Tải bản đầy đủ (.docx) (126 trang)

Luận văn thạc sỹ Quản lý trị giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (758.46 KB, 126 trang )

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu trong
luận văn là hoàn toàn trung thực, các đánh giá, kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực
tiễn và kinh nghiệm. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Học viên

Hoàng Khánh Chi

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACV

ASEAN
ASEM
BCT
CBCC
CQHQ
DMRR
DN

: Hiệp định trị giá GATT/WTO
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
: Diễn đàn hợp tác Á- Âu
: Bộ Công Thương
: Cán bộ công chức


: Cơ quan Hải quan
: Danh mục quản lý rủi ro về hàng hóa xuất nhập khẩu
: Doanh nghiệp


2

EU
FVFTA
GATT
GDP
GSQL
GTGT
HQ
KBNN
KTSTQ
NHTM
SBQTNB
TCHQ
TGTT
TM
TNHH
TP
TTĐB
TTP
WCO
WTO
XHCN
XNK


: Liên minh châu Âu
: Hiệp định thương mại tự do với Châu Âu
: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
: Tổng sản phẩm quốc nội
: Giám sát quản lý
: Thuế Gía trị gia tăng
: Hải quan
: Kho bạc nhà nước
: Kiểm tra sau thông quan
: Ngân hàng thương mại
: Cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài
: Tổng cục Hải quan
: Trị giá tính thuế
: Thương mại
: Trách nhiệm hữu hạn
: Thành phố
: Thuế Tiêu thụ đặc biệt
: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
: Tổ chức hải quan thế giới
: Tổ chức thương mại thế giới
: Xã hội chủ nghĩa
: Xuất nhập khẩu


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Xu thế toàn cầu hoá cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra sự

chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động thương mại quốc tế: dòng chảy hàng hoá,
phương tiện, hành khách, vốn đầu tư giữa các quốc gia tăng trưởng mạnh cả về
giá trị và khối lượng. Đồng thời, sự bùng nổ của công nghệ thông tin dẫn đến sự
phát triển ngày càng tăng của các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và rất
nhiều loại hình tội phạm mới. Kinh tế thế giới đang thay đổi rất nhanh tạo cho
nước ta vị thế mới với nhiều cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức
trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nằm trong bối cảnh các mối quan
hệ quốc tế cởi mở và rất đa dạng. Việt Nam đã gia nhập nhiều Tổ chức Quốc tế
như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO); Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO);
Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA)….Khi đã là thành viên của các Tổ chức Quốc tế, Việt Nam
phải thực hiện các cam kết quốc tế mà mình đã tham gia như: Hiệp định về thực
hiện điều VII Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT),Công ước
KYOTO (Công ước Quốc tế về Đơn giản, hài hoà hoá thủ tục hải quan); Khung
tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi thương mại toàn cầu (SAFE) được Hội đồng
Tổ chức Hải quan thế giới thông qua năm 2005.
Hải quan Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế
đất nước, được một số chuyên gia ví Hải quan là “người gác cửa nền kinh tế”
của đất nước. Với tính chất đặc thù của mình, hoạt động hải quan là một trong
những lĩnh vực then chốt, ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình hội nhập. Ngành Hải
quan đang thực hiện những sứ mệnh quan trọng nhằm góp phần tạo thuận lợi cho


4

thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo cho nguồn thu ngân sách, bảo
vệ anh ninh quốc gia và cộng đồng.
Trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan trên lĩnh vực quản lý trị giá

tính thuế, với mục tiêu tạo điều kiện cho thương mại và hội nhập, trong khi vẫn
phải đảm bảo duy trì một hệ thống kiểm soát xuất nhập khẩu đầy đủ, ngành Hải
quan đang đứng trước những thách thức to lớn để vừa tạo thuận lợi cho thương
mại phát triển vừa đảm bảo đối tượng chịu sự quản lý của hải quan tuân thủ
nghiêm túc các chính sách pháp luật liên quan.
Trước năm 2003, nguyên tắc xác định trị giá tính thuế dựa trên bảng giá tối
thiểu bộc lộ nhược điểm cơ bản là mang tính áp đặt, không phù hợp với thực tiễn
giao dịch thương mại quốc tế. Từ ngày 01/01/2004 Việt Nam đã chính thức triển
khai thực hiện xác định trị giá hải quan theo Hiệp định về thực hiện điều VII
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là Hiệp định mang
tính kỹ thuật cao đòi hỏi các cơ quan hải quan và doanh nghiệp phải hiểu biết
đầy đủ, chính xác và thống nhất.
Thực tế cho thấy cả phía cơ quan Hải quan và doanh nghiệp đều bộc lộ những
hạn chế: cán bộ hải quan còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp xác
định trị giá tính thuế do chưa thực sự hiểu sâu nghiệp vụ, phía doanh nghiệp còn mơ
hồ về cách xác định trị giá tính thuế nên không hiểu hết quyền lợi và nghĩa vụ của
mình. Từ thực tế đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý giá tính thuế
xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách quốc gia.
Do vậy việc nghiên cứu vấn đề xác định trị giá tính thuế là hết sức quan
trọng, giúp các bên có liên quan tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp, góp phần
đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hóa, đưa hàng hóa vào lưu thông. Để góp
phần thực hiện tốt trọng trách trên, ngành Hải quan nói chung và Cục Hải quan
TP.Hà Nội đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề quản lý giá tính thuế. Tuy
nhiên trong thời gian qua, do lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng,
nên việc tăng cường công tác quản lý giá tính thuế chưa được ưu tiên xem xét.


5

Xuất phát từ những căn cứ nêu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản

lý trị giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội” làm
đề tài nghiên cứu của luận văn này.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói chung và quản lý trị giá tính thuế
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của ngành Hải quan, khi mà số thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chiếm tỷ
trọng khá cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, đã có khá nhiều
đề tài khoa học, những bài viết, những công trình quan tâm nghiên cứu quản lý
thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng như xác định trị giá tính thuế hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến là:
- Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu thuộc Tổng cục Hải quan
(2000),Xác định lộ trình tiến tới thực hiện Hiệp định trị giá GATT/WTO và các
giải pháp thực thi,NXB Tài chính, Hà Nội.
-Hiệp định Trị giá GATT/WTO(2003), NXB Tài chính, Hà Nội.
- Lê Thành Phong (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định
trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO,
Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Thái Nguyên.
- Mai Xuân Thành (2002), Một số giải pháp chống gian lận thương mại
qua giá trong tiến trình hội nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành,
Tổng cục Hải quan.
- Nguyễn Khánh Toàn (2002), Hải quan Indonesia và những bài học trong
việc thực hiện Hiệp định Trị giá Hải quan GATT, Tạp chí Hải quan số 7.
- Nguyễn Thị An Giang(2006),Vai trò của cán bộ trị giá hải quan ở Nhật
Bản, Tạp chí Hải quan số 2.
- Nguyễn Văn Cẩn (2007), Tác động của Hiệp định Trị giá Hải quan WTO
đối với ngoại thương Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.


6


- Phương Linh (2001), Kinh nghiệm Hải quan Thái Lan khi thực hiện Hiệp
định Trị giá Hải quan GATT/WTO , Tạp chí Hải quan.
- Sổ tay Hiện đại hoá hải quan do Ngân hàng Thế giới xuất bản (bản dịch
năm 2007).
- Tổng cục Hải quan (1996), Các phương pháp xác định trị giá hải quan
theo GATT và kiểm toán hải quan, NXB Tài chính, Hà Nội.
- Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức Hải quan thuộc Tổng cục Hải
quan (2007), Sổ tay kiểm tra trị giá hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới
WCO
Những công trình nghiên cứu khoa học trênmới chỉ khái quát được cơ sở
lý luận, vai trò của công tác quản lý trị giá tính thuế hàng hóa XNK khi áp
dụng xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định Trị giá GATT, tuy nhiên mang
tính khởi đầu, mới chỉ đề cập đến các khía cạnh về kỹ thuật cũng như giới
thiệu các phương pháp mang tính chất chung nhất, chưa có công trình nào đi
sâu đánh giá thực trạng việc xác định trị giá tính thuế hiện nay để từ đó đưa ra
những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện cơ chế xác định trị giá tính thuế
hiện nay cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay và tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, chưa có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng quản lý giá
tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu nói chung và một nhóm hàng nhập khẩu
nói riêng. Trên thực tếcông tác quản lý trị giá tính thuế bộc lộ rất nhiều vấn đề cả
cơ sở pháp lý và thực tiễn chưa được làm rõ, chưa cụ thể. Đặc biệt trong điều
kiện tồn tại đồng thời mô hình TTHQ điện tử và mô hình, TTHQ khai từ xa đã
gây nên nhiều khó khăn, vướng mắc, lúng túng khi triển khai thực hiện, làm cho
tính khả thi và kết quả triển khai khi thực hiện chưa đạt được như mong muốn.
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giá tính thuế
hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội trong bối cảnh hội nhập



7

kinh tế quốc tế trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến cơ sở
pháp lý của việc xác định trị giá tính thuế, phân tích thực trạng công tác xác định
trị giá tính thuế tại Cục Hải quan TP.Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện những nội dung sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý trị giá giá hàng hoá nhập khẩu từ năm
2012 -2014.
- Hệ thống hoá và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác
quản lý giá hàng tiêu dùng nhập khẩu ở Cục Hải quan TP.Hà Nội nói riêng và
các Cục Hải quan trên cả nước nói chung.
1.4. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá, phân tích, so sánh các văn bản, chính sách liên quan đến
xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu qua đó đánh giá những thuận lợi, khó
khăn của trong việc thực thi chính sách đối với hoạt động xác định trị giá hàng
hoá nhập khẩu hiện nay.
- Đánh giá thực trạng hoạt động xác định giá tính thuế hàng hoá tiêu dùng
nhập khẩu hiện nay trên cơ sở khảo sát, điều tra, thu thập, phân tích các dữ liệu
giá tính thuế tại Cục Hải quan TP.Hà Nội.
- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện hệ thống văn bản về xác định trị giá tính thuế hiện nay, về điều kiện trang
thiết bị làm việc và con người thực hiện, về quan hệ phối hợp trong và ngoài
ngành, về nhận thức và tình hình chấp pháp của người nhập khẩu, doanh nghiệp.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng những
phương pháp sau đây:



8

Phương pháp phỏng vấn, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, thu thập
thông tin... để đưa ra các kết quả nghiên cứu.
1.6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 04 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quản lý trị giá tính thuế hàng nhập
khẩu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập
khẩu tại Cục Hải quan TP. Hà Nội.
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý giá hàng tiêu
dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội


9

CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU
2.1
2.1.1

Khái quát về trị giá tính thuế và xác định trị giá tính thuế
Khái niệm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu và xác định trị giá tính thuế
* Trị giá tính thuế hàng nhập khẩu (Trị giá hải quan)
Theo Điều 15, Hiệp định trị giá GATT/WTO: “Trị giá tính thuế là trị giá hải
quan nhằm mục đích tính thuế. Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm

cơ sở tính thuế” [23, tr.300].Theo khái niệm này có thể hiểu trị giá tính thuế là trị
giá hải quan nhằm phục vụ công tác tính thuế và việc xác định trị giá hải quan là
xác định trị giá làm cơ sở tính thuế.
Theo quy định tại Luật Hải quan, trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa
xuất nhập khẩu, phục vụ cho mục đích tính thuế, thống kê hải quan.
Trị giá hải quan hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu
nhập đầu tiên trên cơ sở áp dụng Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
hoặc theo các cam kết quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
ký kết.
Trên thực tế, tuỳ theo từng phạm vi và mục đích nghiên cứu, có tài liệu, văn
bản (hầu hết là tài liệu nước ngoài) sử dụng cụm từ “Trị giá hải quan” (customs
value); có tài liệu, văn bản (chủ yếu các tài liệu trong nước) sử dụng cụm từ “trị
giá tính thuế” nhưng phân tích dưới góc độ nhằm mục đích tính thuế thìhai khái
niệm này đồng nhất với nhau. Luận văn này, tác giả xin sử dụng chung một khái
niệm là “trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu”.
Theo quản lý hải quan hiện đại, trị giá tính thuế là phần số liệu về trị giá
được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan, do cơ quan hải quan quản lý và sử
dụng phục vụ cho các mục tiêu quản lý nhà nước về Hải quan, trong đó mục tiêu
dùng để tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là chủ yếu và gọi là trị
giá tính thuế.Trị giá tính thuế là yếu tố quan trọng (cùng với số lượng hàng hoá


10

và mức thuế suất đối với mỗi loại hàng hoá đó) cấu thành nên thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu. Bởi vậy xác định trị giá hải quan là một công tác quan trọng
trong hệ thống thuế quan hiện đại đảm bảo cho qui trình thủ tục hải quan nói
chung và kiểm tra tính thuế nói riêng được thuận lợi và chính xác.
Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại (Hiệp định General Agreement of Tarriff and Trade, viết tắt là

GATT) hay còn gọi là Hiệp định Trị giá Hải quan (ACV) được ký kết tại Vòng
đàm phán Tokyo năm 1979, có hiệu lực thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 1981
đưa ra một nguyên tắc chung về xác định trị giá hải quan cho tất cả các nước
tham gia ký kết, nhằm mang lại sự thống nhất, bình đẳng trong hoạt động ngoại
thương trên phạm vi toàn cầu. Đây là một bước tiến đáng kể của quá trình hình
thành khái niệm trị giá hải quan được công nhận rộng rãi và sử dụng chung cho
các nước, bởi vì tính đến thời điểm ra đời của Hiệp định GATT, việc xác định trị
giá hải quan được thực hiện một cách tự phát, không thống nhất trên thế giới.
Các nguyên tắc chung đã được cụ thể hoá bằng các phương pháp xác định trị giá
hải quan cụ thể đi kèm với những hướng dẫn rõ ràng. Chính vì vậy, Hiệp định Trị
giá Hải quan đã tạo nên sự ổn định và thống nhất mới trong việc định giá chung
trên thế giới, được rất nhiều nước ủng hộ.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) coi ACV là một phần bắt buộc các
nước thành viên của WTO phải thực hiện. Theo Hiệp định Trị giá Hải quan thì
khái niệm trị giá hải quan là trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hay
sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được xuất khẩu đến nước nhập khẩu sau khi đã
tính đến các khoản điều chỉnh (các khoản phải cộng, các khoản được trừ) theo
Điều 8 của Hiệp định này.
Để phù hợp với luật pháp về thuế của Việt Nam, cụm từ “trị giá hải quan”
tại Hiệp định được thay thế bằng “trị giá tính thuế”. Cụ thể, tại Điều 9 Luật Thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định “trị giá
tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu


11

nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế”, và tại Điều 1 Nghị
định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007của Chính phủ quy định về việc xác
định trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng nêu “Xác định trị giá hải
quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập

khẩu”.
Tựu chung lại có thể hiểu thống nhất về trị giá tính thuế là trị giá của hàng
hóa xuất nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý nhà nước về hải quan.
Trị giá tính thuế bao gồm trị giá hải quan của hàng xuất khẩu và trị giá hải
quan của hàng nhập khẩu
Trị giá tính thuế của hàng xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất
khẩu, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển và bảo
hiểm quốc tế.
Trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa
khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự sáu phương
pháp xác định trị giá tính thuế và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá
tính thuế. Hiện nay hải quan Việt Nam đang áp dụng các phương pháp xác định
trị giá tính thuế theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO.
* Khái niệm về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
Cho đến nay chưa có một khái niệm chính thức nào về việc xác định trị giá
tính thuế đối với hàng hóa NK. Tuy nhiên từ các văn bản liên quan và thực tiễn
công tác, tác giả có thể đúc rút ra khái niệm về xác định trị giá tính thuế như sau:
Xác định TGTT là một phần công việc trong quy trình thủ tục hải quan trong đó
CBCC hải quan căn cứ vào hồ sơ doanh nghiệp khai báo, chứng từ, cơ sở dữ liệu
giá của cơ quan hải quan và các nguồn thông tin liên quan để khẳng định hồ sơ
khai báo doanh nghiệp có nghi vấn về mức giá khai báo hay không và cơ quan
hải quan có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo của doanh nghiệp hay không từ đó
sử dụng các phương pháp xác định giá theo quy định để xác định mức giá phù
hợp với hàng hóa NK.


12

Từ 29/12/2003 Hải quan Việt Nam bắt đầu thực hiện việc xác định trị giá
tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO.

Theo hiệp định trị giá GATT, trị giá tính thuế được xác định bằng một trong
các phương pháp sau:
- Phương pháp trị giá giao dịch
- Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu giống hệt
- Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu tương tự
- Phương pháp khấu trừ
- Phương pháp tính toán
- Phương pháp suy luận
Hiệp định cũng chỉ ra rằng không một nhà nhập khẩu hoặc cơ quan quản lý
nào có quyền lựa chọn tùy tiện phương pháp xác định trị giá mà đều phải tuân
thủ theo một trình tự đã định sẵn. Để xác định trị giá tính thuế của hàng nhập
khẩu phải áp dụng tuần tự sáu phương pháp, bắt đầu từ phương pháp thứ nhất
“trị giá giao dịch” và chỉ khi vì một lý do nào đó mà phương pháp này không
thể áp dụng được thì mới áp dụng phương pháp thứ hai. Nếu không thể xác định
trị giá tính thuế theo phương pháp thứ hai thì sẽ phải áp dụng lần lượt các
phương pháp khác cho đến phương pháp cuối cùng. Nguyên tắc này chỉ ngoại lệ
đối với phương pháp thứ tư “Phương pháp khấu trừ” và phương pháp thứ năm
“Phương pháp tính toán”. Trong quá trình xác định trị giá tính thuế, hai phương
pháp này có thể hoán đổi vị trí cho nhau nếu có yêu cầu của doanh nghiệp và sự
đồng ý của cơ quan hải quan. Sở dĩ có thể hoán đổi hai phương pháp này cho
nhau là do việc xác định trị giá tính thuế theo hai phương pháp này chủ yếu dựa
trên các tài liệu, số liệu và bằng chứng khách quan của doanh nghiệp. Do đó,
doanh nghiệp sẽ là người hiểu rõ nhất việc xác định trị giá tính thuế theo phương
pháp nào là hợp lý nhất để từ đó đề nghị cơ quan hải quan áp dung phương pháp
phù hợp.
2.1.2

Ý nghĩa của việc xác định trị giá tính thuế



13

Một là, đảm bảo tính đúng, tính đủ thuế
Mục tiêu đầu tiên của việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là
nhằm đảm bảo tính đúng, tính đủ thuế nhập khẩu. Trị giá tính thuế hàng nhập
khẩu là căn cứ chính để các cơ quan quản lý thuế tiến hành việc kiểm tra số
thuế nhập khẩu mà các đối tượng nộp thuế phải nộp. Vì vậy, việc xác định
đúng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ đảm bảo thuế nhập khẩu và các
khoản phí, lệ phí đi kèm được thu đúng, thu đủ.
Hai là, tránh thất thu cho ngân sách nhà nước
Mục tiêu thứ hai của việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là
tránh thất thu cho ngân sách nhà nước. Đây cũng là mục tiêu chung trong
công tác quản lý thuế nói chung. Việc xác định đúng trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu sẽ giúp tính đúng số thuế người nhập khẩu phải thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế, thu đúng, thu đủ thuế nhập khẩu, từ đó tránh thất thu cho ngân sách
nhà nước từ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ba là, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh
Việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ khiến cho việc đàm
phán giá cả trong thương mại được tôn trọng, tránh tình trạng một mặt hàng
có nhiều mức giá khác nhau một cách bất hợp lý. Nói cách khác xác định
chính xác trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ có được mức giá thống nhất cho
cùng một mặt hàng. Từ đó tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa
các doanh nghiệp.
Bốn là, chống chuyển giá
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa,
dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên cùng một tập đoàn
qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế thu nhập
của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm
thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết.



14

Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả, từ đó tác động lên các hoạt
động xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác của các quốc gia
xuất nhập khẩu.
Tại Việt Nam, hoạt động chuyển giá nhằm trốn thuế của nhiều doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang diễn ra ngày càng tinh vi và
phức tạp, có thể kể đến một số hình thức như: chuyển giá thông qua chuyển
giao tài sản hữu hình giữa các bên liên kết, chuyển giá thông qua chuyển giao
tài sản vô hình, chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ nội bộ tập đoàn,
chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh…Nếu xác định
đúng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu đây sẽ là cơ sở thuận lợi để chống
chuyển giá, tránh những tác động tiêu cực của hoạt động này đến nền kinh tế
của quốc gia.
Năm là,việc xác định trị giá tính thuế theo GATT phù hợp với hệ thống
thương mại quốc tế do đó tạo điều kiện cho giao lưu thương mại quốc tế phát
triển.
Hệ thống xác định trị giá tính thuế đề cập đến các yếu tố điều chỉnh như
giá bán hàng, thời gian, địa điểm, số lượng, cấp độ thương mại, các chi phí
phát sinh trước hoặc sau quá trình nhập khẩu mà chưa được đưa vào giá bán
hàng hóa và dự liệu được các tình huống có thể xảy ra trong giao dịch hàng
hóa thực tế với cơ chế xác định giá tính thuế ổn định góp phần giải phóng
nhanh hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán hàng và thu hồi vốn
nhanh, do đó đẩy mạnh lưu thông thương mại và tạo ra nhiều nguồn hàng hóa
cho lưu thông trong nước
2.1.3
2.1.3.1.


Các phương pháp xác định trị giá tính thuế
Phương pháp trị giá giao dịch


15

Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu được quy định tại
Điều 1 của ACV. Đây là phương pháp đầu tiên và được sử dụng chủ yếu để
xác định trị giá hải quan cho hàng hóa nhập khẩu.
Theo phương pháp này, trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là trị giá
giao dịch của hàng hóa đó. Điều 1 của ACV đã quy định rõ: Trị giá giao dịch
của hàng nhập khẩu là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho
hàng hóa khi hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu, do người
nhập khẩu (người mua) trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho người xuất khẩu
(người bán) hoặc trả cho một người khác vì lợi ích của người bán, sau đó
cộng thêm hoặc trừ đi các khoản điều chỉnh tương ứng theo quy định trong
luật pháp của mỗi nước áp dụng.
Trị giá hải quan được xác định theo công thức sau:
Trị giá tính
thuế hàng
nhập khẩu

=

Trị giá giao
dịch

Giá thực tế đã
=


thanh toán hay sẽ
phải thanh toán

Các khoản điều
±

chính

 Các khoản điều chỉnh cộng bao gồm:

- Tiền hoa hồng (trừ hoa hồng mua hàng) và chi phí môi giới:
Đây là khoản chi phí do người mua thanh toán cho một bên thứ ba nào
đó do có sự tham gia của bên này vào việc ký kết hợp đồng mua bán hàng
hóa. Bên thứ ba có thể là đại lý mua, đại lý bán hàng, người môi giới…
Khoản tiền thù lao trả cho bên thứ ba này thường được thể hiện dưới dạng tiền
hoa hồng hoặc chi phí môi giới và được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm
nhất định trên tổng giá trị hợp đồng đã ký kết.

- Chi phí bao bì và đóng gói hàng hóa:


16

Đây là các khoản chi phí có liên quan đến việc mua các loại bao bì gắn
liền với hàng hóa và các chi phí liên quan đến việc đóng gói sản phẩm, được
coi là đồng nhất với hàng hóa đang được xác định trị giá.
- Các khoản trợ giúp:
Đây có thể là những hàng hóa hay dịch vụ do chủ hàng cung cấp trực
tiếp hoặc gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá cho người sản xuất để sử dụng
trong quá trình sản xuất ra chính lô hàng đang được xác định trị giá.

- Tiền bản quyền, phí giấy phép:
Bao gồm các khoản thanh toán đối với các mẫu mã, nhãn mác thương
mại, bằng sáng chế, phát minh và bản quyền tác giả liên quan trực tiếp đến
hàng hóa xuất nhập khẩu.
Các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi
bán lại, định đoạt, sử dụng hàng hóa nhập khẩu được quy định tại điều 8.1(d)
của ACV: “Trị giá của bất kỳ khoản tiền nào thu được do việc bán lại, chuyển
nhượng hoặc sử dụng sau đó đối với hàng nhập khẩu, do người mua hàng
thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán hàng đều phải cộng vào giá
thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán”.
- Chi phí vận chuyển, xếp dỡ, bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu:
Đây là các chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ nước
xuất khẩu đến cảng hoặc địa điểm nhập khẩu.
Các khoản phải cộng trên đây là các khoản cố định. Tức là khi xác định
trị giá hải quan, ngoài các chi phí như vừa nêu ở trên thì không loại chi phí
nào khác được cộng thêm vào giá giao dịch.
 Các khoản điều chỉnh trừ bao gồm:
-

Các chi phí vận chuyển sau khi nhập khẩu bao gồm chi phí về xếp hàng, dỡ
hàng, chi phí vận tải và bảo hiểm phát sinh sau nhập khẩu.

-

Chi phí về xây dựng, kiến trúc, lắp đặt, tháo dỡ các bộ phận hoặc trợ giúp kỹ
thuật được thực hiện sau khi nhập khẩu hàng hóa.


17




Điều kiện để thực hiện điều chỉnh cộng hoặc trừ:
Các khoản điều chỉnh phải liên quan trực tiếp đến lô hàng đang được xác
định trị giá
Có khả năng định lượng và có giấy tờ chứng minh. Nếu không tính toán
được giá trị của các khoản điều chỉnh hoặc không có chứng từ chứng minh thì
không áp dụng phương pháp này nữa mà chuyển sang phương pháp kế tiếp.
Chưa được tính vào giá hóa đơn đối với các khoản điều chỉnh cộng hoặc đã
có trong giá hóa đơn đối với các khoản điều chỉnh trừ.
Phương pháp trị giá giao dịch là một phương pháp đơn giản và dễ áp dụng.
Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, giao dịch cần phải thỏa mãn những
điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất, người mua (chủ hàng) có toàn quyền định đoạt hay sử
dụng hàng hóa nghĩa là có đầy đủ quyền chuyển giao, có quyền sở hữu, quyền tự
mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế, từ bỏ hàng hóa, quyền khai thác
công dụng, hưởng lợi, lợi tức từ hàng hóa.
- Điều kiện thứ hai, giao dịch mua bán không phụ thuộc vào bất cứ điều
kiện nào dẫn đến việc không xác định được trị giá lô hàng nhập khẩu.
- Điều kiện thứ ba, người mua sẽ không phải trả thêm một khoản tiền nào
trích từ doanh thu hay lợi nhuận bán hàng của mình cho người cung cấp hàng
hóa (người bán), trừ khi khoản tiền đó chính là khoản điều chỉnh đã quy định.
- Điều kiện thứ tư, người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt,
hoặc là nếu có mối quan hệ đặc biệt thì mối quan hệ đó cũng không ảnh hưởng
đến giá cả của hàng hóa nhập khẩu.

2.1.3.2.

Phương pháp trị giá đối với hàng hóa nhập khẩu giống hệt
Phương pháp này chỉ được áp dụng khi không thể xác định được trị giá hải

quan theo phương pháp trị giá giao dịch. Theo Điều 2 của ACV: Nếu trị giá hải
quan của hàng hoá nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1
thì trị giá hải quan là trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt được bán với mục


18

đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ
với lô hàng cần phải xác định trị giá. Do vậy theo phương pháp này, trị giá hải
quan của hàng nhập khẩu sẽ là trị giá giao dịch của hàng giống hệt với mặt hàng
cần xác định trị giá tính thuế. Do vậy, xuất phát điểm của phương pháp này là đi
tìm mặt hàng nhập khẩu giống hệt với mặt hàng đang xác định trị giá hải quan và
nguyên tắcáp dụng trị giá hải quan của hàng hóa giống hệt.
Theo ACV, Điều 15.2 (a) quy định: “Mặt hàng giống hệt là những hàng hoá
giống nhau về mọi khía cạnh kể cả tính chất vật lý, chất lượng và danh tiếng, uy
tín. Những khác biệt nhỏ bên ngoài không ảnh hưởng đến việc coi hàng hóa là
mặt hàng giống hệt.
Như vậy, hàng hóa giống hệt phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Tính chất vật lý: những mặt hàng giống hệt phải có những tính chất vật lý
hoàn toàn giống nhau, xét trên các góc độ như tiêu chuẩn bề mặt, hình dạng, vật
liệu cấu tạo, tính năng, mục đích sử dụng của hàng hóa.
- Thỏa mãn các điều kiện về chất lượng hàng hóa
- Danh tiếng của hàng hóa
- Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản
xuất khác được ủy quyền.
Việc xác định trị giá Hải quan theo phương pháp trị giá giao dịch đối với
hàng nhập khẩu giống hệt cần thỏa mãn các điều kiện lựa chọn lô hàng giống
hệt:
- Lô hàng nhập khẩu giống hệt phải được xuất khẩu vào cùng thời điểm
hoặc cùng kỳ với lô hàng đang được xác định trị giá

- Lô hàng nhập khẩu giống hệt phải có cùng cấp độ thương mại và số lượng
với lô hàng đang được xác định trị giá hoặc đã được điều chỉnh về cùng cấp độ
thương mại và số lượng với lô hàng đang được xác định trị giá.
- Lô hàng nhập khẩu giống hệt phải có cùng điều kiện về khoảng cách và
phương thức vận chuyển với lô hàng đang được xác định trị giá hoặc đã được


19

điều chỉnh về cùng khoảng cách và phương thức vận chuyển với lô hàng đang
được xác định trị giá
- Nếu có hai hoặc nhiều lô hàng giống hệt thỏa mãn tất cả các điều kiện thì
lựa chọn lô hàng có trị giá thấp nhất làm cơ sở để xác định trị giá hải quan cho lô
hàng đang được xác định trị giá.
2.1.3.3.

Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự
Phương pháp này được áp dụng khi không thể xác định được trị giá tính
thuế theo phương pháp trị giá giao dịch (Phương pháp 1) hay phương pháp trị
giá giao dịch của hàng giống hệt (Phương pháp 2). Theo phương pháp này, trị giá
hải quan của hàng nhập khẩu sẽ là trị giá giao dịch của hàng tương tự bán để
xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô
hàng đang được xác định trị giá hải quan.
Theo Điều 15.2 (a) của ACV quy định: hàng hóa tương tự là những hàng
hóa dù không giống nhau về mọi chi tiết nhưng có các đặc điểm, tính chất giống
nhau, được làm từ các nguyên liệu, vật liệu cấu thành giống nhau và điều đó làm
cho hàng hóa thực hiện được các chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho
nhau trong giao dịch thương mại.
Khi xem xét xác định hàng hóa được coi là tương tự cần phải đảm bảo các
điều kiện sau:

- Tính chất vật lý của hàng hóa: được làm từ những vật liệu giống nhau, có
cùng phương pháp chế tạo, cùng kích cỡ, kiểu dáng.
- Cùng chức năng, mục đích sử dụng
- Chất lượng sản phẩm tương đương nhau
- Có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại, tức là người mua
chấp nhận thay thế hàng hóa này cho hàng hóa kia.
- Được sản xuất cùng một nước với hàng hóa đang được xác định trị giá hải
quan, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác được ủy quyền.


20

Điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự
cũng giống như phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt.
2.1.3.4.

Phương pháp khấu trừ
Trong trường hợp không thể xác định được trị giá hải quan cho hàng hóa
nhập khẩu theo phương pháp trị giá giao dịch đồng thời cũng không thể tìm thấy
mặt hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng hóa nhập khẩu tương tự trong danh mục
dữ liệu của cơ quan hải quan, thì trị giá hải quan được xác định theo phương
pháp thứ tư là phương pháp khấu trừ
Theo phương pháp này, trị giá hải quan của hàng nhập khẩu sẽ được xác
định dựa trên đơn giá của hàng nhập khẩu được người nhập khẩu bán lại tại
nước nhập khẩu. Đó là giá mà hàng nhập khẩu, hàng giống hệt hay hàng tương
tự được bán tại nước nhập khẩu với số lượng lớn nhất cho người mua không có
quan hệ đặc biệt vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng nhập khẩu đang
được xác định trị giá.
Phương pháp trị giá khấu trừ được áp dụng khi có các điều kiện sau:
Điều kiện thứ nhất, phải có hoạt động bán hàng nhập khẩu, hoặc hàng

hóa nhập khẩu giống hệt hay tương tự tại nước nhập khẩu (bán hàng tại thị
trường nội địa).
Điều kiện thứ hai, hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt
hay tương tự khi bán phải cùng điều kiện như khi chúng nhập khẩu.
Điều kiện thứ tư, hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt
hay tương tự phải được bán lại vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang
được xác định trị giá.
Khi lựa chọn phương pháp khấu trừ thì bước đầu tiên là phải xác định đơn
giá bán lại hàng hóa. Đơn giá bán lại hàng hóa là đơn giá hàng nhập khẩu được
bán nguyên trạng như khi nhập khẩu và là đơn giá mà tại đó số lượng hàng hóa
được bán ra là lớn nhất.


21

Sau khi đã thiết lập được đơn giá bán lại hàng hóa thì phải xác định được
các khoản được khấu trừ từ giá đó. Các khoản được khấu trừ bao gồm:
Thứ nhất, các khoản tiền hoa hồng thường trả hoặc thỏa thuận sẽ trả hay
các khoản lợi nhuận bổ sung và các chi phí chung liên quan đến các giao dịch
bán hàng tại nước nhập khẩu hàng hóa cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại.
Thứ hai, các chi phí thông thường về vận tải và bảo hiểm và cả chi phí cho
các hoạt động khác có liên quan đến việc vận tải hàng hóa sau khi nhập khẩu
Thứ ba, thuế hải quan và các khoản thuế, phí, lệ phí khác phải nộp tại nước
nhập khẩu khi nhập khẩu và khi bán hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa.
2.1.3.5.

Phương pháp tính toán
Phương pháp này là phương pháp thứ năm trong số các phương pháp xác
định giá hải quan. Phương pháp này chỉ được sử dụng khi các phương pháp từ
thứ nhất đến thứ tư không đem lại kết quả về trị giá hải quan.

Có thể nói phương pháp tính toán là sự thay đổi quan trọng về mặt phương
pháp bởi vì thay vì việc tìm kiếm trị giá giao dịch hay giá bán của hàng nhập
khẩu, người ta quay sang xác định trị giá tính thuế thông qua giá thành sản
phẩm và các chi phí về vận chuyển hàng hóa đến địa điểm nhập khẩu. Phương
pháp này có hình thức gần giống như việc tính toán giá thành sản phẩm trong
nghiệp vụ kế toán doanh nghiệp.
Xuất phát từ bản chất của việc tính toán giá trị hàng hóa, người ta định
nghĩa phương pháp trị giá tính toán của hàng nhập khẩu là phương pháp xác định
trị giá hải quan dựa trên giá thành để sản xuất ra loại hàng hóa đang cần tính thuế
cộng với một khoản lợi nhuận và các chi phí chung (ở mức tương đương với lợi
nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại
được sản xuất để xuất khẩu bởi cùng một nhà sản xuất ở nước xuất khẩu).
Trị giá tính toán bao gồm tổng các khoản sau:
- Giá thành hay giá trị của các loại nguyên vật liệu cấu thành vào sản phẩm.


22

- Giá thành của quá trình sản xuất hoặc của các quá trình gia công khác
được sử dụng vào sản xuất hàng nhập khẩu.
- Khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với hai khoản này
thường phát sinh trong giao dịch bán hàng cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại
với hàng hóa đang được xác định trị giá, những hàng hóa đó cùng được sản xuất
ở nước xuất khẩu tới nước nhập khẩu.
- Chi phí vận tải và phí bảo hiểm quốc tế của hàng hóa đó.
Phương pháp này hoàn toàn phụ thuộc vào sự đồng ý cung cấp thông tin
của nhà sản xuất và độ tin cậy của các thông tin đó đối với nước nhập khẩu. Nhà
sản xuất hoặc Chính phủ của người đó có thể cảm thấy các yêu cầu đó của nước
ngoài như là một yêu cầu không chính đáng nên không đáp ứng cung cấp thông
tin. Do đó, việc xác định trị giá hải quan theo phương pháp tính toán gặp rất

nhiều khó khăn cho nước nhập khẩu.
Việc áp dụng phương pháp trị giá tính toán phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Chỉ được áp dụng phương pháp trị giá tính toán để xác định trị giá hải
quan nếu không áp dụng được phương pháp trị giá khấu trừ. Hoặc nếu có đủ tài
liệu để tính toán trị giá hải quan theo phương pháp này trước khi áp dụng
phương pháp khấu trừ. Khi đó, người khai Hải quan phải có văn bản đề nghị cơ
quan Hải quan cho phép đảo ngược trình tự áp dụng hai phương pháp 4 và 5.
- Người nhập khẩu phải có đầy đủ các thông tin về các yếu tố cấu thành trị
giá tính toán. Các thông tin này phải được thể hiện một cách khách quan và định
lượng được.
2.1.3.6.

Phương pháp suy luận
Phương pháp suy luận hay còn gọi là phương pháp dự phòng được quy định
tại Điều 7 của ACV và được sử dụng khi trị giá hải quan hàng nhập khẩu không
thể xác định được khi áp dụng lần lượt các phương pháp từ phương pháp 1 đến
phương pháp 5 như trên.


23

Theo phương pháp này, trị giá hải quan sẽ được xác định bằng cách áp
dụng tuần tự và linh hoạt năm phương pháp xác định trị giá tính thuế ở trên. Ở
đây, việc vận dụng linh hoạt được hiểu là mở rộng một số điều kiện áp dụng
phương pháp phù hợp để xác định trị giá hải quan.
Khi áp dụng phương pháp suy luận phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Thứ nhất, không áp dụng các phương pháp bị cấm
- Thứ hai, phải sử dụng các biện pháp hợp lý, phải dựa trên số liệu thu thập
được ở nước nhập khẩu.
- Thứ ba, các phương pháp này phải nhất quán với các nguyên tắc chung

của ACV.
Tuy nhiên, Hải quan không được xác định trị giá tính thuế theo:
- Giá hàng hóa của nước xuất khẩu được xuất khẩu sang một nước khác;
- K hông được sử dụng giá cả mà hàng sản xuất nội địa được bán ở nước
nhập khẩu để xác định trị giá hàng hóa nhập khẩu;
- Sử dụng trị giá hải quan tối thiểu;
- Sử dụng các trị giá áp đặt và hư cấu.
Dưới đây là sự tổng hợp lại trình tự các phương pháp xác định trị giá
tính thuế như sau:
1. Phương pháp trị giá giao dịch

2. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập
khẩu giống hệt
3. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá
nhập khẩu tương tự
4. Phương pháp khấu trừ
5. Phương pháp tính toán

6. Phương pháp suy luận

Sơ đồ2.1. Các phương pháp xác định trị giá tính thuế


24

Một điều lưu ý của ACV là chỉ được áp dụng phương pháp sau khi thấy
không thể áp dụng phương pháp trước đó.Trừ trường hợp người nhập khẩu có
thể đảo ngược thứ tự của phương pháp 4 và phương pháp 5.
2.2


. Quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
2.2.1 Khái niệm quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu
Quản lý giá tính thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành quản lý hành
chính nhà nước. Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính Nhà
nước và con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của
Chính phủ. Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành
chính là quá trình thực thi quyền hành pháp của Nhà nước.
Từ những cách hiểu như trên thì quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu được
hiểu là một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau do cơ quan
Hải quan thực hiện trên cơ sở quy định của Luật Hải quan đối với tổ chức, cá
nhân có liên quan nhằm đảm bảo thu đúng, đủ và công bằng thuế đối với hàng
hóa XNK, bao gồm các hoạt động kiểm tra trị giá khai báo cho hàng hóa nhập
khẩu, tham vấn, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của do cơ
quan Hải quan thực hiện trong quá trình làm thủ tục Hải quan và sau khi hàng
hóa đã thông quan.
Đối tượng của công tác quản lý trị giá tính thuế là hồ sơ hải quan hoặc hồ
sơ hải quan điện tử, các tài liệu liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế của
hàng hóa thuộc diện kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa trên cơ sở áp
dụng quản lý rủi ro về trị giá. Việc kiểm tra trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
được thực hiện trên cơ sở kiểm tra các mặt hàng thuộc Danh mục quản lý rủi ro
hàng nhập khẩu về giá do Tổng cục Hải quan ban hành.
2.2.2 Vai trò của quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu:
Thứ nhất, quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu nhằm tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước
Một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra với quản lý trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu là thu đúng, thu đủ số thuế của hàng hóa nhập khẩu nhằm đảm


25


bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhất là trong điều kiện hiện nay nguồn
thu từ thuế nhập khẩu có vai trò to lớn đối với ngân sách nhà nước.
Những năm gần đây việc phải cắt giảm thuế suất của một số mặt hàng theo
yêu cầu của các cam kết quốc tế làm giảm tỷ trọng của nguồn thu thuế nhập khẩu
với tổng thu của ngân sách nhà nước nhưng với việc hoạt động xuất nhập khẩu
ngày càng tăng, cùng với việc tăng cường năng lực của công tác quản lý trị giá
tính thuế hàng nhập khẩu của cơ quan Hải quan vẫn sẽ đảm bảo một nguồn thu
lớn cho ngân sách nhà nước.
Thứ hai, quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu nhằm phát hiện và xử lý
kịp thời các hành vi gian lận về trị giá tính thuế, chống gian lận thương mại góp
phần tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa.
Cùng với chủ trương mở cửa nền kinh tế, số lượng hàng hóa nhập khẩu
trong thời gian qua đã tăng lên một cách đáng kể. Đi đôi với hoạt động nhập
khẩu là hiện tượng gian lận qua giá tính thuế trong việc kê khai nộp thuế cũng
tăng lên theo, bởi lẽ số thuế xuất nhập khẩu phải nộp cho hàng hóa nhập khẩu
được xác định căn cứ vào trị giá tính thuế, số lượng hàng hóa và thuế suất thuế
nhập khẩu. Trong khi yếu tố thuế suất cố định theo biểu thuế nhập khẩu của Nhà
nước quy định, yếu tố số lượng hàng hóa nhập khẩu cũng rất khó gian lận vì phải
qua kiểm tra thực tế hàng hóa, thì yếu tố trị giá tính thuế hiện nay vẫn đang tồn
tại nhiều bất cập và thường được doanh nghiệp lợi dụng khai báo thấp trị giá lô
hàng để đạt được mục đích gian lận trong việc khai báo trị giá tính thuế. Do vậy
quản lý tốt trị giá tính thuế sẽ giúp cho ngành Hải quan nói riêng, nhà nước nói
chung nắm được chính xác kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa một cách sát
sao, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực xảy ra.
Thứ ba, quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu góp phần kiểm soát giá hàng
nhập khẩu và hàng hóa lưu thông trên thị trường.
Kiểm soát hàng nhập khẩu là một trong các mục tiêu quan trọng của mỗi
quốc gia nhất là trong bối cảnh xu thế tự do hoá thương mại được thực hiện trên
phạm vitoàn thế giới. Thông qua việc kiểm tra trị giá tính thuế hàng nhập khẩu,



×