Tải bản đầy đủ (.pdf) (183 trang)

Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 183 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÝ THỊ THU

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2016


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÝ THỊ THU

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ : 62 22 03 15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÀ

2. PGS.TS NGUYỄN DANH TIÊN

HÀ NỘI - 2016




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lý Thị Thu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.2. Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án đã được giải quyết và những nội
dung luận án cần tập trung nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
TUYÊN QUANG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN
TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
2.1. Những yếu tố tác động đến xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở
Tuyên Quang
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số
2.3. Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2000
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC

THIỂU SỐ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
3.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời
kỳ mới
3.2. Chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010
3.3. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét
4.2. Một số kinh nghiệm
KẾT LUẬN
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1
7
7
24

26
26
50
62

70
71
76

80
109
109
131
147
151
152
164


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATK

:

An toàn khu

BCHTW

:

Ban Chấp hành Trung ương

BTV

:

Ban Thường vụ


CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

UBKT

:

Ủy ban kiểm tra

UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số là một nội dung trọng yếu trong
chính sách dân tộc của Đảng, không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền
tham chính của đồng bào các dân tộc, mà còn tạo ra yếu tố nội lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc phát triển. Nếu như cán bộ “là gốc của
mọi công việc”, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cũng có thể hiểu
rằng, cán bộ người dân tộc thiểu số và công tác cán bộ người dân tộc thiểu số
có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm thực hiện thành công đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc
thiểu số. Nhờ vậy, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
đã có đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực, không chỉ tại địa bàn miền núi
mà cả ở các địa phương đồng bằng và cả cấp Trung ương. Đây là một minh
chứng sự đúng đắn, khoa học trong đường lối lãnh đạo của Đảng; minh chứng
cho tinh thần “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ", như lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Báo
cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1 nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 18/12/1959).
Hiện nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, trong quá trình tiến hành sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế, bất cập: Số lượng cán bộ
người dân tộc còn ít so với tỷ lệ dân số. Trình độ của đội ngũ cán bộ người
dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung, nhất là so với mặt bằng trình độ của



2
đội ngũ cán bộ người Kinh. Năng lực, trình độ còn hạn chế so với yêu cầu,
nhiệm vụ. Mặt khác, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cân đối cả về
cơ cấu giới tính, cơ cấu giữa các dân tộc và cơ cấu theo lĩnh vực công tác. Có
nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ công
tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng ở tầm
vĩ mô và ở việc tổ chức thực hiện của các địa phương.
Nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu
số của một Đảng bộ địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
sẽ góp phần làm sáng tỏ về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số của Đảng, sự thể hiện sinh động và cụ thể chủ trương, đường lối của
Đảng về công tác cán bộ trong điều kiện thực tế của địa phương. Qua đó
nhận diện những sáng tạo và những khó khăn, hạn chế của Đảng bộ địa
phương trong thực hiện công tác quan trọng này.
Tỉnh Tuyên Quang nằm trong chiến khu Việt Bắc, là cái nôi của cách
mạng cả nước từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang sớm hình thành, được tôi luyện qua nhiều thử
thách, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc
cũng như ở địa phương. Tỉnh Tuyên Quang là nơi hội tụ của 22 dân tộc anh
em sinh sống đan xen, cùng tồn tại và phát triển. Trong những năm tiến hành
sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều dự án đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội ở vùng miền núi, trong đó có tỉnh Tuyên Quang. Nhờ vậy,
kinh tế - xã hội của tỉnh có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tốc độ
tăng trưởng GDP của tỉnh Tuyên Quang còn thấp, chưa tương xứng với mức
độ đầu tư và so với yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Những hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân
chủ quan là đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ và năng

lực. Việc sử dụng cán bộ cho từng vùng, từng lĩnh vực và theo từng dân tộc
còn chưa hợp lý.


3
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung,
xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang đã có những chủ trương và thực hiện nhiều giải pháp để tăng
cường xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
như: tăng cường công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền
của tỉnh, huyện, xã; tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo - bồi dưỡng cán bộ;
luân chuyển cán bộ trong hệ thống chính trị; thực hiện chính sách cử tuyển
cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đại học, Cao đẳng, Trung
học chuyên nghiệp và thu hút, “giữ chân” đội ngũ cán bộ tại địa phương …
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế cả về số lượng và
chất lượng, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn
đang tồn tại không ít mâu thuẫn, đó là: mâu thuẫn giữa tăng cường số
lượng và đảm bảo chất lượng, giữa nhu cầu đòi hỏi cao và khả năng đầu tư
có giới hạn, giữa sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút cán bộ từ nơi
khác đến, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu cầu và khả năng luân chuyển
đội ngũ cán bộ tại địa phương…
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010" có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm

2010. Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số những năm (1991 - 2010).


4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991
đến năm 2010.
Làm rõ những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong 20 năm, từ
năm 1991 đến năm 2010.
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những kết quả đạt được; Đúc kết
một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1991, là năm tỉnh Tuyên Quang được tái
lập, đến năm 2010, là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIV Đảng bộ Tỉnh,
Đảng bộ bắt đầu tổ chức thực hiện đường lối Đại hội XI của Đảng.
Về không gian: Nghiên cứu công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh, bao gồm 1 thị xã và 6 huyện.
Luận án nghiên cứu toàn bộ đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ
thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở, trong đó chú trọng nghiên
cứu đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp là người dân tộc thiểu số.
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều nội dung. Bám sát các
khâu công việc của công tác cán bộ nói chung, luận án tập trung nghiên cứu

công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng, chế độ,
chính sách cán bộ.


5
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công
tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học có liên quan đã được công bố.
4.2. Cơ sở thực tiễn
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ
nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở Tuyên
Quang nói riêng, được phản ánh trong các văn kiện của Đảng bộ tỉnh, các báo
cáo, số liệu thống kê của cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan
chức năng có liên quan; kết quả điều tra, khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgic. Bên cạnh đó, là các phương pháp:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích, được sử dụng để thu thập và
đánh giá các nguồn tài liệu liên quan, bao gồm các văn kiện của Đảng và
Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình khoa học trong và
ngoài nước nghiên cứu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng.
+ Phương pháp so sánh: So sánh một số kết quả đạt được trong công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang với các
tỉnh miền núi phía Bắc.
+ Phương pháp thống kê, được dùng trong xử lý các kết quả điều tra,

khảo sát.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu, nhất là tư liệu của địa phương về công
tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên
Quang, về thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang;


6
- Góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ
trương của Đảng về công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng;
- Góp phần tổng kết, đánh giá về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, cung cấp thêm cơ sở thực
tiễn giúp Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang hoàn thiện hơn nữa công tác lãnh đạo
của mình trong công tác quan trọng này;
- Những kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là những kinh nghiệm từ
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Tuyên Quang,
có thể tham khảo vận dụng ở các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số khác, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp các
cấp ủy Đảng các cấp ở tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu, tiếp tục xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên
cứu, học tập của bộ môn Lịch sử Đảng ở trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang,
Trường Đại học Tân Trào Tuyên Quang cũng như các cơ sở đào tạo khác.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học liên
quan đến đề tài của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận án gồm 4 chương, 10 tiết.



7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Nghiên cứu về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc nói chung, công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên
cứu được công bố dưới góc độ của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, xây dựng
Đảng, chính trị học, dân tộc học, xã hội học... Liên quan trực tiếp đến đề tài
có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Nghiên cứu về chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước
Cuốn sách, Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở
miền núi [48]. Tác giả đã đánh giá về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách
dân tộc ở nước ta. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những
vấn đề cấp bách ở vùng dân tộc và miền núi, tác giả đã đưa ra những nhận
thức và quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới.
Cuốn sách, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc
[105] đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình thực hiện chính
sách dân tộc ở Tây Bắc những năm đầu đổi mới.
Cuốn sách: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và nhà
nước ta [54] đã đề cập đến những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc. Các tác giả đã nêu những đặc điểm nổi bật của dân tộc
Việt Nam và nội dung công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng.
Cuốn sách, Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính
sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] đã nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc của Đảng và những định


8
hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế
hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông thôn và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm sớm ổn
định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc.
Bài viết, "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" [97],
trong cuốn sách 60 năm cơ quan công tác dân tộc, đã đánh giá về đội ngũ cán
bộ dân tộc trong những năm qua. Bài viết khẳng định: Đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm
đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng. Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản lý nhà nước
ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở
tất cả các cấp được nâng lên. Tác giả chỉ rõ "tỉ lệ đại biểu quốc hội là người
dân tộc thiểu số qua các khóa ngày một tăng từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa
XI. Ủy viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9%
khóa X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ
quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp" [97, tr.24]. Bên cạnh những kết
quả đạt được, bài viết còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là
"Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số
còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương [97, tr.28]. Từ phân tích trên, tác giả chỉ
ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006).
Trong đó, bài học đáng chú ý là "Kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống
chính trị chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc
thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số" [97, tr.30].
Cuốn sách, Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX
[12], là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học đã tham gia


9
thảo luận, trao đổi, làm rõ kết quả, hạn chế yếu kém, đề xuất các giải pháp
góp phần đổi mới thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX về công tác dân tộc của Đảng.
Cuốn sách, Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện
nay [104] đã nêu rõ những nội dung cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc
của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đặt ra trong
việc thực hiện chính sách dân tộc và đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện chính sách dân tộc hiện nay.
Cuốn sách, Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc
thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn
hiện nay: Thực trạng và giải pháp [112] đã nghiên cứu, khảo sát nhằm mang
lại những thông tin khách quan, trung thực về tình trạng này. Trên cơ sở đánh
giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số
đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay,
công trình nghiên cứu đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm góp
phần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo thực hiện có
hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò to lớn
của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Nghiên cứu cho thấy, sự đồng tình của người dân với chính
sách được triển khai ở địa phương về "ưu tiên đào tạo cán bộ địa phương là
người dân tộc" là 72,2%, "ưu tiên đào tạo thầy giáo, cô giáo, cán bộ y tế là
người dân tộc" là 70,2%" [112 tr.102].
Cuốn sách: Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí
Minh [69], đã đề cập đến vấn đề: Trong nghiên cứu lý luận cách mạng, vấn đề
dân tộc còn rất phong phú, còn phải bàn thêm. Nói riêng từng nước thì vấn đề

dân tộc nổi lên là vấn đề số phận của từng tộc người trong cộng đồng dân tộc,
của mỗi quốc gia. Tác giả khẳng định: Hồ Chí Minh thấy được phẩm chất,
trình độ của các tộc người của đất nước ta, bởi Người thực sự gắn bó với bà


10
con người dân tộc thiểu số. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, các dân tộc thiểu số
được bình đẳng cùng nhau, tất cả đều như anh chị em một nhà, không có sự
phân biệt nòi giống, tiếng nói.
Công trình: Báo cáo tổng hợp về nghiên cứu chính sách phát triển vùng
miền núi và dân tộc thiểu số [60] và Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống
chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
[25] đã đánh giá nguồn nhân lực không nghiên cứu riêng biệt, mà được đặt
trong mối quan hệ tương hỗ với sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Đặc biệt là những nghiên cứu về giáo dục y tế, xóa đói giảm nghèo,
lao động việc làm thường được đặt trong các mối liên hệ trực tiếp với phát
triển thể lực, trí lực của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số.
Bài viết: "Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng sau 25 năm đổi mới"
[52], đã khái quát toàn bộ chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc đã và đang
được thực hiện trong 25 năm đổi mới được thể hiện trong những chuyển biến
tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết
những vấn đề xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết tiếp
tục khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết
dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Sự quan tâm về vấn đề dân tộc, về chính sách dân tộc không chỉ ở phần
nhận thức, phần lý luận, mà nó phải được thể hiện bằng đường lối, bằng tổ
chức. Đúng như tinh thần Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Người" chịu trách
nhiệm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu
số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước
Việt Nam".

Bài viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt
Nam" [53] theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số là một
bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đoàn
kết dân tộc đặng "đi từ thái bình để cùng hưởng chung". Hồ Chí Minh cũng


11
cho rằng, đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không phải là một thủ đoạn
chính trị, mị dân, do đó, phải thực lòng thực hành đoàn kết để đi từ mục tiêu
chung là "hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh". Người coi
đồng bào các dân tộc thiểu số là một lực lượng quan trọng của cách mạng
Việt Nam. Với những nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,
tác giả bài viết khẳng định: Trong tiến trình cách mạng nước ta, cần giải quyết
đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó
là: Phải luôn coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách
rời của dân tộc Việt Nam, khai thông sức sáng tạo và tiềm năng của đồng bào
các dân tộc. Bằng các chủ trương chính sách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước.
Luận án tiến sĩ: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 [63] đã trình
bày một cách có hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc những năm đầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2006), từ đó thấy được
sự phát triển trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng; quá trình Đảng lãnh
đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc; làm rõ thành tựu và
hạn chế trong nhận thức cũng như trong quá trình thực hiện chính sách dân
tộc, từ đó đúc rút ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc 1996 - 2006 ở Tây Bắc khi nghiên cứu về quan
điểm và nội dung chính sách dân tộc của Đảng. Tác giả khẳng định:
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương gắn đoàn kết dân tộc với việc

hoạch định chính sách dân tộc, đảm bảo miền núi tiến kịp miền
xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy
đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa. Người chỉ ra
rằng, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch dài hạn, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ở miền núi, đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ


12
đồng bào miền ngược. Đồng bào các dân tộc ít người cũng phải
không ngừng vươn lên để xây dựng tổ chức chung, xây dựng chủ
nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc hạnh phúc, ấm no. Những
quan điểm trên đây của Người có giá trị và ý nghĩa như một tuyên
ngôn chỉ đạo công tác dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc
ở Việt Nam hiện nay [63, tr.29].
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số nói chung
Cuốn sách: Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam
(từ thế kỷ XI - XIX) [130] cho thấy, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam
đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp tích cực đối với miền núi, với các dân
tộc thiểu số. Từ thời Lý (thế kỷ XI), chính sách "Nhu viễn" (mềm dẻo với
phương xa) đã được thực hiện, sau này vẫn là quốc sách hàng đầu, phổ biến
và lâu dài của các triều đại phong kiến tiếp theo. "Nhu viễn" xây dựng mối
quan hệ đặc biệt giữa nhà nước Trung ương (phong kiến tập quyền) với cộng
đồng các tù trưởng (người có uy tín, thế lực, đang điều hành, quản lý các tộc
người bằng tự trị theo luật tục" thông qua việc ban phẩm tước cho tù trưởng;
phân phong một số Hoàng Thân, quan lại lên tuần giữ vùng biên, đặc biệt là
câu thức, lôi kéo quan hệ thân tộc (qua hôn nhân) giữa các tù trưởng với công
chúa, cung phi của triều đình. Song song với chính sách "Nhu viễn", các triều
đại phong kiến còn kiên quyết dùng chính sách "cường bạo lực" lúc cần thiết
để trừng trị những kẻ gây mất đoàn kết các dân tộc, chống lại triều đình và cắt

đất cho ngoại bang. Chính sách "Nhu" "Cương" hợp lý có ý nghĩa tích cực
trong củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ, xâm lấn và giữ
gìn an ninh biên giới. Đó là kinh nghiệm lịch sử để trong quá trình xây dựng
hệ thống chính trị vùng biên, miền núi, dân tộc thiểu số chúng ta phải chú ý
đến vai trò của công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số. Việc xây dựng


13
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải trên tinh thần (không kỳ thị dân tộc), phải
tăng cường sức mạnh cho đội ngũ này bằng việc điều động, luân chuyển cán
bộ nơi khác về cơ sở; đồng thời cũng phải cương quyết sàng lọc nguồn trong
quá trình xây dựng đội ngũ trên cơ sở tiêu chuẩn cán bộ, công chức do pháp
luật quy định.
Cuốn sách: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp [111]
là tập hợp kết quả nghiên cứu của 34 nhà khoa học, tập trung vào những vấn
đề: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
chính sách của Đảng và nhà nước ta, cùng một số các yếu tố tác động về tâm
lý, văn hóa tộc người liên quan đến vấn đề dân tộc, cán bộ dân tộc thiểu số,
công tác cán bộ thiểu số; thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số nói chung trên một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Nhiều giải
pháp đổi mới, công tác cán bộ dân tộc thiểu số được đề xuất có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn quan trọng.
Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt
Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
[108] đã cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn cho nhận thức đầy đủ và toàn
diện vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số không chỉ cần
nhiều nguồn lực đầu tư, mà phải tiến hành theo một quy trình, phương pháp,
cách thức khoa học. Cuốn sách còn đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện
cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Tác giả

khẳng định: Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu
phát triển bền vững liên, xuyên thế hệ thành công hay không không thể thiếu
sự đóng góp to lớn của nguồn nhân lực thiểu số, vì phát triển nguồn nhân lực
dân tộc thiểu số cũng chính là phát triển nguồn nhân lực quốc gia - là lực
lượng tiên phong và cũng là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển đất
nước một cách toàn diện và bền vững.


14
Cuốn sách: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta hiện nay [117], đã chỉ ra rằng, nếu không xây dựng
được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, có đủ phẩm chất và
năng lực đảm đương nhiệm vụ cách mạng thì mọi chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta không thể đi vào cuộc sống, không thể phát huy
được nội lực của đồng bào các dân tộc, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để có được một đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số vững mạnh, trước tiên "phải giải quyết tốt vấn đề phát triển
nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, vì đây là khâu quan trọng nhất, đồng thời
cũng là vấn đề khó khăn và yếu kém nhất trong công tác cán bộ dân tộc
thiểu số hiện nay" [117, tr.9]. Chỉ trên cơ sở phát triển mạnh nguồn cán bộ
dân tộc thiểu số, chúng ta mới có được thế hệ cán bộ dự bị, kế cận đông
đảo, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, để bổ sung vào các chức danh
lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp và bổ sung cho đội ngũ cán
bộ công chức là người dân tộc thiểu số ở các địa phương. Trên cơ sở đó,
từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số các
cấp, các ngành; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng liên tục thường xuyên, chủ
động, có kế hoạch; kết hợp với cơ chế, chính sách sử dụng, quản lý đội ngũ
cán bộ dân tộc mang tính đồng bộ, hệ thống từ trung ương đến cơ sở. Tác
giả khẳng định: "Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được căn bản các
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ mạnh, ngang tầm với

nhiệm vụ cách mạng đặt ra và phát triển vững chắc trong thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" [117, tr.10].
Cuốn sách: Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh
ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [98] đã phân tích
các đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
về thực trạng công tác, quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy
quản lý đặc biệt là nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn,


15
nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Tác giả còn
đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ
thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc đến
năm 2020:
Cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm,
phương châm, nguyên tắc của Đảng trong công tác quy hoạch cán
bộ, tập trung, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, chính
quyền, đoàn thể trong tỉnh, xác định rõ phương hướng, mục tiêu
của công tác quy hoạch cán bộ và tổ chức thực hiện đồng bộ các
nhóm giải pháp... Xác định rõ nguồn, tạo nguồn cán bộ dồi dào,
nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ đưa vào quy
hoạch [98, tr.227].
Cuốn sách: Phát huy vai trò của đội ngũ tri thức các dân tộc thiểu số
nước ta trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay [20] và Nguồn nhân lực trẻ
các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học [66] đã cho thấy vai trò của
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, thực trạng công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bài viết: "Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào
tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới" [131]
trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX khẳng định: Sự quan

tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội
ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đánh giá thực trạng tình hình đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số ở nước ta, tác giả khẳng định rằng "Từ khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở nước
ta đã trưởng thành và không ngừng phát triển, đội ngũ cán bộ lãnh đạo là
người dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành, khá rõ nét" [131, tr.115].
Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một số những hạn chế bất cập của đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số. Đó là trình độ chuyên môn của người dân tộc thiểu


16
số còn thấp. Tác giả nhấn mạnh "Tình trạng cán bộ là người dân tộc thiểu
số hiện nay vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực, đặc biệt là trình độ
năng lực học vấn" [131, tr.118]. Trên cơ sở đánh giá thành tựu và hạn chế
của việc đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng
mới, tác giả đã đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiểu số trong thời gian tới": "Có quy hoạch, kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc từ cơ sở cho đến trung ương, theo
nhu cầu của từng loại cán bộ trong từng thời kỳ, bảo đảm mục tiêu chiến
lược chung của cả nước" [131, tr.120]. Bởi vì xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số không chỉ vì lợi ích của các dân tộc
thiểu số mà còn nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng chung của cả nước vì
chiến lược con người.
Bài viết: "Sự phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số" [51]
trong cuốn sách Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, đã khẳng định: Công
tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Mười năm về trước, nhiều cán bộ thôn xã còn ở tình trạng mù chữ.
Cho đến nay, cán bộ thôn xã thấp nhất cũng có trình độ tiểu học và có người có
trình độ trung học.
Nhiều cán bộ, người dân tộc thiểu số đã có học vị cao. Tác giả chỉ rõ

"ngành giáo dục và đào tạo đã góp phần đáng kể trong việc bồi dưỡng cán bộ
dân tộc thiểu số ở các trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, các trường
bổ túc văn hóa tập trung ở các địa phương và Trung ương [51, tr.250]. Vì vậy:
"Thành tựu nổi bật của giáo dục ở vùng dân tộc là xác lập được quy trình xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số" [51, tr.249]. Bài viết còn đưa ra một số
giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc trong thời gian tới, đáng chú ý là
chế độ ưu tiên cộng điểm tuyển sinh và mở các lớp đào tạo riêng dành cho học
sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số nhất là ở vùng cao, tại các trường đại
học, cao đẳng trong cả nước.


17
Bài viết: Một cách mới trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở Hà
Giang [34]. Trên cơ sở phân tích kết quả đạt được trong công tác đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh, tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm
"Phải xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ đảm bảo chất lượng, trên cơ sở đó,
xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với bố trí, sử dụng sau đào tạo... Coi
đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển
địa phương" [34, tr.46].
Bài viết: Sóc Trăng quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc
thiểu số Khmer [119]. Trên cơ sở đánh giá về công tác quy hoạch, đào tạo, sử
dụng cán bộ, người dân tộc thiểu số ở tỉnh; phân tích vai trò của đội ngũ cán
bộ người dân tộc Khmer trong việc triển khai, thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, tác giả đề xuất một số
giải pháp quan trọng "Quan tâm đến chính sách cử tuyển và quản lý chặt chẽ,
bố trí, sử dụng đúng địa chỉ được xét tuyển đối với học sinh, sinh viên tốt
nghiệp ra trường, có chính sách chọn cán bộ dự nguồn là người dân tộc
Khmer để đào tạo, bồi dưỡng" [119, tr.24].
Luận án Tiến sĩ: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
của Đảng bộ Bộ đội biên phòng từ năm 1996 đến năm 2006 [118] đã làm

sáng tỏ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Đảng về xây dựng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
phải dựa trên nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, đồng
thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính
trị. Phải xuất phát từ đường lối chính trị - quân sự của Đảng, bảo đảm
nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
giữa các dân tộc và phải đảm bảo sự thống nhất giữa cơ cấu và tiêu chuẩn
cán bộ; phải có những ưu điểm trong đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng
cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ. Tác giả còn


18
khẳng định, để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội biên
phòng cần phải "bám sát yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới,
xây dựng Bộ đội biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại" [118, tr.91] và "xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong
Đảng bộ Bộ đội biên phòng phải đặt trong tổng thể chiến lược cán bộ của
Đảng, nhà nước, quân đội, Bộ đội biên phòng, tạo được mỗi liên thông với
việc xây dựng đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị, hòa nhập với xu
thế phát triển của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước" [118, tr.91].
Luận án Tiến sĩ: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc
thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay [138] tiếp tục hoàn thiện
khung lý luận về tạo nguồn cán bộ; khái quát những đặc điểm tình hình cán
bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; đề xuất phương hướng và những giải
pháp có tính đặc thù, khả thi để thúc đẩy công tác tạo nguồn cán bộ xã
người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay.
Luận án Tiến sĩ: Đảng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng ngũ

công chức từ năm 2001 đến năm 2010 [65] đã nghiên cứu về quan điểm,
chủ trương của Đảng về đào tạo đội ngũ cán bộ công chức "Xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước phải thông qua hiệu quả
công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân để lựa chọn, đánh giá, đào
tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ" [65, tr.83]. Khi nghiên cứu về chủ
trương xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam từ 1986 đến nay, tác giả đã
đưa ra một loạt các văn bản pháp lý hiện hành nhằm xây dựng đội ngũ cán
bộ công chức và qua quá trình hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ công
chức trước năm 2001, tác giả đã đưa ra những nội dung nhằm nâng cao
trình độ đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị, xây


19
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. "Những đổi mới đó đã làm
sáng rõ hơn mô hình hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ, khẳng
định rõ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nền kinh tế
thị trường - định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và
hội nhập kinh tế quốc tế" [65, tr.71].
Đề tài khoa học cấp bộ: Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số tỉnh miền núi phía Bắc [122] đã phân
tích, làm rõ vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp huyện là người dân tộc
thiểu số nói riêng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc; đánh giá thực
trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu
số ở nước ta hiện nay. Tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ
yếu xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện là người dân tộc thiểu số trong thời
kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng núi, vùng dân
tộc thiểu số.
Đề tài khoa học cấp bộ: Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay [71]

đã trình bày hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước
ta. Nghiên cứu góp phần đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số và việc thực hiện chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở vùng miền núi
hiện nay. Nghiên cứu đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp có tính khả
thi về chính sách cán bộ dân tộc, góp phần xây dựng Luật Dân tộc.
Đề tài khoa học cấp bộ: Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở
các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay [58] đã đưa ra các khái niệm và cách tiếp
cận vấn đề tạo nguồn chủ chốt, phân tích đánh giá thực trạng công tác tạo
nguồn của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc


20
nước ta những năm đổi mới. Đề tài cũng tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn trong
việc tạo nguồn cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây
Bắc qua việc nghiên cứu hoạt động này ở một số trường chính trị trong khu
vực, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác, tạo nguồn cán bộ hệ thống
chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.
Ngoài ra, còn có các công trình, Về công tác phát triển đảng viên tạo
nguồn cán bộ ở vùng dân tộc miền núi [72] và Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa [120].
Các công trình trên đây đã cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn
cho tác giả nhận thức đầy đủ và toàn diện về vấn đề xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số. Các công trình trên đã đưa ra các giải pháp nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung, đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số ở các địa phương nói riêng. Một trong những tiêu chí để xây dựng
đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được các tác giả đồng quan điểm
trong các công trình, bài viết là cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số vững mạnh, có đủ năng lực phẩm chất đảm đương nhiệm vụ cách

mạng thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới đi vào
cuộc sống; mới phát huy được nội lực của các dân tộc, đáp ứng được yêu
cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Các công trình
nghiên cứu còn đưa ra những nội dung quan trọng. Đó là, muốn xây dựng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ về số lượng, đạt chất lượng, cần phải
chú ý đến các khâu trong công tác này như công tác tạo nguồn, phát triển
nguồn, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Các công trình cũng đưa ra những
khó khăn, thuận lợi trong quá trình xây dựng và những phương hướng, giải
pháp nhằm thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.


×