tiêu dùng là đối
tượng được hưởng thành quả đầu tiên của quá trình cạnh tranh này.Có cạnh tranh,
dịch vụ thẻ ngân hàng sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, các tiện ích ngày càng
cao hơn, các sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của
người tiêu dùng. Vìvậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân
hàng có các vai trò sau:
-

Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm dịch vụ
thẻ ngân hàng phù hợp với nhu cầu, sở thích và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của
mình

-

Những lợi ích mà người tiêu dùngthu được từ dịch vụ thẻ ngân hàng ngày càng
được nâng cao, thoả mãnngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các tiện ích của
dịch vụ thẻ ngày càng được các NHTM quan tâm phát triển.

-

Sự cạnh tranh trong dịch vụ thẻ bắt buộc các NHTM phải quan tâm đến các khách
hàng của mình nhiều hơn.

-

Sự cạnh tranh trong dịch vụ thẻ yêu cầu ngân hàng phải liên tục đổi mới công nghệ,
kỹ thuật, nhờ vậy người tiêu dùng sẽ luôn được tiếp xúc với những công nghệ mới
nhất, có nhiều tiện ích nhất

* Đối với Ngân hàng thương mại:
Bất kỳ một ngân hàng thương mại nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn ngân hàng mình tồn tại và đứng
vững. Để tồn tại và đứng vững các ngân hàng phải có những chiến lược cạnh tranh
cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Ngân hàng cạnh
tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm
cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình là tốt nhất, phù
hợp với thị hiếu, nhu cầu khách hàng nhất. NHTM nào đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm
theo với mức giá phù hợp thì ngân hàng đó mới có khả năng tồn tại và phát triển.
Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết.


20
Cạnh tranh đòi hỏi các NHTM phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ
việc nghiên cứu thị trường để quyết định cho ra sản phẩm dịch vụ gì? Sản phẩm
dịch vụ như thế nào? Và sản phẩm dịch vụ phục vụ cho ai? Nghiên cứu thị trường
để ngân hàng xác định được nhu cầu thị trường và chỉ đưa ra những gì mà thị trường
cần chứ không đưa những gì mà ngân hàng có. Cạnh tranh buộc các NHTM phải đưa
ra các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn, tiện dụng với khách hàng hơn.
Muốn vậy các NHTM phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình
kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ cho cán bộ, cử các cán bộ
đi học để nâng cao trình độ chuyên môn. Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho ngân hàng
một vị trí xứng đáng trên thị trường, tăng thêm uy tín cho ngân hàng.
* Đối với nền kinh tế:
Đối với nền kinh tế cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự
phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao
động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranh
còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp trong đó có các ngân
hàng thương mại. Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của

xã hội thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống
của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hoá. Cạnh
tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã
hội ngày càng phát triển sâu và rộng. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh
tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành
mạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những
manh mối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái
phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ ngân hàng
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh dịch vụ thẻ của NHTM ta có thể dựa
vào một số chỉ tiêu sau:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng:
 Chỉ tiêu số lượng khách hàng sử dụng thẻ:


21
Đây có thể coi là tiêu chí hàng đầu của bất kỳ một loại hàng hoá, dịch vụ nào.
Số lượng khách hàng phản ánh khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng và sự
hấp dẫn của sản phẩm đối với khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Sản
phẩm dịch vụ thẻ cũng vậy, số lượng khách hàng sử dụng thẻ càng nhiều chứng tỏ
thẻ đó được khách hàng ưa thích và mang lại nhiều tiện ích cho họ, và cũng chứng
tỏ một điều là nó có sức cạnh tranh mạnh mẽ so với các sản phẩm thẻ khác.
Để đánh giá sức cạnh tranh của thẻ ngân hàng của NHTM thông qua chỉ tiêu
này, ta cần phải xem xét tại các thời điểm khác nhau:
-

So sánh về số lượng khách hàng đã sử dụng từng loại thẻ của ngân hàng

-


Số lượng khách hàng đang sử dụng các loại thẻ nào đó và khả năng thu hút thêm
khách hàng trong tương lai là đến đâu.
Đối với mỗi loại thẻ, cần phải xác định rõ số lượng khách hàng đang sử dụng,
tốc độ tăng khách qua các năm để biết được khả năng phát triển trong tương lai.
Nếu lượng khách hàng sử dụng một loại thẻ nào đó có dấu hiệu tăng giảm bất
thường cần làm rõ nguyên nhân để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp hoặc có thể
mạnh dạn nghiên cứu sản phẩm khác thay thế khi một sản phẩm thẻ đã đến chu kỳ
suy thoái.

 Chỉ tiêu số lượng thẻ phát hành:

Đây là chỉ tiêu chính để đo lường thị phần thẻ của các NHTM để từ đó đánh
giá được đúng đắn khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Các NHTM luôn nỗ lực tìm
kiếm các biện pháp để số thẻ được phát hành ra công chúng ngày càng lớn hơn. Bởi
vì như thế tức là ngân hàng bán được ngày càng nhiều sản phẩm, cũng đồng nghĩa
với việc doanh thu từ hoạt động thẻ tăng lên.
Số lượng mỗi loại thẻ phát hành ra công chúng biến động theo từng năm sẽ
giúp ta đánh giá được sức sống của sản phẩm thẻ đó là mau chóng hay lâu dài. So
với các NHTM khác, chúng ta không chỉ tính tổng thị phần thẻ phát hành mà cũng
cần tính tới chỉ tiêu thị phần của từng loại thẻ do ngân hàng phát hành so với đối thủ
cạnh tranh để biết được mình mạnh về loại thẻ nào? Khách hàng của mình nói riêng
và công chúng nói chung thì ưa thích sử dụng loại thẻ nào? Trên cơ sở đó xây dựng
các chiến lược kinh doanh cụ thể cho từng loại thẻ cho phù hợp.


22
Không chỉ có vậy, khả năng cạnh tranh trong dịch vụ thẻ còn phải được đánh
giá về mặt số loại thẻ phát hành hay nói cách khác là khả năng đa dạng hoá sản
phẩm thẻ của ngân hàng.Có thể nói, khả năng đa dạng hoá sản phẩm là vấn đề sống
còn đối với mỗi NHTM. Bởi lẽ mỗi sản phẩm đều có một chu kỳ sống riêng, không

có sản phẩm nào có khả năng tồn tại mãi mãi trong một thế giới thay đổi từng ngày
như hiện nay. Chỉ khi nào sản phẩm thẻ luôn được đa dạng hoá, được gắn thêm
nhiều các tiện ích thì sản phẩm đó mới có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ.
Việc đa dạng hoá các loại thẻ phát hành không chỉ để đáp ứng nhu cầu khách
hàng mà nó còn cho thấy sức mạnh của ngân hàng và có tác dụng nâng cao uy tín
của ngân hàng, cũng như cho thấy việc ứng dụng công nghệ hiện đại của ngân hàng
là đến đâu
 Chỉ tiêu giá trị của thẻ mang lại:

Bên cạnh hai chỉ tiêu quan trọng và thường được chú ý tới hàng đầu khi đánh
giá khả năng cạnh tranh dịch vụ thẻ của các NHTM như trên, chúng ta cũng cần
quan tâm tới một chỉ tiêu khác nữa đó là giá trị của thẻ. Chỉ tiêu này cũng hết sức
quan trọng bởi lẽ đó mới là chỉ tiêu chính cho thấy thu nhập thực sự từ dịch vụ thẻ
là lớn hay nhỏ. Chỉ tiêu này có thể được nhìn nhận trên các mặt như :
- Hạn mức của thẻ: các loại thẻ khác nhau có các giá trị hạn mức khác nhau
tuỳ từng hạng thẻ và từng ngân hàng phát hành. Hạn mức của từng loại thẻ, từng
hạng thẻ sẽ là cơ sở để ngân hàng thu các loại phí liên quan như phí phát hành, phí
cấp lại thẻ, phạt lãi chậm trả… Các đối tượng khách hàng khác nhau sẽ có nhu cầu
khác nhau với từng loại thẻ. Các khách hàng có thu nhập cao thì ưa thích sử dụng thẻ
có hạn mức cao có nhiều dịch vụ đi kèm, các khách hàng có thu nhập trung bình hoặc
thấp thì ngược lại có ít nhu cầu hơn với các loại thẻ này mà nhiều hơn với loại thẻ
thường. Ngân hàng phát hành được càng nhiều thẻ có hạn mức cao thì thu được phí
càng lớn và càng chứng tỏ khách hàng của họ là những khách hàng giàu tiềm năng.
- Giá trị của các giao dịch thanh toán qua thẻ: giá trị này ảnh hưởng lớn đến lợi
nhuận kinh doanh thẻ của ngân hàng bởi lẽ với mỗi món giao dịch của khách hàng tại
ĐVCNT, ngân hàng sẽ thu phí đối với ĐVCNT dựa trên giá trị hàng hoá được thanh
toán. Giá trị thanh toán qua thẻ càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao


23

1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính
 Chỉ tiêu tiện ích của thẻ:

Với đặc trưng là sản phẩm được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại.
Những ngân hàng phát hành thẻ nào đưa ra càng nhiều tiện ích thì càng thu hút
được sự quan tâm của khách hàng. Ngoài các chức năng thường có đối với thẻ ATM
như rút tiền, gửi tiền, chuyển khoản, tại Việt Nam hiện nay cũng có một số thẻ đã
mở rộng thêm các tiện ích như thanh toán tiền hàng hoá, điện nước, bảo hiểm, chi
trả tiền lương, mua sắm…đã cho phép người sử dụng thuận tiện hơn khi phát sinh
các nhu cầu liên quan. Những tiện ích của thẻ không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng
phát hành mà còn phụ thuộc vào việc các ngân hàng có tham gia vào các liên minh
thẻ hay Banknet hay không, bởi vì điều này cho phép những người nắm giữ thẻ
ngân hàng có thể rút và thanh toán tiền thông qua máy rút tiền của ngân hàng khác.
Nhìn chung, thẻ càng có nhiều tiện ích thì càng có khả năng thu hút khách hàng, và
nó đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của ngân hàng được nâng lên mạnh mẽ.
 Chỉ tiêu sự an toàn của thẻ:

Khi sử dụng bất cứ sản phẩm nào khách hàng không chỉ quan tâm tới những
tiện ích thu được mà còn quan tâm tới sự an toàn của sản phẩm. Nhất là với sản
phẩm thẻ ngân hàng, một sản phẩm có tính chất kinh tế và gắn với túi tiền của
người sử dụng. Với các sản phẩm thông thường, trách nhiệm của nhà cung cấp
chấm dứt sau khi sản phẩm được bán đi. Nhưng với thẻ thì khác, ngân hàng luôn
phải đảm bảo an toàn trong suốt quá trình khách hàng sử dụng thẻ.
Sự an toàn cho dịch vụ thẻ ngân hàng sẽ càng được nâng cao khi mà ngân
hàng hạn chế được các rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ. Các trường hợp rủi
ro có thể xảy ra như:Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi, tài
khoản của chủ thẻ có thể bị lợi dụng, nổi trội hơn cả trong vấn đề an toàn là hiện
tượng thẻ giả (counterfeit card). Đó là trường hợp các tổ chức, cá nhân cố tình làm
giả căn cứ vào các thông tin có được từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc thẻ mất cắp,
thất lạc…Với trình độ khoa học kỹ thuật như hiện nay, kẻ xấu có thể làm giả thẻ



24
một cách rất tinh vi bằng cách lấy trộm số PIN hay các thông tin bí mật khác. Vấn
đề này đang được giới báo chí và khá nhiều người quan tâm.
Tóm lại, bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng ẩn chứa nhiều rủi ro chứ
không cứ là kinh doanh thẻ. Do đó, việc nâng cao sựan toàn, hạn chế rủi ro là điều
kiện để ngân hàng nâng cao uy tín, giảm thiệt hại cho khách hàng và ngân hàng từ
đó nâng cao khả năng cạnh tranh của chính mình
 Chỉ tiêu chất lượng dịch vụ thẻ:

Một sản phẩm sẽ có điều kiện mở rộng hơn khi mà chất lượng dịch vụ đi kèm
là tốt hoặc chỉ đơn giản là có khả năng làm vừa lòng khách hàng. Việc làm thoả
mãn các thượng đế là yếu tố quan trọng để lôi kéo khách hàng về phía mình. Chất
lượng dịch vụ được thể hiện ở các mặt như:
-

Thủ tục, thời gian mở thẻ: thủ tục nhanh gọn không rườm rà khiến cho khách hàng
cảm thấy thoải mái khi đến giao dịch với ngân hàng. Đồng thời, điều này cũng
không làm tốn thời gian giao dịch của khách hàng.

-

Phí của thẻ: phí này có thể bao gồm phí mở thẻ, phí thường niên của thẻ, phí làm lại
thẻ, phí khi bị mất cắp thẻ…đây cũng là chỉ tiêu cạnh tranh của nhiều ngân hàng.
Nhiều khi khách hàng quyết định sử dụng loại thẻ này chứ không phải loại thẻ kia
cho dù có thể có tiện ích khác nhau cũng một phần do phí quyết định. Các mức phí
càng hấp dẫn thì càng có khả năng thu hút đông đảo khách hàng. Và khi số lượng
khách hàng càng đông thì cùng theo nó là doanh thu tăng lên.


-

Thời hạn của thẻ: thời hạn này là khác nhau đối với mỗi loại thẻ khác nhau và các
ngân hàng khác nhau. Thời hạn này cũng ảnh hưởng tới quyết định sử dụng thẻ của
khách hàng. Thông thường thì các thẻ có thời hạn dài thường đi kèm nhiều tiện ích
hơn cho nên thường được khách hàng ưa chuộng hơn.

-

Tốc độ thanh toán thẻ: thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại, nó ưu điểm hơn
các phương tiện thanh toán khác ở chỗ tiết kiệm thời gian. Tốc độ thanh toán thẻ
càng cao thì tiện ích đem lại cho khách hàng càng lớn. Điều này phụ thuộc nhiều
vào mức độ trang thiết bị công nghệ của ngân hàng và các ĐVCNT


25
 Chỉ tiêu thương hiệu của thẻ:

Đây có thể coi là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá khả năng cạnh
tranh của một loại thẻ. Sức mạnh thương hiệu có ảnh hưởng quyết định đến việc
loại thẻ đó có thể tồn tại và phát triển được hay không hay phải rút lui khỏi thị
trường. Thương hiệu càng mạnh thì càng tạo điều kiện cho dịch vụ thẻ được nhiều
người biết đến và được chấp nhận rộng rãi. Cũng có nghĩa là thương hiệu thẻ nói
riêng và thương hiệu của ngân hàng đó nói chung có sức cạnh tranh trong cuộc chạy
đua với các ngân hàng khác. Nhiều khi khách hàng đến với sản phẩm dịch vụ thẻ
nhưng chưa hiểu biết hết về những lợi ích của thẻ mà chỉ bởi vì thương hiệu của
ngân hàng hay của thẻ là mạnh hơn các đối thủ khác. Nói chung thương hiệu có ảnh
hưởng không nhỏ tới khả năng mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng. Cho nên
việc xây dựng một thương hiệu ngân hàng mạnh, một thương hiệu thẻ nổi bật được
nhiều người biết đến là vấn đề mà nhiều ngân hàng cần phải quan tâm.

1.2.3. Các công cụ trong cạnh tranh dịch vụ thẻ ngân hàng
Công cụ cạnh tranh dịch vụ thẻ ngân hàng của các NHTM có thể hiểu tập
hợp các yếu tố, các kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà
NHTM sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách
hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm dịch
vụ thẻ. Từ đó nâng cao được hoạt động dịch vụ thẻ của ngân hàng, chiếm lĩnh
được thị trường vàthu được lợi nhuận cao. Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh
trong dịch vụ thẻ ngân hàng cho phép các NHTM lựa chọn những công cụ cạnh
tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của
ngân hàng.Dưới đây là một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các
NHTM thường sử dụng.
1.2.3.1.Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thẻ.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ thẻ là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính,
tiện ích, công nghệ, sự an toàn của sản phẩm dịch vụ thẻ, thể hiện mức độ thoả mãn
nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích
của sản phẩm dịch vụ thẻ, đáp ứng được tối đa nhu cầu của người sử dụng.


×