Tải bản đầy đủ (.docx) (98 trang)

Khóa luận tốt nghiệp QUẢN TRỊ rủi RO TRONG THANH TOÁN QUỐC tế tại NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH 3 TP hồ CHÍ MINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (572.69 KB, 98 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING

BÀNH YẾN NHI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH 3 TP HỒ CHÍ MINH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ LÊ MINH TUẤN

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH 3 TP HỒ CHÍ MINH

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. LÊ MINH TUẤN
SINH VIÊN THỰC HIỆN: BÀNH YẾN NHI
LỚP – KHÓA: NT02 – K38

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016



LỜI CẢM ƠN
Bài khóa luận tốt nghiệp này trình bày việc ứng dụng các kiến thức đã được học vào
thực tiễn công việc, qua đó giúp cho sinh viên nhận biết được thực trạng thực tế của vấn
đề cần nghiên cứu tại một đơn vị như thế nào. Vì thế, để hoàn thành được bài khóa luận
này, không thể thiếu được sự giúp đỡ của các giảng viên trong Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, cũng như các nhân viên tại đơn vị thực tập.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến tất cả quý thầy cô thuộc Trường Đại
học Kinh tế TPHCM, đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức để giúp em có nền tảng
để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này. Em xin trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Lê Minh
Tuấn thuộc Khoa Kinh doanh quốc tế - Marketing, Trường Đại học Kinh tế TP HCM đã
tận tình hướng dẫn, xem xét và bổ sung cho em những thiếu sót để giúp em có thể hoàn
thành bài khóa luận trong thời gian quy định của nhà trường và đạt được kết quả tốt nhất.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo của Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em thực tập tại
đơn vị, đặc biệt là cảm ơn tất cả nhân viên trong phòng Khách hàng doanh nghiệp, đã
nhiệt tình hướng dẫn, cung cấp cho em những tài liệu cần thiết để hoàn thành bài khóa
luận đúng thời hạn, đúng yêu cầu, cũng như giúp em tìm hiểu được tình hình thực tế về
các hoạt động của chi nhánh nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng.
Vì thời gian thực tập không dài và với kiến thức còn hạn chế, nên báo cáo thực tập
của em không tránh khỏi những thiếu xót. Do đó, em rất mong nhận được sự thông cảm
của quý thầy cô, cũng như Ban lãnh đạo và các nhân viên tại Vietinbank chi nhánh 3 TP
HCM. Sau cùng, em xin kính chúc các thầy cô, Ban lãnh đạo và các nhân viên của
Vietinbank chi nhánh 3 TPHCM dồi dào sức khỏe, luôn thành công trong công việc và
cuộc sống. Em xin chân thành cảm ơn.
TP Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm……
Sinh viên thực hiện

Bành Yến Nhi



NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
TP Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm……


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................

.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Theo xu hướng phát triển của thương mại thế giới, việc giao dịch mua bán giữa các
nước trên thế giới đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ và ngày một phát triển. Từ đó, đặt ra
nhu cầu phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế trong hệ thống các ngân hàng. Bởi vì
hoạt động này luôn tìm ẩn nhiều rủi ro, cũng như liên quan đến nhiều bên tham gia, do đó
rất thiết yếu trong việc cần phải Quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế.
Chính vì lý do đó, bài viết này trình bày về “Quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế”
được nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh 3 TP Hồ Chí
Minh. Đề tài này sẽ đưa ra những lý thuyết về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro
trong thanh toán quốc tế nói chung; lý thuyết về các phương thức thanh toán quốc tế chủ
yếu được thực hiện tại Vietinbank chi nhánh 3 TPHCM.
Đề tài còn giới thiệu tổng quát về Vietinbank chi nhánh 3 TPHCM, về lịch sử hình
thành cũng như tình hình hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây. Sau đó, phân
tích đánh giá thực trạng thực hiện quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế tại chi nhánh;
đặc biệt là phân tích các bước trong quy trình thực hiện UPAS L/C – loại phương thức
thanh toán quốc tế đặc trưng tại chi nhánh để chỉ ra những khó khăn, rủi ro, cũng như
những nguyên nhân gây ra những khó khăn, rủi ro đó. Từ đó, đề xuất những phương án

giải quyết khó khăn, và hạn chế, khắc phục những hậu quả do rủi ro trong thanh toán
quốc tế mang lại.


MỤC LỤC

7


DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
SXKD: sản xuất kinh doanh.
CN3: chi nhánh 3.
TSBĐ: tài sản bảo đảm.
TTQT: thanh toán quốc tế.
HĐKD: hoạt động kinh doanh.
NK: nhập khẩu.
XK: xuất khẩu.
NH: ngân hàng.
NHTM: ngân hàng thương mại.
BCT: bộ chứng từ.

8


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG

9



Chương 1.
1.1.

TỔNG QUÁT.

Lý do chọn đề tài:

Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay, các cá nhân và doanh nghiệp
ngày càng mở rộng quan hệ mua bán, giao dịch với nước ngoài, do đó nhu cầu của các cá
nhân và doanh nghiệp đối với với một tổ chức tài chính luôn đóng vai trò trung gian trong
các hoạt động giao dịch với nước ngoài như ngân hàng là ngày một tăng cao.
Nằm tại quận 3- một khu vực trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh 3 TPHCM đang ngày càng đẩy mạnh việc phát
triển hoạt động TTQT tại chi nhánh để đáp ứng nhu cầu đang ngày một tăng cao của thị
trường. Xuất phát từ mục tiêu mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động TTQT tại chi
nhánh, Vietinbank CN3 TPHCM đã và đang ngày một chú trọng hơn trong việc quản trị
rủi ro trong hoạt động TTQT, nhằm giảm thiểu tối đa những hậu quả do những rủi ro
mang lại.
Trong quá trình thực tập tại Vietinbank CN3 TPHCM, em đã nhận ra rằng cần phải
quản trị rủi ro bởi vì có những rủi ro hoàn toàn có thể dự báo trước được cũng như phòng
ngừa được nếu thực hiện đúng quy trình. Thêm vào đó, TTQT là một hoạt động có nhiều
bên tham gia như nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, các ngân hàng đại lý, … do đó bất kỳ
một rủi ro nào xảy ra cũng có thể gây ra ảnh hưởng đến nhiều bên liên quan. Chính vì
thế, quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Vì những lý do trên, em đã chọn đề tài: “Quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh” làm đề tài
khoá luận
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu:


Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong TTQT tại chi nhánh, tìm ra những điểm còn
thiếu sót hoặc những điểm chưa hợp lý trong việc quản trị rủi ro đó. Từ đó đề xuất một số
giải pháp để hoàn thiện thêm cho nghiệp vụ quản trị rủi ro trong TTQT tại chi nhánh.

10


1.3.

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: ngân hàng Vietinbank CN3 TPHCM.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu số liệu trong gian đoạn từ năm 2012 đến năm 2015.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu:

Bài báo cáo thực tập này được nghiên cứu bằng một số phương pháp sau:
1.4.1. Phương pháp quan sát:
-

Đối tượng và địa điểm quan sát: các anh chị nhân viên trong phòng Khách hàng doanh

-

nghiệp thực hiện các nghiệp vụ TTQT.
Tần suất và thời gian quan sát: một tuần quan sát vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu
trong khoảng thời gian từ 9h đến 11h và từ 14h đến 16h, vì đây là những khoảng thời


-

gian mà các nhân viên thực hiện nghiệp vụ TTQT với tần suất cao nhất.
Phương pháp quan sát: quan sát bằng mắt thường cùng với lắng nghe và ghi chép.
Nội dung quan sát: quan sát cách thức giao tiếp của các nhân viên đối với khách hàng đến
giao dịch; trình tự thực hiện các quy trình, thủ tục; cách thức hướng dẫn cho khách hàng;
thái độ khi giao tiếp với khách hàng.
Tuy nhiên, phương pháp quan sát này chỉ có thể đánh giá hiện tượng bên ngoài, do đó,
cần kết hợp với một số phương pháp khác như: phỏng vấn , nghiên cứu tại bàn…
1.4.2. Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin giữa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời
nói nhằm đạt được mục đích đã đề ra.

-

Đối tượng phỏng vấn: các nhân viên trong phòng Khách hàng doanh nghiệp.
Thời điểm phỏng vấn: thời điểm phỏng vấn linh hoạt, tùy vào lúc người được phỏng vấn

-

trong phòng Khách hàng doanh nghiệp thuận tiện.
Thời gian phỏng vấn: cũng phụ thuộc vào khoảng thời gian thuận tiện của người được

-

phỏng vấn, nhưng thời gian trung bình là khoảng 10 phút.
Cách thức phỏng vấn: chuẩn bị sẵn vấn đề cần hỏi, sau đó đặt những câu hỏi xung quanh
vấn đề đó. Tuy rằng không chuẩn bị bảng câu hỏi trước thì dễ xảy ra trường hợp không
hỏi được đầy đủ thông tin mình mong muốn, nhưng lại có thể linh động chuyển tiếp cuộc
phỏng vấn theo hướng trả lời của người được phỏng vấn.

11


1.4.3. Phương pháp nghiên cứu tại bàn:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu dựa vào số liệu và thông tin sẵn có.
-

Phạm vi không gian: phòng Khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Công

-

Thương Việt Nam chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: một tuần vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu từ 7h30 đến 17h.
Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu một số công văn về quy trình thực hiện các nghiệp vụ
TTQT của ngân hàng, nghiên cứu những thông tin có trên trang web chính thức của hệ
thống ngân hàng Vietinbank.vn, nghiên cứu báo cáo tài chính tổng hợp của ngân hàng và
của chi nhánh qua các năm từ 2012 đến 2015.
1.5.

Nội dung nghiên cứu:

Nội dung của khoá luận này gồm có bốn chương:
-

Chương 1: Tổng quan về khoá luận
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng

-


Vietinbank chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh.
Chương 4: Giải pháp để hoàn thiện nghiệp vụ quản trị rủi ro trong TTQT tại
Vietinbank chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh.

Chương 2.
2.1.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.

Các khái niệm tổng quát:

2.1.1. Rủi ro là gì?
Cho đến nay, chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro , những trường phái khác
nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro. Những định
nghĩa này rất đa dạng, phong phú, nhưng chung quy lại có thể chia làm 2 trường phái lớn:
Trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa.
Theo trường phái tiêu cực: rủi ro là sự không may, sự tổn thất, mất mát, nguy hiểm…
Thuộc trường phái này, ta có một số các định nghĩa sau:
-

Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995 thì
“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”.

12


-

Theo cố GS. Nguyễn Lân thì “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” (Từ điển
từ và ngữ Việt Nam, năm 1998 trang 1540).

Tóm lại, theo cách nghĩ truyền thống thì “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy

hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn
có thể xảy ra cho con người”. (Sách Quản trị rủi ro và khủng hoảng – GS.TS Đoàn
Thị Hồng Vân; ThS. Kim Ngọc Đạt; ThS. Hà Đức Sơn – NXB Lao động Xã hội – năm
2013 – trang 31)
Thực tế cho thấy: Xã hội đang ngày càng phát triển, hoạt động của con người ngày
càng đa dạng, phong phú và phức tạp; vì thế, những rủi ro mà con người gặp phải cũng
ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Con người cũng quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên
cứu, nhận dạng và tìm các biện pháp để quản trị rủi ro. Trong quá trình nghiên cứu đó,
nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, trở nên khoan dung, trung hòa hơn.
Theo trường phái trung hòa:
-

Theo David Apgar thì “Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh
hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi” (Risk
Intelligence: Learning to Manage What We Don’t Know, 2006, Publisher:

-

Harvard Business School Press).
Trong cuốn “Risk management and insurance”, 1997, NXB McGraw-Hill / Irwin
các tác giả C.Authur William, Jr.Micheal, L.Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động
tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của
con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự
hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào
một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước.”

Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, nguy hiểm, mất mát…nhưng cũng có thể mang lại cơ

hội cho con người. Nếu biết quản trị rủi ro…thì không chỉ phòng ngừa, né tránh được rủi
ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại do rủi ro gây ra, mà còn có thể “lật ngược tình thế”,
chuyển bại thành thắng, chuyển thủ thành công, biến thách thức thành cơ hội.
13


Ngoài hai trường phái trên, khi tiếp cận rủi ro từ góc độ thái độ đối phó với rủi ro, luật
sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
lại cho rằng, rủi ro là điều không ai mong đợi nhưng phải chấp nhận “sống chung”.
Nhận diện được rủi ro, có giải pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất khi có rủi ro, đó là
giải pháp tích cực thay vì “mũ nỉ che tai” hoặc lạc quan tếu, kinh doanh liều lĩnh.
Một số khái niệm có liên quan:
-

Rủi ro thuần túy: chỉ gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, như: hỏa hoạn,
mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… và nó làm phát sinh một khoản chi

-

phí (để bù đắp thiệt hại) nên phải có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế.
Rủi ro suy đoán: (hay theo lý thuyết của A.M. Mowbray, Blanchad Williams còn
gọi là rủi ro mang tính đầu cơ) là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi
gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt

-

động kinh doanh và có tính hấp dẫn của nó.
Rủi ro có thể phân tán: là rủi ro có thể giảm bớt nhờ con đường đóng góp quỹ

-


chung để chia sẻ rủi ro.
Rủi ro không thể phân tán: là rủi ro không thể giảm bớt nhờ con đường đóng góp
quỹ chung và chia sẻ rủi ro.
2.1.2. Quản trị rủi ro:

Trong quá khứ, có nhiều tác giả cho rằng, quản trị rủi ro chỉ đơn thuần là mua bảo
hiểm, tức là chuyển một phần gánh nặng rủi ro có thể gặp phải sang cho các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Cách quản trị này chỉ áp dụng cho những rủi ro thuần túy,
rủi ro có thể phân tán.
Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức
một cách toàn diện. Trong sách Corporate Risk Management: An Organisational
Perspective, NXB John Willey & Sons, năm 2011, các tác giả T.Merna và F.AlThani cho
rằng, “Quản trị rủi ro là một quy trình cho phép xác định , đánh giá, hoạch định và quản
lý các loại rủi ro”. Từ khái niệm này cho thấy, quản trị rủi ro hướng đến ba mục tiêu
chính: phải xác định được rủi ro, thực hiện phân tích một cách khách quan các loại rủi ro
đặc thù đối với tổ chức và ứng phó với những rủi ro đó một cách phù hợp và hiệu quả.

14


Nói tóm lại, Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn
diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất,
mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro (Sách Quản trị rủi ro và khủng hoảng –
GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân; ThS. Kim Ngọc Đạt; ThS. Hà Đức Sơn – NXB Lao động
Xã hội – năm 2013 – trang 66).
2.1.3. Rủi ro trong TTQT:
Rủi ro trong hoạt động TTQT là rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
TTQT, thường do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT
(nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng, nhà vận chuyển, bảo hiểm và các cá nhân, tổ

chức trung gian khác…) hoặc có những nhân tố khách quan khác gây nên như thiên tai,
chiến tranh, chính trị…
Rủi ro trong hoạt động TTQT liên quan đến các giao dịch thương mại quốc tế. Nó
cũng giống như những giao dịch thương mại trong nước, nhưng phức tạp hơn do khoảng
cách địa lý, những khác biệt về văn hóa, luật pháp…
Rủi ro trong TTQT có thể phân theo theo các bên liên quan như sau:
2.1.3.1.

Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:

Nhà xuất khẩu có thể phải đối mặt với tình trạng suy yếu về mặt tài chính của nhà
nhập khẩu, khi họ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trong thời hạn thỏa thuận
của hợp đồng và họ sẽ xin được gia hạn trả nợ. Người bán sẽ phải chấp nhận nếu người
mua chưa thể cải thiện tình hình tài chính trong thời gian đó.
Trường hợp rủi ro cao hơn nữa đó là doanh nghiệp của người mua mất hoàn toàn khả
năng trả nợ, tức là rơi vào tình trạng bị tuyên bố giải thể, phá sản. Nợ của nhà xuất khẩu
chỉ được thanh toán sau khi các khoản nợ ưu tiên đã giải quyết xong như các khoản tiền
lương, thuế, các khoản nợ các tổ chức xã hội…do đó, sẽ có rất ít cơ hội thu hồi các khoản
mà người mua đã nợ (trừ khi người xuất khẩu sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C
có xác nhận của ngân hàng thì khoản nợ của nhà nhập khẩu sẽ được thanh toán đầy đủ
cho bên xuất khẩu).

15


2.1.3.2.

Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:

Khi hàng hóa thuộc hàng khan hiếm hoặc nhà nhập khẩu mới làm ăn, buôn bán thì có

thể phải chấp nhận sử dụng các phương thức TTQT bất lợi cho mình để có được hàng
(như chuyển tiền trả trước 100% giá trị hàng hóa hoặc là phương thức giao chứng từ nhận
tiền) thì nhà nhập khẩu phải có sẵn một lượng tiền hàng trước khi nhận được hàng. Việc
này có thể làm cho nhà nhập khẩu bị ứ đọng vốn lớn trong một khoản thời gian, hoặc có
thể phải vay ngân hàng để thanh toán.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, với một số lý do đặc biệt như chính trị, thiên tai,
nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu phải trả mức giá cao hơn so với thỏa thuận. Trong
trường hợp này, nhà nhập khẩu có thể từ chối hợp đồng và tìm người cung cấp mới, song
sẽ bị chậm hơn so với quy định với các đối tác. Nhiều khi họ không còn sự lựa chọn nào
khác và buộc phải chấp nhận giá cao gây tổn thất trong lợi nhuận.
Rủi ro về chất lượng hàng hóa: ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với chất lượng
hàng hóa mà nhà xuất khẩu cung ứng cho nhà nhập khẩu, vì thế, nếu bộ chứng từ mà nhà
xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng là hợp lệ thì ngân hàng hoàn toàn có quyền thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu, trong khi có thể đến khi nhà nhập khẩu nhận hàng thì chất
lượng hàng hóa lại không như thỏa thuận, nhưng lúc đó thì nhà nhập khẩu không thể đòi
tiền lại được nữa, mà phải chấp nhận thanh toán cho ngân hàng.
2.1.3.3.

Rủi ro đối với ngân hàng:

Ngân hàng bị ràng buộc vào cam kết thanh toán cho người hưởng lợi nếu bộ chứng từ
phù hợp được xuất trình. Do đó, nếu hàng hóa không đảm bảo chất lượng yêu cầu, khiến
cho nhà nhập khẩu không thực hiện được việc kinh doanh của mình để có tài chính đảm
bảo thanh toán cho ngân hàng, thì ngân hàng cũng phải chịu rủi ro khi cấp tín dụng cho
nhà nhập khẩu để thanh toán cho bên xuất khẩu.
Ngân hàng thương lượng khi đã chiết khấu, ứng trước bộ chứng từ có sai sót hoặc
không bảo lưu quyền đòi truy đòi nhà xuất khẩu thì có thể nhận lấy rủi ro không được
thanh toán của ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng bồi hoàn.
Rủi ro đến từ khả năng áp dụng quy chế và năng lực cán bộ trong quá trình thẩm định
việc cho vay xuất - nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện các phương thức

16


thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, thanh toán theo L/C, chiết khấu hối phiếu và chứng từ,
đó là các vấn đề như thẩm định phương án vay vốn, phân tích năng lực tài chính, khả
năng hoàn trả, hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng, khả năng phân tích các thông tin rủi
ro từ phía đối tác của khách hàng, của ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro có thể xuất hiện trong khâu phối hợp giữa thực hiện nghiệp vụ TTQT của cán
bộ đối với những dịch vụ thanh toán cung ứng tín dụng. Đó là các vấn đề về điều kiện
thanh toán, sửa đổi L/C, ký hậu và bảo lãnh vận đơn nhận hàng…
Rủi ro cũng đến từ việc thiếu trung thực của ngân hàng chiết khấu khi bộ hồ sơ không
hoàn hảo vẫn gửi điện cam kết hồ sơ chuẩn đòi tiền ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng
phát hành tin tưởng và thanh toán cho ngân hàng chiết khấu thì sẽ gặp rủi ro, và việc đòi
lại tiền sẽ rất khó khăn.
*Rủi ro trong quá trình hoạt động tác nghiệp:
Đây là những rủi ro thường gặp nhất đối với các ngân hàng, là những sai sót kỹ thuật
của chính các bên tham gia, thể hiện trong việc lập các hồ sơ, chứng từ không hoàn hảo.
Nguyên nhân xảy ra chủ yếu là do trình độ chuyên môn của các bên tham gia còn yếu
kém, chưa nắm bắt được yêu cầu của quá trình thanh toán, dẫn đến sai sót trong quá trình
giao dịch từ lúc soạn thảo và ký kết hợp đồng cho đến khâu lập chứng từ và thanh toán.
Cụ thể các bên gặp rủi ro như sau:
+ Ngân hàng chuyển tiền: Do nhận chuyển tiền cho những hợp đồng thanh toán vi
phạm chế độ quản lý hạn ngạch nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại hối, những hợp đồng
thanh toán ma được lập để lợi dụng hoạt động phi pháp…
+ Ngân hàng uỷ nhiệm và nhận nhờ thu: Do giao bộ chứng từ nhận hàng cho
khách hàng trước khi nhận được thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu, nhận và
gửi chỉ thị thanh toán không rõ ràng.
+ Các ngân hàng có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ:
• Ngân hàng phát hành bao gồm các rủi ro về mặt phát hành và về kiểm tra chứng từ: Phát
hành thư không đúng theo các điều kiện của đơn xin mở L/C, hoặc có những điều khoản

bất lợi, dẫn đến các rủi ro: Không những phải chịu chi phí sửa đổi, đôi khi những điều
17


này lại có lợi cho người bán nên họ sẽ không chấp nhận sửa đổi nếu họ không có thiện
chí vì vậy có thể dẫn đến rủi ro cho người mở kéo theo rủi ro cho ngân hàng.
Kiểm tra chứng từ không phát hiện được sai sót mà thực hiện thanh toán sẽ gặp
khả năng rủi ro không được hoàn lại tiền từ nhà nhập khẩu.
• Ngân hàng xác nhận : Bằng việc gắn thêm các cam kết thanh toán theo thư tín dụng khi
ngân hàng phát hành không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán cho ngân
hàng. Vì vậy nó có rủi ro do:
+ Rủi ro thương mại của ngân hàng phát hành, họ không có khả năng thanh toán.
+ Rủi ro do kiểm tra bộ chứng từ: Nếu ngân hàng xác nhận thanh toán không đúng
cho người hưởng khi bộ chứng từ có sai sót thì ngân hàng phát hành có quyền từ chối
hoàn tiền cho ngân hàng xác nhận.
• Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo L/C sẽ không có bất cứ một cam kết nào khi
thông báo thư tín dụng nhưng việc xác thực một thư tín dụng hay sửa đổi thư tín dụng
qua các khóa mật hoặc kiểm tra cẩn thận vể tính chân thật của nó sẽ có những rủi ro do
đã thông báo L/C giả mạo không xác thực mà không lưu ý cho người được thông báo.
• Ngân hàng chiết khấu, thương lượng: Ngân hàng này bao gồm các rủi ro của ngân hàng
phát hành, ngân hàng hoàn trả tiền của người hưởng và rủi ro kiểm tra chứng từ. Nếu
ngân hàng thương lượng không kiểm tra chứng từ giao hàng của nhà xuất khẩu một cách
cẩn thận, thích đáng thì những sai sót của bộ chứng từ đã được thương lượng sẽ bị ngân
hàng phát hành từ chối một cách hợp pháp.
2.1.4. Quản trị rủi ro trong TTQT:
Dựa theo định nghĩa quản trị rủi ro ở trên, thì quản trị rủi ro trong TTQT nghĩa là có
hệ thống nhận diện và tiếp cận rủi ro trong TTQT một cách toàn diện từ rủi to về tỷ giá,
đến rủi ro trong quá trình tác nghiệp, đến rủi ro về môi trường pháp lý…để có biện pháp
phòng ngừa, né tránh rủi ro.
Quản trị rủi ro trong TTQT bao gồm những nội dung sau:

-

Nhận dạng – phân tích – đo lường rủi ro.
Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro.
Tài trợ rủi ro khi nó đã xuất hiện.
Tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội.
18


2.1.4.1.

Nhận dạng – Phân tích – Đo lường rủi ro:

Nhận dạng rủi ro: bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường
và toàn bộ hoạt động TTQT nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro
đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro có thể xuất hiện.
Một số phương pháp để nhận dạng rủi ro:
-

Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra. Các câu hỏi thường
xoay quanh các vấn đề như: tổ chức đã gặp hải những rủi ro nào trong quá trình
thực hiện TTQT? Tổn thất như thế nào? Tần suất xuất hiện rủi ro đó? Có biện
pháp phòng ngừa chưa? Kết quả ra sao? Những ý kiến, đánh giá của nhân viên tác

-

nghiệp…
Phân tích quy trình thực hiện TTQT: thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực
hiện quy trình? Mức độ phức tạp của quy trình? Phân tích các báo cáo về những


-

rủi ro đã xuất hiện trước đó khi thực hiện quy trình?
Phân tích các hợp đồng TTQT: từ phần mở đầu, giới thiệu các chủ thể, nội dung
của các điều kiện, điều khoản của hợp đồng và phần ký kết hợp đồng. Vì số lượng
hợp đồng là rất lớn nên chỉ cần chọn ra những hợp đòng tiêu biểu, đặc thù, có giá
trị lớn. Đặc biệt là phần phân tích chủ thể của hợp đồng, vì đó thường là nơi phát
sinh rủi ro nhiều nhất nếu không thẩm định kỹ trước khi ký kết.

Phân tích rủi ro: là để xác định ra nguyên nhân gây ra rủi ro đó. Đây là một công
việc phức tạp bởi lẻ một rủi ro đâu chỉ do một nguyên nhân gây ra, mà còn có nguyên
nhân trực tiếp – gián tiếp…
Đo lường rủi ro: một tổ chức không thể nào cùng lúc ngăn ngừa, kiểm soát được tất
cả mọi rủi ro, do đó, cần đo lường rủi ro để phân loại rủi ro, biết được đối với tổ chức nào
thì rủi ro nào xuất hiện nhiều, rủi ro nào gây hậu quả nghiêm trọng hơn…từ đó có những
biện pháp quản trị rủi ro thích hợp: chủ động và ưu tiên giải quyết những rủi ro có hậu
quả nghiêm trọng.

19


2.1.4.2.

Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro:

Né tránh rủi ro: tìm hiểu kỹ các đối tác trước khi ký hợp đồng (tình hình tài chính,
tình hình kinh doanh, lịch sử các công ty từng giao dịch…), tìm hiểu các ngân hàng sẽ có
mối liên quan trong quy trình TTQT,…
Ngăn ngừa tổn thất: lựa chọn ngân hàng xác nhận có uy tín, lựa chọn đường đi an
toàn cho hàng hóa (tránh những vùng có chiến tranh, thiên tai..), theo dõi thường xuyên

chính sách quản lý xuất nhập khẩu của các nước liên quan…
Giảm thiểu tổn thất: khi hàng hóa xảy ra thiệt hại, thì cố gắng cứu vớt những tài sản
còn sử dụng được; chuyển nợ (những công ty bảo hiểm khi bồi thường thiệt hại cho
người được bảo hiểm thì công ty sẽ có cơ hội lấy lại tiền bồi thường từ bên thứ ba như
người bán, người chuyên chở …); lập dự phòng cho những rủi ro…
2.1.4.3.

Tài trợ rủi ro:

Có hai nhóm phương pháp để tài trợ rủi ro: tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro.
-

Tự khắc phục rủi ro là phương pháp mà người chịu rủi ro tự mình thanh toán các
tổn thất. Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự cố của tổ chức đó, cộng với nguồn đi vay

-

và có trách nhiệm hoàn trả.
Chuyển giao rủi ro: đối với người mua bảo hiểm thì cần khiếu nại để đòi bồi
thường. Đối với ngân hàng thì có thể chiết khấu bộ chứng từ với ngân hàng khác
trước khi những rủi ro có thể xảy ra.
2.1.4.4.

Chuyển rủi ro thành cơ hội:

Tùy vào đặc điểm của từng loại rủi ro mà có thể biến rủi ro thành cơ hội. Chẳng hạn
như: trong phương thức Thanh toán giao chứng từ nhận tiền (CAD) nếu nhà xuất khẩu
biết cách thương lượng được ngân hàng có uy tín, bộ chứng từ dễ dàng lấy được thì việc
dùng CAD là có lợi cho nhà xuất khẩu, vì nhà nhập khẩu đã có tài khoản ký quỹ cho hợp
đồng đó tại ngân hàng. Còn nếu nhà xuất khẩu không xem xét kỹ, bị yêu cầu bộ chứng từ

phải có chữ ký của người đại diện nhập khẩu hoặc của một văn phòng đại diện nào đó thì
sẽ rất khó khăn trong khâu có được đầy đủ giấy tờ để nhận thanh toán.

20


2.2.

Các yếu tố tác động đến rủi ro trong TTQT:

2.2.1. Các yếu tố khách quan:
2.2.1.1.

Tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là một vấn đề không thể thiếu trong TTQT, bởi đã nói đến yếu tố quốc
tế thì việc phải quy đổi đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác để giao
dịch là điều tất yếu. Trong khi đó, tỷ giá lại thay đổi thất thường và khó có thể dự báo
chính xác được nên tỷ giá biến động mang lại rất nhiều rủi ro.
+ Đối với nhà xuất khẩu, tỷ giá biến động sẽ phá vỡ kế hoạch tính toán của nhà
xuất khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng (tỷ giá hối
đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng ngoại tệ sẽ được ít
đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho kinh doanh xuất khẩu có
thể bị thua lỗ. Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài
trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục vụ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.
+ Đối với nhà nhập khẩu, việc lựa chọn đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính
toán trong một thương vụ khác nhau cũng gây nên rủi ro cho nhà nhập khẩu khi có biến
động tỷ giá. Ngược lại với xuất khẩu, khi tỷ giá hối đoái biến động tăng (giá cả đồng nội
tệ so với đồng ngoại tệ giảm) sẽ bất lợi cho nhà nhập khẩu vì họ mua ngoại tệ thanh toán
cho hàng hóa nhập khẩu với giá cao nhưng giá cả tiêu thụ hoặc nguyên vật liệu còn phụ

thuộc cung cầu thị trường không thể bù đắp nổi với biến động thay đổi tỷ giá. Những
khoản tín dụng bằng ngoại tệ do ngân hàng cung cấp sẽ đến hạn trong tương lai càng trở
nên lớn hơn do cộng thêm tỷ lệ tỷ giá hối đoái tăng.
+ Đối với các ngân hàng thương mại: Trong quá trình thực hiện thanh toán cho
khách hàng, vấn đề quản lý nguồn ngoại tệ và hoạt động kinh doanh ngoại tệ để đảm bảo
nhu cầu thanh toán trên cơ sở cân đối tài sản có bằng ngoại tệ là vô cùng quan trọng,
nhằm tránh những rủi ro do biến động tỷ giá gây nên. Chẳng hạn khi trạng thái ngoại tệ
của một ngân hàng là dư thừa, nếu tỷ giá biến động tăng liên tục thì đối với các nước có
hệ thống ngân hàng hoạt động trên thị trường ngoại tệ không hiệu quả, hoặc khả năng dự
trữ của ngân hàng trung ương yếu có thể làm cho ngân hàng đó luôn đứng trước nguy cơ

21


khan hiếm nguồn ngoại tệ, ngược lại nếu tỷ giá giảm liên tục thì ngân hàng đó cũng luôn
đứng trước nguy cơ lỗ về tỷ giá.
2.2.1.2.

Pháp lý:

Trong trường hợp hai bên gặp phải tranh chấp dẫn đến kiện tụng thì lúc này rủi ro sẽ
xảy ra. Bởi lẽ, lúc này tòa án nước nào sẽ thụ lý vụ án và sẽ xử lý vụ án theo cở sở pháp
luật của nước nào. Mặc dù điều này đã được quy định trước trong hợp đồng thương mại
nhưng vẫn không thể thỏa mãn được cả hai bên, khi mà không nước nào có thể hiểu rõ
luật pháp của nước khác, bất kỳ điểm nào không hiểu rõ cũng có thể dẫn đến nguy cơ bị
thua kiện, khi đó ngân hàng cũng không thể tránh khỏi việc bị ảnh hưởng.
2.2.1.3.

Tình hình kinh tế, chính trị:


Sự thay đổi về chính trị, kinh tế cũng là những yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động
TTQT, hoạt động Quản trị rủi ro trong TTQT. Những yếu tố này khiến cho nhà xuất khẩu
không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa. Biểu hiện của
những yếu tố này đó là:
-

Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước.

-

Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính – tiền
tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán.

-

Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản do
những món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hai nước có
quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định thương mại bị hủy
bỏ giữa chừng.
2.2.1.4.

Chính sách của một quốc gia:

Chính sách kinh tế đối ngoại: Chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia liên
quan đến việc mở cửa nền kinh tế, luân chuyển các nguồn lực như vốn, lao động, khoa
học kỹ thuật…Chính sách này liên quan đến chính sách thương mại và chính sách đối với
tài khoản vốn. Do đó, nó sẽ có tác động tích cực và tiêu cực đến tình hình thương mại
quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng.

22



Chính sách quản lý ngoại hối: Ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện
có giá trị được dùng để cất trữ hoặc thanh toán giữa các quốc gia như: ngoại tệ, các
phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ (hối phiếu, lệnh phiếu, séc v.v...), các
chứng khoán ghi bằng ngoại tệ (cổ phiếu, trái phiếu do nước ngoài phát hành), vàng, bạc,
kim cương, đá quý...
Mục đích của chính sách quản lý ngoại hối là nhằm kiểm soát chặt chẽ việc chuyển
ngoại hối ra bên ngoài nước, thu hút nhiều ngoại hối vào trong nước, quản lý nghiêm
ngặt các loại ngoại hối dự trữ như vàng, các ngoại tệ mạnh.
Tuỳ từng quốc gia mà cơ chế quản lý ngoại hối thay đổi khác nhau. Những nước có
nguồn ngoại hối dồi dào như Mỹ, Nhật, Anh, Đức... thực hiện chính sách tự do ngoại hối,
cho phép các luồng ngoại hối được tự do vào ra quốc gia với số lượng không hạn chế.
Trong khi hầu hết các nước đang phát triển do dự trữ ngoại hối có hạn nên phải áp dụng
chính sách quản chế ngoại hối nghiêm ngặt để đảm bảo nguồn cung ngoại hối cho nhu
cầu của đất nước.
Chính vì thế, chính sách quản lý ngoại hối của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động TTQT và quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT.
Thuế và chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu: Các chính sách thuế của
Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế của các
doanh nghiệp. Thông qua việc áp dụng mức thuế cao hay thấp đối với mặt hàng xuất
nhập khẩu sẽ hạn chế hay khuyến khích xuất nhập khẩu mặt hàng đó. Do đó, chính sách
thuế sẽ tác động đến hoạt động TTQT của Ngân hàng thương mại.
2.2.1.5.

Khách hàng:

Một trong những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của NHTM đó
chính là khách hàng, người đóng vai trò quan trọng trong mỗi giao dịch TTQT. Khách
hàng sẽ tác động đến hoạt động TTQT của NHTM thông qua số lượng, khối lượng ngoại

tệ trong mỗi hợp đồng TTQT; sự chuẩn bị những giấy tờ trong bộ chứng từ TTQT (về số
lượng, về tính hợp lệ của bộ chứng từ,…); về thời hạn giao nhận hàng hóa… Vì vậy,
23


khách hàng cũng là một yếu tố tác động đến quản trị rủi ro trong TTQT nói riêng và
TTQT nói chung của NHTM.
2.2.2. Yếu tố chủ quan:
2.2.2.1.

Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng:

TTQT là một hoạt động đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao, bởi lẽ một giao dịch
TTQT nào cũng liên quan đến rất nhiều bên, ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, đặc biệt
là cán bộ ngân hàng – người liên quan đến vấn đề thanh toán cho các bên. Vì thế, nếu
trình độ nghiệp vụ của nhân viên còn yếu kém, rất dễ xảy ra các sai sót trong quá trình tác
nghiệp như điều tra khách hàng không cẩn thận, kiểm tra bộ chứng từ không cẩn thận,
thiếu kinh nghiệm trong việc nhận biết các sai sót, lừa đảo; thiếu kinh nghiệm trong đàm
phán, giao dịch với khách hàng, có thể dẫn đến nhiều rủi ro không sửa chữa được.
2.2.2.2.

Mạng lưới TTQT:

Hệ thống các ngân hàng đại lý có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giao
dịch, thanh toán của NHTM trong nước và nước ngoài. Một NHTM có hệ thống đại lý
rộng lớn, độ bao phủ rộng và uy tín thì sẽ dễ dàng nhận được sự lựa chọn của khách hàng
khi tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí khi giao dịch qua nhiều ngân hàng trung
gian, đồng thời giảm thiểu tối đa rủi ro khi thực hiện TTQT.
2.2.2.3.


Tổ chức, quản lý hoạt động TTQT của ngân hàng:

Mỗi NHTM sẽ có những quy định, chính sách để tổ chức thực hiện và quản lý hoạt
động TTQT. Những quy định, chính sách đó sẽ nói về quy trình thực hiện theo các
phương thức TTQT, cách thức kiểm tra tư cách khách hàng, cách thức kiểm tra bộ chứng
từ, thế nào là bộ chứng từ hợp lệ - bất hợp lệ, các quy định liên quan đến TTQT (cấm
vận, rửa tiền, lừa đảo, thay đổi chỉ thị thanh toán…). Tùy theo mức độ hợp lý và chặt chẽ
của các quy định, chính sách sẽ hạn chế hoặc gia tăng rủi ro cho hoạt động TTQT của
ngân hàng.
2.2.2.4.

Uy tín của ngân hàng:

Uy tín của ngân hàng cũng là một yếu tố tác động đến hoạt động TTQT. Một NHTM
có uy tín hơn thì sẽ nhận được nhiều giao dịch TTQT hơn, giá trị lớn hơn. Đồng thời, với
24


uy tín của ngân hàng thì mức độ xảy ra những rủi ro trong TTQT cũng giảm hơn so với
những ngân hàng nhỏ lẻ. Do đó, trong mạng lưới TTQT, mỗi ngân hàng cần phải biết lựa
chọn những ngân hàng đại lý có uy tín trên thế giới, để hạn chế rủi ro cho hoạt động
TTQT cho khách hàng cũng như cho ngân hàng của mình.
2.2.2.5.

Khoa học công nghệ:

Ngày nay, khi khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển và trở thành công cụ hỗ
trợ tốt nhất cho con người, nhất là những người thường xuyên hoạt động trong môi
trường quốc tế. Hoạt động TTQT cũng vậy, với những chương trình, phần mềm hỗ trợ
cho việc liên lạc, kiểm tra và lưu trữ thông tin, chuyển tiền trên thế giới, đã góp phần thúc

đẩy hoạt động TTQT ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát
triển của công nghệ hiện đại, luôn đi kèm với những rủi ro do sai lệch thông tin vì khoảng
cách địa lý, rò rỉ thông tin, bị tin tặc xâm phạm…Do đó, các NHTM cũng cần phải có
chính sách quản trị rủi ro về mặt khoa học công nghệ trong hoạt động TTQT.
2.3.

Cơ sở pháp lý của hoạt động TTQT:

Hoạt động TTQT được thực hiện trên cơ sở những luật và bộ quy tắc quy định về các
giấy tờ liên quan trong TTQT, các quy trình, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham
gia trong TTQT…Đó là: Luật về các công cụ chuyển nhượng; Luật thống nhất về hối
phiếu và kỳ phiếu 1930 (ULB 1930); Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC 522); Tập
quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng phát hành số
681 (ISBP 681 – 2007 ICC); Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
(UCP 600 – 2006 ICC).
2.3.1. Luật về các công cụ chuyển nhượng (Luật CCCCN):
Luật về các công cụ chuyển nhượng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29/11/2005. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
Luật này gồm có 6 chương với 83 điều với các nội dung cơ bản sau:
Về phạm vi điều chỉnh: Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng
trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán,
truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này bao gồm: Hối phiếu
25


×