Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ VĨNH PHÚC, HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (533.15 KB, 73 trang )

TRƯỜNGĐẠI
ĐẠIHỌC
HỌCTÀI
TÀINGUYÊN
NGUYÊNVÀ
VÀMÔI
MÔITRƯỜNG
TRƯỜNGHÀ
HÀNỘI
NỘI
TRƯỜNG
KHOA
KHOAMÔI
MÔITRƯỜNG
TRƯỜNG

NGUYỄNSƠN
SƠNLONG
LONG
NGUYỄN

ĐỒÁN
ÁNTỐT
TỐTNGHIỆP
NGHIỆP
ĐỒ
XÂYDỰNG
DỰNGHƯƠNG
HƯƠNGƯỚC,
ƯỚC,QUY
QUYƯỚC


ƯỚCBẢO
BẢOVỆ
VỆMÔI
MÔI
XÂY
TRƯỜNGVỚI
VỚISỰ
SỰTHAM
THAMGIA
GIACỦA
CỦACỘNG
CỘNGĐỒNG
ĐỒNGTẠI
TẠI
TRƯỜNG
XÃVĨNH
VĨNHPHÚC,
PHÚC,HUYỆN
HUYỆNBẮC
BẮCQUANG,
QUANG,

TỈNHHÀ
HÀGIANG
GIANG
TỈNH

Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành: D850101


GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN


Kính gửi: Phòng Đào tạo-Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Khoa môi trường
Hội đồng chấm đồ án tốt nghiệp
Tên em là: Nguyễn Sơn Long- Sinh viên chuyên nghành quản lý tài nguyên và
môi trường, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm đồ án một cách khoa học và
chính xác, trung thực
Các kết quả, số liệu nêu trong đồ án đều có thật, thu được trong quá trình
nghiên cứu và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào.

Hà Giang, ngày 14 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Sơn Long

LỜI CẢM ƠN


Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được làm đồ án tốt nghiệp,
xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa môi trường đã chỉ dạy

cho em nhiều kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường.
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS.
Nguyễn Thị Hồng Hạnh, người luôn động viên, hướng dẫn nhiệt tình chỉ bảo cho
em, sự hướng dẫn của cô đã giúp em hoàn thành tốt đồ án của mình.
Em xin cảm ơn các cán bộ làm việc tại UBND xã Vĩnh Phúc và người dân xã
Vĩnh Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu tại địa phương.
Hà Giang, ngày 30 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Sơn Long

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT


CT: Chỉ thị
TT: Thông tư
CP: Chính phủ
NQ: Nghị quyết
NĐ: Nghị định
TW: Trung ương
BCH: Ban chấp hành
TTLT: Thông tư liên tịch
UBND: Ủy ban nhân dân
BVTV: Bảo vệ thực vật

MỤC LỤC

1.2.2 Các nguồn tài nguyên.............................................................................18



TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................45

Xin cảm ơn sự hợp tác của Ông/Bà!..............................................................52
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Chất lượng nước dùng cho sinh hoạt
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng nguồn nước
Bảng 3: Chất lượng nước sinh hoạt
Bảng 4: Các nguồn phát sinh nước thải
Bảng 5: Tỷ lệ Hộ gia đình thải nước thải sinh hoạt
Bảng 6: Hiện trạng sử dụng các kiểu nhà vệ sinh
Bảng 7 Mục đích sử dụng đất tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 8: Hiện trạng chất lượng đất tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 9: Hiện trạng chất lượng môi trường không khí tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 10: Chất lượng không khí tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 11: Thải lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị và nông thôn trên địa bàn
huyện Bắc Quang
Bảng 12: Nguồn tiếp nhận thông tin về của hộ dân


DANH MỤC HÌNH
Hình 1 : Bản đồ hành chính xã Vĩnh Phúc

Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ chất lượng nước sinh hoạt của người dân
Hình 4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn phát sinh nước thải
Hình 5: Biểu đồ tỷ lệ các nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt
Hình 6: Biểu đồ các kiểu nhà vệ sinh được người dân sử dụng
Hình 7: Biểu đồ mục đích sử dụng đất tại xã Vĩnh Phúc
Hình 8: Biểu đồ hiện trạng chất lượng đất tại xã Vĩnh Phúc
Hình 9: Biểu đồ chất lượng không khí tại xã Vĩnh Phúc

Hình 10: Biểu đồ nguồn tiếp nhận thông tin về môi trường của hộ dân



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa được chú trọng đầu tư xây dựng, hoạt động kinh tế sản xuất của người dân
ngày càng phát triển với việc sử dụng một lượng lớn nguồn tài nguyên thiên nhiên
cũng như sự tác động mạnh mẽ đến môi trường sống của con người đã đặt ra nhiệm
vụ cấp bách hàng đầu đối với nước ta đó là đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
theo đó vấn đề môi trường phải đặc biệt được quan tâm, chú trọng hàng đầu. Có thể
nói, sự ra đời và có hiệu lực thi hành của Luật bảo vệ môi trường 2014 đã góp phần
khắc phục những bất cập còn tồn tại trên thực tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi
trường đồng thời đáp ứng yêu cầu đối với công tác bảo vệ môi trường trong giai
đoạn hiện nay, qua đó nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, sự đa dạng sinh
học….được duy trì, tồn tại song hành cùng với sự phát triển của nền kinh tế.Thêm
vào đó, ngày 4/6/2010 vừa qua, Thủ tướng Chính Phủ đã ra Quyết định về việc phê
duyệt Chương tình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020 theo đó Chương trình về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được
coi là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn
mới, đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước sạch nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt, sản
xuất của người dân đồng thời chất lượng môi trường luôn được cải thiện, bảo vệ
nhằm ổn định, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân .
Với những chính sách pháp luật điển hình nêu trên cho thấy mục tiêu quan
trọng, trước mắt đặt ra cho mỗi chúng ta những như ở các địa phương là phải tăng
cường và đẩy mạnh quyết liệt hơn nữa công tác bảo vệ môi trường, nhằm cải thiện
và bảo vệ môi trường sống cũng như chất lượng cuộc sống của con người, đồng thời
góp phần duy trì và bảo tồn sự đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên
thiết yếu phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước trong các giai đoạn tiếp
theo, đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhiệm vụ nói trên không đặt ra với cá nhân,

tổ chức cụ thể nào mà đó là nhiệm vụ đối tới toàn xã hội, theo đó ở tất cả các địa
phương phải đồng loạt triển khai các chính sách, các chương trình nhằm phổ biến

1


và cụ thể hóa các quy định, chính sách pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường
nhằm thực thi công tác này có hiệu quả, trong đó người viết cho rằng việc xây dựng
hương ước bảo vệ môi trường là rất cần thiết, đây được coi là công cụ hữu hiệu, phổ
biến nhất nhằm cụ thể hóa cũng như truyền tải các quy định của pháp luật về môi
trường đến người dân, thông qua đó đảm bảo công tác bảo vệ môi trường được thực
hiện có hiệu quả tại các địa phương.
Thực tế hiện nay, xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang là một
trong những xã đang triển khai thực hiện chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới, do đó
một trong những chỉ tiêu quan trong cần phải đạt được đó là chỉ tiêu về cấp nước
sạch và đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn xã, vì vậy với việc xây dựng
hương ước về bảo vệ môi trường sẽ góp phần thực hiện công tác này được hiểu quả
và triệt để hơn, các nội dung của bản hương ước sẽ tập trung vào việc quy định rất
cụ thể về việc bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường nước, đất, không khí, chất
thải….tại khu vực xã Vĩnh Phúc trên cơ sở các quy định của pháp luật môi trường,
qua đó đảm bảo đáp ứng chỉ tiêu về cấp nước sạch, và vệ sinh môi trường trong
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Từ những lí do nêu trên, em lựa chọn đề tài: “Xây dựng hương ước, quy ước
bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại xã Vĩnh phúc, Huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được Bản hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia
của cộng đồng nhằm thực hiện công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường từ cấp trung
ương đến cấp địa phương tại xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
3. Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng môi trường xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang.
- Xây dựng Bản hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của
cộng đồng.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2


1.1Tổng quan các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở pháp lý xây dựng hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia
của cộng đồng
1) Luật bảo vệ môi trường 2014 số: 55/2014/QH13 [5]
2) Nghị quyết 41/ NQ-TW Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41- NQ/TW
ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
- Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ
môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Thực hiện Luật Bảo vệ
môi trường, Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những
chuyển biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng
và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi
trường. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân
đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã
từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh
học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt cho

công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
- Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có
lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng;
khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài
nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có
quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi
trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát
triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi
mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một
số vùng nông thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến
xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi
trường, đặt công tác bảo vệ môi trường trước những thách thức gay gắt.
3


Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do chưa có nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận
thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng
người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển
kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế
mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi
trường của nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế;
công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém, phân công, phân
cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm[2].
2) Chỉ thị số 29/ CT-TW Chỉ thị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết
41/ NQ-TW của Bộ chính trị
- Tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW
của Bộ Chính trị; xác định rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân,

nhất là nguyên nhân chủ quan, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; đề ra các
giải pháp cụ thể để thực hiện tốt các nhiệm vụ trong Nghị quyết 41 và Chỉ
thị này; đưa nội dung kiểm điểm công tác bảo vệ môi trường vào báo cáo
tổng kết, đánh giá định kỳ của cơ quan, đơn vị.
- Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân
về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò của các cơ quan
thông tin đại chúng trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường; đa dạng hóa nội
dung, hình thức tuyên truyền, làm cho nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt
cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đối với sức khỏe
con người, đời sống xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước; những bài
học và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
của các nước trong khu vực và trên thế giới; công bố công khai những tổ
chức, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và hình thức xử lý.
Đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ
thống giáo dục quốc dân. Coi trọng việc phát động phong trào bảo vệ môi

4


trường trong các tầng lớp nhân dân. Xây dựng tiêu chí về môi trường vào
đánh giá hoạt động của từng doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, gia đình, làng,
bản, khu phố, tập thể, cá nhân, đảng viên, đoàn viên, hội viên. Phát hiện, nhân
rộng và tuyên truyền các mô hình, điển hành tiên tiến về bảo vệ môi trường.
Duy trì và phát triển giải thưởng môi trường hàng năm.
- Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách
khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Xây

dựng và phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường. Tăng cường
sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại
chúng đối với bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Phát
triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ
khác bảo vệ môi trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Hình
thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, chứng nhận về bảo vệ
môi trường; thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường đủ mạnh để giải
quyết các vấn đề môi trường lớn, phức tạp của đất nước[3].
3) Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTTBTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông
tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối
hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư[4].
1.1.2. Nội dung và hình thức thể hiện của hương ước
Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực
hiện hương ước ở cơ sở, theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTPBVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá
Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
phối hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng,
bản, thôn, ấp, cụm dân cư như sau:
a. Nội dung của hương ước

5


Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử
sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan
hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những
phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước
bằng pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ

dân trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào
cuộc sống của cộng đồng dân cư, nội dung của hương ước tập trung vào một
số vấn đề cụ thể sau đây:
- Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham
gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ
của nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và
nghĩa vụ công dân;
- Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống
văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xoá bỏ hủ tục, phát triển các
hoạt động văn hoá lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm,
đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân
cư; thực hiện tốt các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước;
- Đề ra biện pháp góp phần bảo vệ tài sản nhà nước tài sản công cộng và
tài sản công dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ rừng, biển, sông, hồ, danh
lam thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước,
kênh mương, kè cống, đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng,
ngõ xóm, trồng cây xanh;
- Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục, tệ
nạn xã hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang; lễ hội, thờ phụng
ở địa phương; khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn
uống lãng phí, tốn kém;
- Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, xây dựng
làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư văn hoá, hình thành các quy tắc đạo đức mới

6


trong gia đình và cộng đồng; khuyến khích mọi người đùm bọc, giúp đỡ nhau
khi gặp khó khăn, hoạn nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân
số - kế hoạch hoá gia đình, xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn

hoá;
- Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận
động các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xoá
đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến
nghề ở địa phương; vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp
tác, hợp tác xã nhằm phát triển sản xuất. Khuyến khích phát triển các làng
nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng:
điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công trình văn hoá thể thao
trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp
khả năng đóng góp của nhân dân;
- Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn, góp phần
phòng chống tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại
dâm và các hành vị khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong
sạch. Phát động trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật về tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp
đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư. Đề ra các biện pháp cần thiết
hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật trên địa bàn;
bảo đảm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức tự quản ở
cơ sở như tổ chức, hoạt động của Tổ hoà giải, Ban an ninh, Tổ bảo vệ sản
xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
- Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương
ước:
Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá
nhân, hộ gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước
như: lập sổ vàng truyền thống nêu người tốt, việc tốt, ghi nhận công lao,
thành tích của tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hoá, và các
hình thức khen thưởng khác do cộng đồng tự thoả thuận hoặc đề nghị các cấp
chính quyền khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

7



Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước thì
chủ yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng
đồng, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường
hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo
luận thống nhất tập thể cộng đồng, có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách
nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng
không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề xâm phạm đến tính mạng,
sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác
của công dân. Trong hương ước không đặt ra các khoản phí, lệ phí.
Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những
người có hành vi vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã
phường, thị trấn; giáo dục, cảm hoá, giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở
thành những người lương thiện, có ích cho xã hội.
Những hành vi vi phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền xử
lý theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm
hương ước không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
b. Hình thức thể hiện của hương ước
- Về tên gọi: có thể dùng tên gọi chung là Hương ước hoặc Quy ước
(làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư).
- Về cơ cấu và nội dung: Hương ước có thể có lời nói đầu ghi nhận truyền
thống văn hoá của từng làng bản, thôn, ấp, cụm dân cư và mục đích của việc xây
dựng hương ước.
Nội dung của hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản,
điểm. Các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ
của các thành viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy
định ngay tại các điều, khoản cụ thể.
Các quy định của hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ
nhớ, dễ thực hiện.


8


Tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu tự quản của từng địa bàn mà hương ước
có thể quy định bao quát toàn bộ hoặc một số điểm thuộc các nội dung được
hướng dẫn tại điểm 1 Phần a nói trên.
1.1.3. Quy trình xây dựng và triển khai hương ước, quy ước BVMT
Cũng giống như các hương ước khác, hương ước bảo vệ môi trường (gọi
tắt là hương ước môi trường) do chính người dân là “tác giả”, đồng thời là
người thực hiện và giám sát nhau thực hiện. Trước hết, họ phát hiện và xác
định các vấn đề môi trường tại địa phương mình (có sự đóng góp của các cán
bộ chuyên môn), đưa ra phương hướng giải quyết và văn bản hóa các yêu cầu
đối với mỗi người dân của cộng đồng trong công tác vệ sinh và bảo vệ môi
trường.
Những người soạn thảo hương ước tại địa phương là người hiểu hơn ai
hết vấn đề của chính quê hương mình, điều kiện xã hội cụ thể của làng xã
cũng như khả năng thực hiện, một bản hương ước được xây dựng nên có tính
hiện thực rất cao, rất sát với địa phương, phù hợp với các đặc thù về cơ sở vật
chất, nếp sống văn hoá, phong tục tập quán của địa phương mình.
Trước khi trở thành một văn bản chính thức, bản dự thảo sẽ được gửi đến
từng gia đình góp ý rồi cũng nhau tổng hợp lại, bàn bạc, chỉnh sửa và thông
qua. Bản hương ước đã được đồng thuận có sự cam kết bằng chữ ký của các
thành viên của cộng đồng (đơn vị thường là gia đình) và các tổ chức xã hội
(chi bộ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội cựu chiến binh, các
trường học ở địa phương) có giá trị như các “lệ làng” thời hiện đại.
Để có sự ràng buộc về mặt pháp lý, các bản hương ước có sự xác nhận
của Chính quyền địa phương (UBND xã, huyện…). Hương ước chỉ bổ sung
hoặc thay đổi trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi, bổ sung hoặc
chính địa phương cần có những thay đổi bổ sung cho phù hợp với cách sống,

phong tục của mình.
1.1.3.1. Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và
sửa đổi, bổ sung hương ước

9


a. Hương ước phải được xây dựng một cách thực sự dân chủ, công
khai, phù hợp với các quy định của pháp luật, được chia theo các bước cơ
bản như sau:
Bước 1. Thành lập Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước:
Trưởng thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư (sau đây gọi chung là Trưởng
thôn) chủ trì cùng Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thống nhất các
nội dung cơ bản cần soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn
thảo. Thành viên Nhóm soạn thảo là những người có uy tín và kinh nghiệm
sống, có trình độ văn hoá, hiểu biết về pháp luật và phong tục tập quán ở địa
phương, có phẩm chất đạo đức tốt. Nhóm soạn thảo cần có sự tham gia của
đại diện một số cơ quan, tổ chức và đại diện của các thành phần trong cộng
đồng dân cư như: cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các chức sắc tôn giáo, già
làng, trưởng bản, trưởng tộc và những người khác có uy tín, trình độ trong
cộng đồng.
Trưởng thôn chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt trận, dưới sự lãnh
đạo của chi bộ Đảng ở cơ sở chỉ đạo Nhóm soạn thảo xây dựng hương ước.
Việc dự thảo hương ước cần tập trung vào các vấn đề được nêu tại điểm
1 Phần a ở trên. Đồng thời, cần tham khảo nội dung các hương ước cũ (nếu
có) cũng như nội dung của các hương ước của địa phương khác để lựa chọn,
kế thừa được những nội dung tích cực, phù hợp đã trở thành phong tục, tập
quán tốt đẹp. Ở những nơi phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số
được thể hiện bằng Luật tục thì chọn lọc đưa vào hương ước những quy định
của Luật tục phù hợp với pháp luật và thuần phong mỹ tục.

Bước 2. Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vào dự
thảo hương ước.
Dự thảo hương ước được gửi đến cơ quan chính quyền, cấp uỷ, lãnh đạo
các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã; nếu điều kiện cho phép thì gửi đến
từng hộ gia đình để lấy ý kiến đóng góp.
Việc thảo luận đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo hương ước có
thể được tổ chức bằng các hình thức thích hợp như họp thảo luận ở tổ, đội sản

10


xuất, tổ dân phố, ngõ xóm, nhóm các hộ gia đình, họp thảo luận ở các tổ chức
đoàn thể ở thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư, niêm yết, phát trên đài truyền
thanh, mở hộp thư để thu thập ý kiến đóng góp.
Dự thảo hương ước có thể được Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã thảo luận, tham gia ý kiến nhưng không thông qua như một nghị
quyết của Hội đồng hoặc quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Bước 3. Thảo luận và thông qua hương ước.
Trên cơ sở những ý kiến đóng góp trên, Nhóm soạn thảo chỉnh lý, hoàn
thiện dự thảo và gửi tới các thành viên sẽ được dụ kiến mời tham gia Hội nghị
để thảo luận và thông qua hương ước.
Dự thảo hương ước phải được thảo luận kỹ, thực sự dân chủ và thông
qua tại Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình ở làng, bản, thôn,
ấp, cụm dân cư. Đại biểu hộ gia đình là chủ hộ hoặc người có năng lực hành
vi dân sự được chủ hộ uỷ quyền. Hội nghị này chỉ tiến hành khi có ít nhất là
hai phần ba tổng số thành phần cử tri hoặc đại biểu hộ gia đình tham dự.
Hương ước được thông qua khi có ít nhất quá nửa số người dự họp tán thành.
Trưởng thôn phối hợp với Ban công tác Mặt trận chủ trì Hội nghị. Hội nghị
quyết định hình thức biểu quyết thông qua hương ước bằng cách giơ tay biểu
quyết trực tiếp hoặc bỏ phiếu.

Bước 4. Phê duyệt hương ước:
Sau khi hương ước được thông qua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
cùng Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã xem xét nội dung của hương
ước bảo đảm phù hợp với pháp luật, thuần phong mỹ tục và trao đổi thống
nhất với Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã về nội dung của hương ước trước
khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.
Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn,
Bí thư chi bộ, Trưởng ban công tác Mặt trận và già làng (nếu có) kèm theo
Biên bản thông qua tại Hội nghị.
Hương ước gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phải có công
văn đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã.
11


Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và công văn đề
nghị phê duyệt.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định phê duyệt hương ước.
Hương ước đã được phê duyệt phải có dấu giáp lai.
Trong trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp
chủ trì phối hợp với Phòng Văn hoá - Thông tin hướng dẫn để cơ sở chỉnh lý,
hoàn thiện các hương ước đó để trình lại
b. Tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ sung hương ước
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển hương ước đã được phê
duyệt để Trưởng thôn niêm yết tuyên truyền, phổ biến đến từng thành viên
trong cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện hương ước.
Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở cơ sở chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện
nghiêm chỉnh các nội dung của hương ước; kiểm tra, phát hiện và kịp thời
chấn chỉnh những sai trái, lệch lạc, tiêu cực trong việc thực hiện hương ước,

định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp
việc thực hiện hương ước ở địa phương.
Hàng năm, cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện hương ước. Trong
trường hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu
hộ gia đình thảo luận. Việc sửa đổi, bổ sung hương ước cũng phải tuân theo
trình tự, thủ tục như khi soạn thảo hương ước mới. Không được tuỳ tiện sửa
đổi, bổ sung hương ước sau khi đã được phê duyệt.
1.1.3.2 Các bước triển khai xây dựng hương ước bảo vệ môi trường
Từ những quy định hướng dẫn theo Thông tư liên tịch số
03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ
Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn xây dựng và thực hiện hương ước,
quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Đồng thời kế thừa những bài
học thu được từ một số dự án thí điểm trong Chương trình SEMLA. Trong
12


chuyên đề này chúng tôi đề xuất 8 bước triển khai xây dựng hương ước bảo
vệ môi trường. Những bước này mô tả cách làm thế nào để xây dựng và triển
khai các quy định cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng trong đó nhấn
mạnh sự tham gia và tầm quan trọng của việc lồng ghép các hoạt động truyền
thông như một phần trong thiết kế dự án.
Bước 1: Họp với xã, phường/thôn
Cuộc họp đầu tiên cần được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo cấp xã,
phường nhằm giới thiệu mục tiêu và các bước của dự án. Cuộc họp này sẽ
thảo luận việc triển khai dự án để đảm bảo rằng những người tham gia thống
nhất với mục đích và các bước đã đề xuất. Giải thích lợi ích của cộng đồng và
những kết quả mong muốn.
Tại cuộc họp này, có thể thảo luận một số ý kiến ban đầu về những quy
định trong hương ước.

Bước 2: Hội thảo với trưởng thôn/ lãnh đạo phường
Cần tổ chức một buổi hội thảo/tập huấn cho lãnh đạo xã, phường về bảo
vệ môi trường và vệ sinh môi trường địa phương. Buổi hội thảo/tập huấn một
ngày sẽ giúp chuẩn bị cho các lãnh đạo phường trước khi thực hiện nhiệm vụ.
Buổi tập huấn gồm:
- Trình bày về các vấn đề môi trường quan trọng nhất của địa phương
(rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại, nước uống, nước thải, tiết kiệm nước, vệ
sinh, đa dạng sinh học, nông nghiệp, làm vườn…).
- Trình bày một số ví dụ về các hương ước của những địa phương khác để
lấy ý kiến.
- Các phương pháp và công cụ để các thành viên trong cộng đồng tham
gia xác định các vấn đề và giải pháp (ví dụ, sử dụng phương pháp phân tích
sơ đồ vấn đề).
Bước 3: Thu thập thông tin
Mỗi lãnh đạo phường cần lập một nhóm khoảng 10 người. Nhiệm vụ của
các nhóm là thu thập ý kiến của người dân và xây dựng dự thảo hương ước trên

13


cơ sở các ý kiến và ưu tiên của phường. Nhóm này nên có số lượng bình đẳng
nam nữ và cố gắng có sự tham gia của các thành viên đại diện cho các nhóm xã
hội và độ tuổi khác nhau.
Mỗi nhóm quyết định sử dụng phương pháp nào để thu thập ý kiến. Ví
dụ và các phương pháp có sự tham gia được nêu ở Chương 3: Sự tham gia của
cộng đồng. Các nhóm có thể phối hợp với các tổ chức xã hội để tổ chức họp.
Một số câu hỏi quan trọng khi phân tích môi trường địa phương:
- Có những vấn đề môi trường nào là chính?
- Ai bị ảnh hưởng bởi những vấn đề này?
- Nguyên nhân chính của những vấn đề môi trường này là gì?

- Ai chịu trách nhiệm?
- Vấn đề có thể được giải quyết như thế nào?
- Cần có những hành động nào để giải quyết vấn đề?
- Lợi ích của việc thay đổi hành vi là gì?
- Có những cản trở nào? Chi phí?
Bước 4: Tổ chức họp dân
Khi đã có bản dự thảo hương ước lần thứ nhất, mỗi phường cần tổ chức
một buổi họp dân. Tại cuộc họp này, có mời các hộ gia đình đến để thảo luận
và điều chỉnh dự thảo hương ước nếu cần. Điều quan trọng là thông tin rõ
ràng cho mọi người về lý do và lợi ích của việc xây dựng hương ước.
Nếu có thể, có thể bỏ phiếu thông qua hương ước tại cuộc họp này. Nếu
như có sự bất đồng hoặc có nhiều ý kiến về nội dung hương ước, có thể phải
tổ chức một buổi họp thứ hai.
Bước 5: Phê duyệt hương ước
Các nhóm cần sửa đổi dự thảo hương ước theo những ý kiến phản hồi từ
buổi họp dân.
Sau đó, hương ước có thể được trình lên cơ quan có thẩm quyền (UBND
huyện) để mjjphê duyệt. Cơ quan có liên quan sẽ xem xét và ban hành quyết

14


định phê duyệt hương ước môi trường, phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam.
Bước 6: Lễ ký cam kết
Ngay khi hương ước được chính thức thông qua, cần tổ chức một lễ ký
cam kết tại các thôn/phường. Đây là một sự kiện quan trọng khi các hộ gia
đình chính thức phê duyệt và cam kết thực hiện hương ước.
Mỗi hộ gia đình sẽ nhận và ký vào một bản sao của hương ước như một
sự cam kết chính thức. Bản sao cần được treo trong từng gia đình.

Bước 7: Giám sát và đánh giá
Mỗi phường cần thành lập một ban giám sát triển khai và tuân thủ hương
ước. Ban này có thể đề xuất một số hoạt động cần thiết trong quá trình triển
khai.
Ban giám sát gồm có lãnh đạo phường và một số người dân đáng tin cậy
trong phường. Họ có nhiệm vụ xây dựng một báo cáo ngắn về việc triển khai
hương ước theo quý. Họ cũng chịu trách nhiệm ghi nhận những khiếu nại và
xử phạt các vi phạm hương ước. Số tiền phạt sẽ được đưa vào quỹ môi trường
của địa phương. Hương ước cũng cần xác định xem số tiền đó sẽ được sử
dụng làm gì, ví dụ, để lắp đặt thùng rác, nhà vệ sinh công cộng hoặc để trồng
cây.
Có thể sử dụng những chỉ số sau để đánh giá dự án:
- % số người biết về hương ước
- % người có thể nêu ít nhất hai điều của hương ước
- % người cho rằng bảo vệ môi trường là quan trọng
- % người nghĩ rằng hương ươc có thể góp phân bảo vệ môi trường và
cải thiện môi trường sống.
- % người nghĩ rằng hương ước đã có tác động tích cực đến phường.
Bước 8: Nâng cao nhận thức

15


Toàn bộ quá trình tham gia xây dựng hương ước có một chức năng nâng
cao nhận thức quan trọng. Tuy nhiên, việc có thêm các hoạt động nâng cao
nhận thức cũng rất quan trọng để đảm bảo rằng cộng đồng có thể biết và tuân
thủ nội dung hương ước.
1.2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Vĩnh Phúc
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:

Vĩnh Phúc là xã vùng II của huyện Bắc Quang, có tọa độ 22°15′4″B 104°47′28″Đ
, cách trung tâm huyện 43 km về phía Tây Nam.
+ Phía Bắc giáp xã Tiên Kiều và xã Hương Sơn (huyện Quang Bình).
+ Phía Nam giáp xã Đồng Yên và xã Đông Thành.
+ Phía Tây giáp xã Vĩ Thượng huyện Quang Bình.
+ Phía Đông giáp xã Vĩnh Hảo.

Hình 1 : Bản đồ hành chính xã Vĩnh Phúc
Xã có địa hình lòng chảo tương đối bằng phẳng, xung quanh có đồi núi bao
bọc, khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, lượng mưa hàng năm trên 600mm thuận lợi cho
sản xuất nông lâm nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên là 3.895,61 ha. Toàn xã có
10 thôn bản với 1.822 hộ với 7.776 nhân khẩu với 6 dân tộc cùng sinh sống (Tày,
Kinh, Mông, Nùng, Dao, Cao Lan). Thu nhập bình quân đầu người đạt 29,3 triệu
đồng/người/năm.

16


Vĩnh Phúc là xã có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thuận lợi cho việc chăn nuôi
và trồng trọt; trong đó phát triển mạnh sản xuất lúa hàng hóa. Là xã thuần nông
nhưng điều kiện kinh tế xã hội của xã Vĩnh Phúc phát triển tương đối đồng bộ. Giá
trị sản xuất trên 1ha canh tác đạt 60 triệu đồng/ha/năm; thu nhập bình quân đầu
người: 17 triệu đồng/người/năm; số hộ giàu 170 hộ, chiếm 10%; số hộ khá 327 hộ,
chiếm 19%; Hộ trung bình 887 hộ chiếm 52%
Năm 2009 xã Vĩnh Phúc được tỉnh chọn xây dựng thí điểm xây dựng nông thôn
mới và được huyện là một trong năm xã điểm về xây dựng nông thôn mới; đến hết
năm 2011 xã đã hoàn thành 11/19 tiêu chí, xã Vĩnh Phúc cũng là xã đi đầu hoàn
thành quy hoạch nông thôn mới cấp xã.
- Về địa hình:
Xã Vĩnh Phúc có địa hình chia thành 2 dạng địa hình chính như sau:

Địa hình đồi núi thấp: có độ cao từ 100m đến 700m, phân bố ở tất cả các xã,
địa hình đồi núi bát úp, lượn sóng thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp
dài ngày và cây ăn quả.
Địa hình thung lũng: gồm các dải đất bằng thoải, lượn sóng ven các con suối.
Địa hình khá bằng phẳng có điều kiện giữ nước và tưới nước trên hầu hết diện tích
đất đã được khai thác trồng lúa và hoa mầu.
- Về khí hậu:
Đối với xã Vĩnh Phúc: Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chia thành 4 mùa rõ rệt,
nhiệt độ trung bình khoảng 22 – 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 3.000 –
4.000 mm/năm, Vĩnh Phúc là một trong những vùng có số ngày mưa nhiều của
huyện , khoảng từ 180 – 200 ngày/năm.
-

Về thủy văn

Xã Vĩnh Phúc là một thung lũng được bao bọc bởi những dãy núi lên hệ thống kênh
rạch, suối chằng chịt, chiếm diện tích lớn. Những con suối được bắt đầu từ nguồn
và phân bố khắp diện tích của xã với cấp độ dốc lớn nên trong mùa mưa lũ dễ gây
ra lũ quét. Với cường độ rất khó kiểm soát gây thiệt hại cho sản xuất lâm nghiệp.
Tuy nhiên lượng nước dữ trữ trong ao hồ phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp là rất
lớn, lượng nước ngầm được tích là khá phong phú và có trữ lượng khá cao.

17


×