Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (276.72 KB, 53 trang )

1

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------

NINH THỊ NHUNG

CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ
HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội – 2015


2

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------

NINH THỊ NHUNG
Lớp: 3621

CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ
HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2014
Chuyên ngành: Luật Hôn nhân và gia đình


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS: NGUYỄN HỒNG HẢI

Hà Nội – 2015


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp là
trung thực, đảm bảo độ tin cậy.

Xác nhận của

Tác giả khóa luận tốt nghiệp

giảng viên hướng dẫn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


4

BLDS

Bộ luật Dân sự

HN&GĐ


Hôn nhân và gia đình

HĐTP

Hội đồng Thẩm phán

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và
gia đình

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa

i


Lời cam đoan

ii


5

Danh mục kí hiệu và các chữ viết tắt

iii

Mục lục

iv

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ
ĐỘ TÀI SẢN VÀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN.
1.1

. Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Đặc điểm

1.2


. Khái niệm, đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
1.2.1 Khái niệm
1.2.2 Đặc điểm

1.3. Sự cần thiết của việc quy định chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân.
1.4. Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân qua các thời kì theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.4.1. Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân trước khi có Luật hôn nhân gia đình 2014.
1.4.2 Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân khi có Luật hôn nhân và gia đình 2014 đến nay.
Chương 2: CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH 2014
2.1. Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân.
2.1.1 . Vợ, chồng có yêu cầu về việc chia tài sản chung.
2.1.2. Việc chia tài sản chung phải có lý do chính đáng


6

2.2. Các nguyên tắc về phân chia tài sản chung và thanh toán
nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân.
2.3 Hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân
2.4. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân.

2.3.1. Hậu quả pháp lý về nhân thân.
2.3.2. Hậu quả pháp lý về tài sản.
2.4. Khôi phục lại chế độ tài sản của vợ chồng sau khi chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA
TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN
NHÂN ĐI VÀO CUỘC SỐNG.
3.1. Kinh nghiệm từ thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000.
3.2. Giải pháp về nhận thức pháp luật.
3.3 Giải pháp về xây dựng pháp luật
3.4 Giải pháp về áp dụng pháp luật
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Gia đình là một bộ phận cấu thành nên xã hội. Trong xã hội hiện nay, gia
đình có vai trò lớn trong việc phát triển con người, gia đình bền vững sẽ góp
phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để xây dựng
được một gia đình ấm no, hạnh phúc thì bên cạnh yếu tố quyêt định từ các chủ
thể thì việc tạo hành lang pháp lý bảo đảm giải quyết hài hòa các lợi ích, mâu
thuẫn phát sinh từ quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ gia đình, trong đó có vấn đề
tái ản chung của vợ chồng và sự phân chia tài sản này trong bối cảnh hôn nhân
chưa chấm dứt. Nhận thức rõ được những mối quan hệ nêu trên và như cầu điều

chỉnh hợp lý các quan hệ hôn nhân và gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến vấn đề này. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, Nhà nước điều chỉnh chế
định tài sản của vợ chồng trong đó có việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân cho phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội, nhằm tạo
môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và
hạnh phúc.


8

Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, chế định tài sản của vợ chồng
nói chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng được pháp luật
HN&GĐ của Nhà nước ta quy định với những cách tiếp cận khác nhau. Kế thừa
và phát triển các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân của Luật HN&GĐ năm 1986, 2000, luật HN&GĐ năm 2014 có nhiều điểm
mới, phù hợp với tình hình phát triển chung hiện nay. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý
cho vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng, làm ổn
định các quan hệ xã hội. Để góp phần làm rõ hơn quy định của Luật HN&GĐ
mới về vấn đề này và cũng để nêu ra một số khó khăn, vướng mắc cần có quy
định, hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm thống nhất trong nhận thức, xây dựng và
áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đề
tài mà Luận văn đề cập đến là: “ Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã

có nhiều bài viết về tài sản chung của vợ chồng trên Tạp chi Luật học, Tạp chí
TAND, Tạp chí pháp luật…đề cập đến những khía cạnh khác nhau về tài sản của

vợ chồng như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình năm
2000” (Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000. T.3 ); “Hậu quả pháp lý
của việc chia tái sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân ” (Nguyễn Phương Lan,
Tạp chí Luật hoc số 6/2000)…Ngoài rã cũng đã có những khóa luận tốt nghiệp,
luận văn Thạc sĩ viết về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân này. Đây thực sự là những công trình có giá trị cả về khoa học lẫn thực
tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu đi vào phân tích những khía cạnh về
chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ hiện hành chứ chưa đi sâu
nghiên cứu vào vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Chính vì vậy, vấn đề “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”


9

mặc dù đã được nghiên cứu, trình bày trong Giáo trình Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội và trong các giáo trình tại các
cơ sở đào tạo luật ở nước ta, nhưng việc trình bày đó chỉ mang tính nguyên tắc
mà chưa đi sau vào giải quyết toàn diện vấn đề này. Hơn nữa, Luật HN&GĐ
2014 ra đời với nhiều điểm mới, cụ thể và chi tiết hơn đòi hỏi cần được nghiên
cứu có hệ thống và đào sâu những điểm mới mà các nhà lập pháp đã đưa vào.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS
năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kì hôn nhân, từ đó phân tích làm rõ các quy định của pháp
luật về vấn đề này. Trong quá trình phân tích, tác giả cũng đưa ra một số ví dụ
điển hình trong thực tế mà Tòa án đã tiến hành xét xử để từ đó thấy được những
vướng mắc, khó khăn mà Tòa án gặp phải trong quá trình áp dụng các quy định
của pháp luật HN&GĐ về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân. Trên cơ sở phân tích làm nổi bật những vấn đề hạn chế, vướng mắc về chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mà Luật HN&GĐ 2000 chưa

giải quyết được, tác giả đưa ra một số kiến nghị để quy định của Luật HN&GĐ
2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đi vào cuộc
sống.
Với mục đích trên, Luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ:
Từ các quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn làm sáng tỏ các điều
kiện, nguyên tắc, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân và việc khôi phục lại chế độ tài sản của vợ chồng sau khi chia
tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Đồng thời qua việc phân tích nội dung của
quy định pháp luật HN&GĐ về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì


10

hôn nhân, Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp để quy định của Luật HN&GĐ
2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đi vào thực tiễn.
Tìm hiểu thực tiễn áp dụng về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân của ngành Tòa án từ khi áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 cho đến
khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành. Qua đó, đánh giá được những thành
tựu đã đạt được và những hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích
nội dung và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn có
đưa ra một số giải pháp để nâng cao tính khả thi trong quá trình áp dụng quy
định của pháp luật HN&GĐ 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân.
Từ những nhiệm vụ trên, Luận văn được nghiên cứu chủ yếu trong phạm
vi Luật thực định quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở của phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của lý luận chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm của Đảng, nhà nước ta về HN&GĐ. Đồng thời trong quá trình
nghiên cứu, khóa luận còn sử dụng phương pháp nghiên cứu thông qua các
phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, logic, chứng minh, dẫn chứng
và bình luận, thống kê…
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là
cho các cặp vợ chồng có điều kiện tìm hiểu các quy định về chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, biết được quyền yêu cầu chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, nguyên tắc chia sẽ được áp dụng như thế


11

nào, phần quyền và nghĩa vụ của mình đối với các nghĩa vụ chung của vợ chồng
đối với bên thứ ba khi tài sản đã được chia ra sao, biết được tài sản nào được
chia và tài sản nào không bị chia. Qua đó góp phần thực hiện pháp luật, xây
dựng gia đình hòa thuận, dân chủ hạnh phúc và bền vững.
Hy vọng Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình
học tập và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật HN&GĐ về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
6. Kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tài sản và chia tài sản
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
Chương 2: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo
luật hôn nhân và gia đình 2014.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản để quy định của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đi vào
cuộc sống.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót khi thực hiện khóa luận này. Kính mong thầy, cô đóng góp ý kiến để
bài Luận văn của em được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


12

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VÀ CHIA
TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN.
1. 1 Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng.
1.1.1 Khái niệm.
Hôn nhân là cơ sở quan trọng hình thành gia đình - đơn vị xã hội cơ bản,
thực hiện những chức năng cơ bản như: duy trì nòi giống, bảo đảm cuộc sống
cộng đồng chung giữa các thành viên, hình thành, phát triển nhân cách, năng lực
cá nhân, thực hiện chức năng kinh tế… Để thực hiện được các chức năng xã hội
cơ bản này, bên cạnh yếu tố tình cảm, trách nhiệm nhân thân thì cũng cần phải
bảo đảm những điều kiện vật chất nhất định. Do đó, bên cạnh các quy định về
quyền nhân thân, chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm
như là một trong các chế định cơ bản, quan trọng nhất của pháp luật HN&GĐ.
Theo đó, vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân có quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Sau khi kết hôn,


13

been cạnh bảo đảm quyền sở hữu riêng đối với tài sản, thì tài sản của vợ, chồng
cũng phải được quản lý, sử dụng và định đoạt vì lợi ích chung của gia đình.
Tài sản theo nghĩa từ điển học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích

sản xuất và tiêu dùng”. Theo điều 163 BLDS 2005 thì “tài sản bao gồm vật,
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Quyền sở hữu đối với tài sản theo
Điều 164 BLDS 2005 quy định: “ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của
pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.” Khi quan hệ hôn
nhân được hình thành thì về nguyên tắc, chủ sở hữu các tài sản trong quan hệ
hôn nhân là cả hai vợ chồng (ngoại trừ những tài sản thuộc sở hữu riêng). Để
đảm bảo quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mỗi bên cũng như để
bảo đảm vợ chồng thực hiện các chức năng xã hội của gia đình, đảm bảo quyền
lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ
chồng thì việc pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng là rất cần thiết.
Hiện nay, pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam không có quy định
nào đưa ra khái niệm chế độ tài sản chung của vợ chồng. Theo TS. Nguyễn Văn
Cừ thì chế độ tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam được hiểu như sau: “ Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh về sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy
định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và
chồng theo luật định”.
Nếu theo Luật HN&GĐ năm 2000 thì chế độ tài sản của vợ chồng chỉ bao
gồm chế độ tài sản theo luật định thì Luật HN&GĐ mới bên cạnh tiếp tục thừa
nhận chế độ tài sản theo luật định thì cũng đã thừa nhận chế độ tài sản ước định
(xác lập theo thỏa thuận của vợ chồng tại hoặc trước thời điểm kết hôn).


14

Việc nhà làm luật quy định như vậy là rất cần thiết vừa tôn trọng được ý
chí tự định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản của mình vừa bảo đảm cao nhất ý

nghĩa, vai trò của tài sản trong đời sống hôn nhân và gia đình, bởi lẽ:
Thứ nhất, do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập. Kể
từ khi nam, nữ kết hôn trở thành vợ chồng họ cùng nhau chung sống, cùng nhau
gánh vác công việc chung của gia đình, cùng nhau tạo dựng tài sản chung… Do
đó, muốn đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình về tinh thần và vật chất;
để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, giúp đỡ lẫn nhau…thì cần
phải có tài sản của vợ chồng. Mặt khác, bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương
gắn bó giữa vợ chồng, không thể không nói đến vấn đề tài sản của vợ chồng.
Chính vì vậy, để đảm bảo đời sống chung của gia đình, đáp ứng các nhu cầu về
vật chất, tinh thần của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con cái… thì trong
suốt thời kì hôn nhân, vợ chồng không chỉ bó hẹp trong quan hệ gia đình mà còn
phải trao đổi, quan hệ giao dịch với nhiều người khác. Từ thực tế, có thể thấy chế
độ tài sản của vợ chồng được áp dụng thường xuyên, hàng ngày, từ việc người
vợ đi chợ mua lương thực, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày
đến những việc kinh doanh, buôn bán, mua sắm các tài sản chung có giá trị lớn
đều cần dùng đến tài sản của vợ chồng. Qua đó, có thể thấy nếu nhà làm luật
không dự liệu cách xử sự theo quy định chung thì khó có thể kiểm soát, định
hướng trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng trong các giao
dịch dân sự;
Thứ hai, pháp luật có dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở để
vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của mình liên quan đến tài
sân của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Chẳng hạn như việc luật quy định hoặc
do chính vợ chồng thỏa thuận về các căn cứ, nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản
thuộc sở hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, vợ
chồng thực hiện quyền sở hữu như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định


15

đoạt đối với từng loại tài sản theo luật định hoặc theo cam kết đã có hiệu lực

nhằm đảm bảo lợi ích chung của gia đình hoặc nhu cầu của bản thân vợ, chồng
Đồng thời là căn cứ để vợ chồng xác định rõ các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến tài sản của mình;
Thứ ba, khi vợ chồng sử dụng, định đoạt tài sản của mình nhằm bảo đảm
đời sống của gia đình…luôn có liên quan đến quyền lợi của người khác – người
thứ ba kí kết các hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Theo quy
định của pháp luật hiện hành, người thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng
trường hợp nào hợp đồng đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ
chồng hoặc bằng tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng
của mình;
Thứ tư, việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt
Nam là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người khác
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Chẳng hạn như việc giải quyết những
món nợ mà vợ chồng vay chung vì lợi ích chung của gia đình hoặc mỗi bên vợ,
chồng vay riêng sử dụng vào mục đích riêng. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà
áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng (theo luật định hoặc theo thỏa thuận) để xác
định nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của vợ, chồng phải thanh toán trả món
nợ đó.
1.1.2. Đặc điểm
So với các chế độ tài sản khác, chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc
điểm riêng biệt sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng
phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau, theo đó,
các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự
thì cũng còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định, như:


16


các điều kiện về tuổi kết hôn, điều kiện về sự tự nguyện, không vi phạm các điều
cấm kết hôn… Điều này cũng cho thấy rằng, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài
sản của vợ chồng phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân,
về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể phát sinh khi quan hệ hôn
nhân được xác lập và chấm dứt khi một bên vợ, chồng chết hoặc vợ chồng ly
hôn;
Thứ hai, việc xác lập, chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng xuất phát từ
mục đích chung là bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích của cá
nhân vợ, chồng. Từ đó, theo luật định, dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản
theo luật định hay thoat thuận thì cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc,
nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi
dưỡng giáo dục các con;
Thứ ba, về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản về
nguyên tắc phải xuất phát hoặc tôn trọng lợi ích chung của gia đình. Do đó, trong
nhiều trường hợp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng bị giới hạn bởi quy định của
Luật, ví dụ: hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ
hôn nhân về nguyên tắc được xác định là tài sản chung…
1.2. Khái niệm, đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Như đã phân tích ở trên, chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định
để trước hết nhằm đáp ứng các như cầu chung của gia đình, bảo đảm thực hiện
các chức năng xã hội cơ bản của gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ sự đa dạng của
mỗi gia đình trong đời sống xã hội - “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” thì
nhà làm luật cũng quan tâm đến tạo cơ chế pháp lý thuận lợi nhất cho vợ chồng
trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung, trong đó có việc thừa nhận khi
có lý do chính đáng thì vợ, chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Cách tiếp cận như là nhân văn, tạo sự linh
hoạt, không cứng nhắc trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình



17

nói chung, quan hệ tài sản giữa vợ và chống nói riêng, kết hợp hài hòa giữa lợi
ích của gia đình với lợi ích của cá nhân vợ, chồng và sự ổn định của các quan hệ
dân sự có liên quan. Qua nội dung pháp lý của về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014,
Nghị định 126/2014/NĐ-CP, cá nhân người viết xin đưa ra khái niệm khái quát
về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:
“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là trường hợp khi
hôn nhân còn đang tồn tại thì một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định được chuyển thành tài sản
riêng của vợ hoặc chồng trên cơ sở các điều kiện luật định, sự thỏa thuận của vợ
chồng hoặc quyết định của Tòa án (nếu có yêu cầu của vợ, chồng)”.
Như vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mang những đặc
điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nó được áp dụng và chỉ có ý nghĩa trong trường hợp chế độ tài
sản của vợ chồng theo luật định;
Thứ hai, thời điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân là
khi hôn nhân đang tồn tại, trong khi đó chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn được thực hiện khi Tòa án giải quyết vụ án ly hôn, chia tài sản chung của vợ
chồng khi một bên vợ, chồng chết trước được thưc hiện khi một bên vợ hoặc
chồng chết trước và người vợ, chồng còn lại có yêu cầu Tòa án chia di sản thừa
kế đó;
Thứ ba, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hướng tới
các mục đích quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung trong những trường
hợp cần thiết, không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống chung của gia đình,
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác như: vợ, chồng đầu tư kinh doanh
riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác… Ở trường



18

hợp chia tài sản này hậu quả của quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không phải
là căn cứ phát sinh hoặc yếu tố quyết định;
Thứ tư, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể
được thực hiện toàn bộ hoặc một phần tài sản chung của họ. Trong khi đó thì
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng
khi một bên vợ, chồng chết trước được chia đối với toàn bộ tài sản chung của họ;
Thứ năm, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không
đương nhiên làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chung của vợ chồng. Tài
sản chung vẫn có thể tồn tại hoặc vẫn có thể xuất hiện (trong trường hợp không
chia hết hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung hay vợ chồng
khôi phục lại chế độ tài sản chung…).
1.3. Sự cần thiết của việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
Trước đây, thời phong kiến, người phụ nữ trong xã hội hầu như không có
trong tay một chút quyền hành nào, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản. Đến xã hội
ngày nay, những vấn đề nhân quyền, bình đẳng giới được đề cập một cách rộng
rãi thì địa vị của người phụ nữ trong gia đình nói riêng, trong xã hội nói chung
được nâng cao rõ rệt. Một trong những biểu hiện đó là sự đổi mới của những quy
định pháp luật trong đó có quyền sở hữu tài sản. Chế định này đã thể hiện một tư
duy đổi mới của các nhà lập pháp trong việc thừa nhận quyền sở hữu riêng của
vợ, chồng và qua đó tạo ra sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Trong hệ thống pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta, trường hợp chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mới được quy định trong Luật
HN&GĐ năm 1986 ( Điều 18 ). Luật HN&GĐ năm 1959 chưa quy định về vấn
đề này. Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục quy định trường hợp chia tài sản



19

chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (Điều 29,30). Trên cơ sở kế thừa và
phát huy các quy định của pháp luật trước đó, Luật HN&GĐ năm 2014 có nhiều
điểm tiến bộ, đáp ứng các nhu cầu phát triển chung của xã hội hiện nay (Điều
38, 39, 40, 41, 42 ). Sở dĩ pháp luật quy định việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kì hôn nhân là bởi xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, do các điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là
trong nền kinh tế thị trường thì tính chất công việc, nghề nghiệp của vợ, chồng
cần tự chủ trong các trường hợp cần đầu tư kinh doanh, nếu sử dụng tài sản
chung của vợ chồng để đầu tư, kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
chung của gia đình trong trường hợp việc đầu tư, kinh doanh đó gặp rủi ro.
Chính vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi chung của gia đình cũng như tôn trọng
quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân, quyền tự do kinh doanh được pháp luật
công nhận, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân được luật
HN&GĐ 2014 ghi nhận.
Thứ hai, do cuộc sống chung của vợ chồng khó tránh khỏi được xung đột,
mâu thuẫn. Nhiều trường hợp chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nhưng
lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn có tài sản để thực hiện việc đầu tư, sản xuất
kinh doanh riêng. Đáp ứng nhu cầu này của vợ chồng nhằm mục đích xây dựng
gia đình êm ấm, hạnh phúc, ổn định mà pháp luật hiện hành cho phép vợ chồng
chia tài sản chung ngay cả khi hôn nhân đang tồn tại.
Thứ ba, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba. Trường
hợp do vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, chẳng hạn như những
món nợ mà vợ, chồng vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kì hôn nhân sử
dụng vào mục đích riêng. Trong trường hợp này, nếu tài sản riêng không có hoặc
không đủ mà vợ chồng không thể thỏa thuận được về việc lấy tài sản chung để
trả nợ riêng cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong



20

thời kì hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản
chung nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
Việc pháp luật HN&GĐ hiện hành quy định như vậy: Trước hết là tạo cơ
sở cho vợ chồng tự do tham gia vào các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống gia
đình, ngoài lợi ích đạt được thì vợ chồng phải có nghĩa vụ tài sản đối với người
thứ ba có giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Bởi lẽ, muốn bảo vệ
quyền và lợi ích của mình, người thứ ba phải biết về chế độ tài sản của vợ chồng
để xác định khả năng thanh toán của vợ, chồng. Qua đó, tránh được những tranh
chấp có thể xảy ra, gây bất lợi cho cả hai bên. Tiếp nữa là tạo cơ sở pháp lý để
phân định rõ trách nhiệm của vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài
sản phù hợp với pháp luật hiện hành. Từ đó, làm giảm những mâu thuẫn của vợ
chồng xuất phát từ khối tài sản chung của họ.
Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một
quy định rất cần thiết đối với đời sống gia đình hiện nay, thể hiện sự bình đẳng
giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản. Hơn hết, quy định này đã phần nào hạn
chế được tình trạng ly hôn, thể hiện sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với
người dân, đối với xã hội…
Chương 2
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN
NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
2.1. Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
2.1.1 . Vợ, chồng có yêu cầu về việc chia tài sản chung.
Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng,
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có
thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản;
nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Có thể thấy,



21

việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chỉ được đặt ra khi
có yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai người. Nếu mỗi người thấy
rằng việc chia tài sản là cần thiết thì có thể thỏa thuân với vợ, chồng mình để
chia tài sản chung, nếu không thỏa thuận được có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khoản 1 Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:
“Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc
toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu
không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.” Như vậy, khác
với Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là nêu ra các trường hợp vợ chồng có thể
thỏa thuận chia tài sản chung thì đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã
không dự liệu trước các trường hợp ấy mà khẳng định ngay về quyền của vợ
chồng đối việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Điều này là thiết thực
bởi lẽ: vợ chồng là chủ sở hữu đối đối với khối tài sản chung ấy vì vậy họ có
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt cũng như quyền yêu cầu chia khối tài sản
chung ấy.
Tuy nhiên, xuất phát từ việc Luật hôn nhân và gia đình chỉ cho phép vợ
hoặc chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân mà không cho bất kì một chủ thể nào khác có quyền này, kể cả
người có quyền lợi liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân. Chẳng hạn như: chủ nợ của một bên vợ hoặc chồng… là không đầy
đủ, không bảo vệ được quyền, lợi ích của người có quyền trong trường hợp vợ
chồng không thực hiện việc chia tài sản chung để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Cá nhân người viết cho rằng, quy định như Luật HN&GĐ là cần thiết, bởi
việc chia tài sản sẽ ảnh hưởng đến khối tài sản, ảnh hưởng đến nền tảng kinh tế
chung của gia đình, từ đó tác động đến sinh hoạt bình thường của vợ chồng, con
cái, tác động đến lợi ích chung của gia đình. Trường hợp liên quan đến người thứ
ba, trong trường hợp không thể thỏa thuận được với vợ chồng về việc chia tài



22

sản chung thì người này có quyền yêu cầu Tòa án buộc vợ, chồng người có nghĩa
vụ thực hiện nghĩa vụ, Tòa án căn cứ vào thực tế khả năng tài chính của người có
nghĩa vụ có thể cho phép phát mại tài sản chung để lấy phần tài sản của người có
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.
2.1.2. Việc chia tài sản chung phải có lý do chính đáng
Luật HN&GĐ năm 2014 thay vì quy định cụ thể các lý do được chia tài
sản chung như Luật HN&GĐ năm 2000 thì đã quy định theo hướng khi vợ
chồng có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án thì tài sản chung được chia trừ trường
hợp thuộc những giới hạn được quy định tại Điều 42 Luật này, bao gồm:
“Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp
pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự
hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và
quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Đây là cách tiếp cận mở rất phù hợp, bảo đảm sự linh hoạt hơn đối sự đa
dạng về nhu cầu quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong mỗi gia đình và


23


trong từng quan hệ giao dịch. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 và qua thực tiễn xét xử của Tòa án thì bên cạnh lý do vợ
chồng có mâu thuẫn nhưng không muốn ly hôn mà muốn được độc lập về tài sản
thì thường có hai lý do phổ biến sau đây:
(1). Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng
Xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một
trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung
của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tư kinh
doanh. Trước đây, để phù hợp với nền kinh tế thị trường, xu hường hội nhập của
toàn cầu, nhà nước đã có những chính sách quan tâm, khuyến khích công dân tự
do phát triển kinh tế. Do vậy, mọi công dân đều có quyền tự do kinh doanh dưới
mọi hình thức mà pháp luật không cấm. Vợ chồng có quyền tự do kinh doanh
trong khuôn khổ của pháp luật vì lợi ích chung của cá nhân vợ, chồng và lợi ích
chung của gia đình. Mặt khác việc kinh doanh của người vợ, chồng không phải
lúc nào cũng theo ý muốn của mình do họ còn bị ràng buộc bởi mối quan hệ hôn
nhân. Hơn nữa quyết định của họ còn liên quan đến lợi ích chung của gia đình.
Chính vì lẽ đó để đảm bảo cho người vợ, người chồng có tài sản riêng để có vốn
đầu tư kinh doanh riêng, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa và phát triển các quy định của Luật hôn
nhân và gia đình 1986 cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận chiaa tài sản chung
khi hôn nhân đang còn tồn tại.
Trên thực tế không phải trường hợp nào kinh doanh cũng mang lại hiệu
quả kinh tế, thuận buồm xuôi gió như mong muốn mà có thể dẫn tới thua lỗ. Lúc
này người vợ, người chồng đầu tư kinh doanh chịu trách nhiệm bằng tài sản
riêng của mình đã được chiaa trong khối tài sản chung của vợ chồng mà không
ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình. Có thể thấy, quy định này đã bảo vệ
được lợi ích chung của gia đình trước hậu quả cũng như những rủi ro không



24

mong muốn của việc kinh doanh đem lại. Mặt khác, còn bảo đảm cuộc sống ổn
định của các thành viên trong gia đình, tránh những hưởng tiêu cực của hoạt
động đầu tư kinh doanh gây ra.
(2) Chia tài sản chung khi vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội khác nhau, việc phát sinh các nghĩa
vụ dân sự là điều tất yếu. Điều 280 BLDS 2005 quy định như sau: “Nghĩa vụ
dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có
nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá,
thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi
ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Theo
đó, trong quan hệ vợ chồng, nghĩa vụ dân sự riêng có thể được hiểu là các nghĩa
vụ phát sinh do hành vi không vì lợi ích chung của gia đình, của một bên vợ
hoặc chồng thực hiện trước hoặc trong thời kì hôn nhân. Nghĩa vụ dân sự này có
thể là do người vợ hoặc người chồng đã vay nợ chủ thể thứ ba để sử dụng vào
nhu cầu riêng hay trường hợp người vợ hoặc người chồng đã vi phạm pháp luật
dẫn tới hậu quả phải thực hiện nghĩa vụ dân sự nào đó. Chẳng hạn: bồi thường
thiệt hại…
Khi phát sinh các nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc người vợ hoặc
người chồng có nghĩa vụ dân sự riêng phải dùng tài sản riêng của mình, nếu tài
sản riêng của người đó không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thể thỏa
thuận được việc dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng cho một
bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân để
lấy phần tài sản riêng của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng để thực
hiện việc thanh toán nghĩa vụ dân sự riêng đó.
Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định nghĩa vụ dân sự riêng
nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch dân sự đồng thời



25

tạo điều kiện để vợ chồng có thể thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tham gia
quan hệ tài sản với người thứ ba. Là cơ sở để phân định rõ quyền và nghĩa vụ
của vợ, chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung của
gia đình.
2.2. Các nguyên tắc về phân chia tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ
trong thời kỳ hôn nhân.
Luật HN&GĐ năm 2000 không có quy định nguyên tắc chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Việc không quy định như vậy, đã dẫn đến
thực tiễn giải quyết gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Trước đây, Điều 18 Luật
HN&GĐ năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có
lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở
Điều 42 của Luật này.”. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia theo
nguyên tắc tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản
chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình
hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên…
Trong trường hợp vợ chồng do còn chung sống với gia đình mà tài sản của bản
thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong
khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức đóng góp của người được
chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời
sống chung của gia đình. Mặt khác, Điều 42 Luật HN&GĐ năm 1986 cũng quy
định lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất; khi chia tài sản
phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi
ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp. Theo quy định này thì nguyên tắc
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân được quy định khá rõ
ràng và chi tiết như nguyên tắc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.
Mặc dù Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định nguyên tắc chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tuy nhiên xét về thực tiễn và theo



×