Tải bản đầy đủ (.doc) (118 trang)

Luận văn thạc sĩ hóa học: Kết hợp dạy học dự án với hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh lớp 12 phần hóa học hữu cơ trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 118 trang )

LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cám ơn PGS.TS
Đặng Thị Oanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến
* Thạc sĩ Tạ Thủy Nguyên phòng Phân Tích ứng dụng – Viện Hóa học – Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
* TS. Lương Như Hải – Phòng Công nghệ Polime và Môi Trường – Viện
Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Đã tạo điều kiện làm việc và cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý
báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Dương Hồng Sơn - Hiệu trưởng trường
THPT Ngô Gia Tự, thầy Vũ Thành Chung - Phó hiệu trưởng trường THPT Ngô Gia
Tự, Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và học sinh của trường THPT Ngô Gia Tự Từ Sơn – Bắc Ninh đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả

Nguyễn Quang Khải

1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
2
3
4
5
6


7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

CĐ-ĐH
DA
DHDA
DHTDA
ĐC
ĐHSP
GV
HS
KHKT
NCKH
PPDH
PPDHTDA
PPGD
THCS
THPT
TN

Cao đẳng – Đại học
Dự án

Dạy học dự án
Dạy học theo dự án
Đối chứng
Đại học Sư phạm
Giáo viên
Học sinh
Khoa học Kĩ thuật
Nghiên cứu khoa học
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học theo dự án
Phương pháp giáo dục
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thực nghiệm

2


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Nội dung chương trình hóa học hữu cơ lớp 12
Bảng 2.2. So sánh dạy học theo dự án và hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
Bảng 2.3. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến este-lipit
Bảng 2.4. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến cacbohidrat
Bảng 2.5. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Amin-Aminoaxit- Protein
Bảng 2.6. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Polime
Bảng 2.7. Các đề tài nghiên cứu khoa học khác
Bảng 2.8. Kế hoạch triển khai dự án 1
Bảng 2.9: Mẫu gạc trước và sau khi xử lí
Bảng 3.1. Phân loại kết quả học tập của học sinh
Bảng 3.2. Đánh giá dự án kĩ thuật

Hình 1.1: Sơ đồ những đặc điểm của dạỵ học theo dự án
Hình 1.2. Sơ đồ những đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Hình 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất khăn gạc
Hình 2.2: Phiếu đo chỉ tiêu sản phẩm sau xử lí
Hình 3.1. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra “Polime”của cặp tối chứng
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quy trình thực hiện dự án khoa học
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ quy trình thực hiện dự án kĩ thuật
Sơ đồ 2.1. Quy trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học

3


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đã chỉ rõ những
vấn đề còn tồn tại của giáo dục phổ thông: “Chương trình, giáo trình, phương pháp
giáo dục chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện,
nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng
nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội cũng như nhu
cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học-công nghệ và
triển khai ứng dụng.”
Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ mang tính thụ động cao, hạn chế
khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống
thực tiễn cuộc sống. Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt
ra là “giúp học sinh (HS) phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo…”
Để khắc phục thực trạng trên và nâng cao chất lượng giáo dục, một trong
những nhiệm vụ trọng yếu là thực hiện cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy
và học tập theo hướng tích cực nhằm phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo,
phát huy tiềm năng ẩn chứa trong mỗi con người, biết vận dụng kiến thức đã học

vào thực tiễn đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Hiện nay một số phương
pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực đã và đang được áp dụng trong quá trình
dạy học. Trong các PPDH tích cực hiện nay thì dạy học theo dự án (DHTDA) đáp
ứng tương đối tốt các yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng trên.
Một trong những hình thức DHTDA mang lại hiệu quả giáo dục cao là tổ chức
cho HS trực tiếp tham gia các dự án (DA) nghiên cứu khoa học (NCKH). Bằng việc
cho HS tham gia vào NCKH sẽ giúp HS tiếp cận với phương pháp NCKH, lĩnh hội
kiến thức một cách chủ động góp phần hình thành tính năng động, sáng tạo, khả
năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải quyết các vấn đề thực tế của HS. Bên
cạnh đó để HS thực hiện tốt các DA NCKH cũng cần phải có sự hướng dẫn của
giáo viên (GV), sự kết hợp của các viện nghiên cứu. Vì vậy GV cũng phải năng

4


động tìm tòi phát triển các cách dạy mới. Việc NCKH mang lại tác động tích cực
lên cả người học và người dạy từ đó góp phần vào đổi mới phương pháp giáo dục
và dạy học trong nhà trường.
Mặt khác, với đặc thù của môn hoá học là một môn khoa học vừa lý thuyết
vừa thực nghiệm, việc dạy học bộ môn hóa học hiện nay vẫn còn nặng về lí thuyết
chưa chú trọng nhiều đến thực hành và vận dụng kiến thức. HS khi học môn hóa
học chỉ tập trung nhiều vào các bài tập nặng về lí thuyết nặng và tính toán, phần lớn
các em chưa biết những kiến thức được học về các chất ở môn hóa học có thể vận
dụng như thế nào, có thể giải quyết được những vấn đề gì trong thực tiễn xung
quanh các em. Vì vậy việc khuyến khích HS tham gia thực hiện các dư án NCKH
về những vấn đề, thực trạng xung quanh cuộc sống sẽ tạo ra hứng thú trong học tập,
giúp HS nhanh chóng hiểu bài hơn, học sâu hơn, qua đó khơi dậy tiềm năng, phát
huy được những ý tưởng sáng tạo, hình thành các kĩ năng, giúp người học đạt được
kết quả cao nhất.
Chính vì vậy nghiên cứu đề tài: “Kết hợp dạy học dự án với hoạt động

nghiên cứu khoa học cho học sinh lớp 12 phần hóa học hữu cơ trung học phổ
thông” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, phù hợp với định hướng đổi mới PPDH
hiện nay, dẫn dắt các em HS vào con đường NCKH chân chính và sáng tạo.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về dạy học theo dự án
Thuật ngữ “dự án”, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và
ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế
hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục
đích đề ra. Khái niệm DA được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tếxã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong NCKH cũng như trong quản lý xã hội…
Khái niệm DA đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo
không chỉ với ý nghĩa là các DA phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một
phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các
trường dạy kiến trúc xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16. Từ đó tư tưởng DHTDA lan

5


sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các
trường đại học và chuyên nghiệp.
Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương
pháp DA (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan
điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học
truyền thống coi GV là trung tâm. Ban đầu, PPDH dự án (PPDHDA) được sử dụng
trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các
môn học khác, cả các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian phần nào bị lãng
quên, hiện nay PPDHDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại
học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển.
Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử
dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với DHTDA. Với những ưu
điểm vượt trội, DHDA đã và đang từng bước được áp dụng trong giảng dạy ở phổ

thông đặc biệt là ở môn hóa học môn học thực nghiệm gắn liền với thực tiễn. Việc
ứng dụng PPDHDA trong môn hóa học đã và đang thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu là một số bài viết và công trình nghiên cứu như:
1. “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim
chương trình hóa học trung học phổ thông” của Phạm Hồng Bắc (2013), Trường
ĐHSP Hà Nội.
2. “Xây dựng tư liệu dạy học và áp dụng phương pháp dạy học dự án cho dạy học
nội dung ứng dụng các phi kim và hợp chất của chúng trong chương trình hoá học
THPT – nâng cao” của Đào Thị Như (2008), Trường ĐHSP Hà Nội.
3.“ Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án đối với chương nhóm oxi, lớp 10
nâng cao” của Tạ Thị Thu Hương (2010), Trường ĐHSP TPHCM.
4. Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập
của học sinh trong dạy học hoá học thông qua hình thức dạy học dự án” của Đặng
Thị Minh Thu (2009), ĐHSP Hà Nội .
5. Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Áp dụng dạy học theo dự án trong dạy học Hoá
học ở trường Trung học phổ thông”của Nguyễn Thị Thanh Mai (2011, ĐHSP
TPHCM.
6


2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về nghiên cứu khoa học
Trên Thế giới, Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho HS
phổ thông từ lớp 9 – 12, ở 17 lĩnh vực NCKH khác nhau nhằm tăng cường hiệu quả
và sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải
quyết vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học, toán
học, kỹ thuật… Đây là hội thi khoa học có quy mô lớn nhất thế giới, tạo điều kiện
cho các nhà khoa học và sáng chế trẻ đến trao đổi ý kiến, trình bày những DA khoa
học tiên tiến và thi tài để giành được phần thưởng và học bổng.
Ở Việt Nam bắt đầu từ năm học 2013-2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết
định tổ chức cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia cho HS trung học cơ sở

(THCS) và trung học phổ thông (THPT) hằng năm và coi đây như là một cuộc thi
có tính chất tương đương cuộc thi HS giỏi quốc gia. Mục đích cuộc thi [5]:
- Khuyến khích HS trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ
thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
- Thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và PPDH; đổi mới hình thức và
phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực của HS; nâng cao chất
lượng dạy và học trong các cơ sở giáo dục.
- Tăng cường sự phối hợp, hỗ trợ của các trường đại học, cao đẳng, cơ sở
nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân với công tác nghiên cứu KHKT của HS trường
trung học.
- Tạo cơ hội để HS trung học giới thiệu kết quả NCKH, kỹ thuật của mình;
tăng cường giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các cơ sở giáo dục, giữa các địa
phương; chọn DA tham dự Cuộc thi cấp quốc gia.
Nghiên cứu các vấn đề về lí luận NCKH từ trước đến nay đã có nhiều sách
tham khảo hoặc giáo trình như:
1. PGS.TS. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu
khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. PGS.TS. Phạm Viết Vượng (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

7


3. GS. Nguyễn Văn Lê (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà
xuất bản trẻ.
4. TS. Phạm Trung Thanh, Th.S. Nguyễn Thị Lý (2000), Phương pháp thực
hiện đề tài nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.
Bên cạnh đó cũng có một số hội thảo tập huấn hướng dẫn HS NCKH đã được tổ
chức:
1. Karen Merrill-Giám đốc hội đồng khoa học Intel ISEF giới thiệu về “Hội thi

Khoa học và Kỹ Thuật Quốc tế của Intel-Intel ISEF ” vào tháng 7 năm 2011. Trong
đó giới thiệu về ý nghĩa của hội thi, vạch ra con đường để đến với Intel ISEF và bí
quyết thành công tại Intel ISEF.[12]
2.“Hội thảo – Tập huấn: Tổ chức cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia
dành cho học sinh trung học ” do TS. Vũ Đình Chuẩn – Vụ trưởng Vụ trung học Bộ
GD&ĐT thực hiện với nội dung chủ yếu là thảo luận thống nhất về các tiêu chí
chấm các DA dự thi của thí sinh và công tác tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh/thành
phố và cấp quốc gia dành cho HS trung học năm học 2012-2013.[10]
3. TS. Vũ Anh Tuấn “Giới thiệu khung nghiên cứu và hướng dẫn học sinh
trung học nghiên cứu khoa học kĩ thuật” vào tháng 12 năm 2012 tại Hà Nội trong
đó nêu mục đích, hình thức tổ chức, nội dung, tiến trình thực hiện một đề tài NCKH
[19]
Nhưng thực tế, ngay bản thân một số GV vẫn còn rất mơ hồ về lí luận của hoạt
động NCKH dẫn đến lúng túng khi triển khai hướng dẫn HS thực hiện đề tài, áp
dụng còn máy móc, thực sự chưa hiểu sâu bản chất và ý nghĩa của hoạt động
NCKH của HS.
3. Mục đích nghiên cứu
Kết hợp DHTDA và tổ chức hướng dẫn NCKH cho HS lóp 12 phần Hóa học
hữu cơ THPT nhằm góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, vận dụng kiến thức lí
thuyết vào thực tiễn cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong
các trường THPT.

8


4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
(1). Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA, về công tác tổ chức hướng dẫn HS
NCKH (mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, tiến trình thực hiện công tác hướng
dẫn HS NCKH).
(2). Nghiên cứu thực trạng dạy học DA và công tác hướng dẫn HS NCKH ở một số

trường THPT ở Bắc Ninh.
(3). Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình và sách giáo khoa hóa học 12 để
tuyển chọn, xây dựng nguyên tắc, quy trình triển khai thực hiện DA học tập và đề
tài hóa học có liên quan đến việc NCKH của HS.
(4). Tổ chức hướng dẫn HS lớp 12 thực hiện DA và NCKH một số đề tài liên quan
đến kiến thức phần Hóa học hữu cơ nhằm xác định tính khả thi, tính phù hợp và hiệu
quả của đề tài.
(5). Báo cáo kết quả nghiên cứu một số DA được thực hiện trong đề tài và trao đổi
với GV, HS đã tham gia các DA, đề tài và ý kiến nhận xét của Ban Giám hiệu nhà
trường.
5. Khách thể , đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học cho HS lớp 12 THPT.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình kết hợp dạy học DA với hoạt động NCKH hóa học cho HS lớp 12
THPT.
5.3. Phạm vi nghiên cứu :
Chương 1, 2, 3, 4, 5 hóa học lớp 12 chương trình cơ bản THPT.
6 . Giả thuyết khoa học
Kết hợp DHTDA với tổ chức tốt tập huấn cho HS về phương pháp NCKH,
đồng thời với sự hướng dẫn của GV trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu thì
sẽ góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, kĩ năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực
tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong các trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
9


- Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu như các luận văn, các bài
báo, các công trình nghiên cứu về dạy học DA, NCKH nói chung, hoạt động NCKH

của HS THPT nói riêng và đặc biệt là cách GV hướng dẫn HS NCKH và thực hiện
DA học tập.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bảng hỏi: Dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng với số lượng
60 phiếu điều tra dành cho GV giảng dạy môn Hóa học và 400 phiếu dành cho HS
THPT các trường trong tỉnh Bắc Ninh về hiểu biết của GV và HS về DHTDA.
- Phỏng vấn sâu: Dự kiến tiến hành phỏng vấn sâu đối với một số GV Hóa
học đã tham gia hướng dẫn HS NCKH; HS đã tham gia NCKH trong Hội thi khoa
học kĩ thuật dành cho HS THCS và THPT vừa qua và hiệu trưởng một số trường về
công tác NCKH của HS để biết được phương pháp hướng dẫn HS NCKH, việc áp
dụng trong thực tế có những khó khăn thuận lợi gì..
- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
- Sử dụng toán thống kê xác xuất để phân tích và xử lý các kết quả thực
nghiệm sư phạm (TNSP).
8. Đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan và làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong việc kết hợp
DHTDA và NCKH cho HS THPT đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của công tác này
trong giáo dục ở nhà trường phổ thông hiện nay.
- Điều tra đánh giá thực trạng việc vận dụng DHTDA và việc triển khai
NCKH cho HS ở trường phổ thông thuộc tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất nguyên tắc lựa chọn nội dung, xây dựng và triển khai DA trong
học tập thuộc phần hóa học hữu cơ lớp 12 THPT.
- Đề xuất một số đề tài NCKH trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 12. Áp
dụng quy trình nghiên cứu, tổ chức tập huấn phương pháp NCKH và hướng dẫn 2
đề tài cho HS lớp 12.
9. Cấu trúc luận văn

10



Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học theo DA và NCKH của HS THPT
Chương 2. Kết hợp DHTDA và NCKH cho HS lớp 12 phần Hóa học hữu cơ THPT
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO
DỰ ÁN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH THPT
1.1. Cơ sở lí luận của dạy học theo dự án
1.1.1. Thế nào là dạy học theo dự án?
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “DHTDA là hoạt động học tập
nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng
một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [2, tr.125].
Theo Intel (Mỹ): DHTDA là một hình thức dạy học trong đó HS thực hiện một
nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành và
đánh giá kết quả. Hình thức chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm
hành động có thể giới thiệu được.
1.1.2. Đặc điểm của dạy học theo dự án

Hình 1.1: Sơ đồ những đặc điểm của dạ̣y học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của DA xuất phát từ những tình huống của thực tiễn
xã hội, nghề nghiệp và đời sống. Nhiệm vụ DA cần chứa đựng những vấn đề phù
hợp với trình độ và khả năng của người học.
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia đề xuất và chọn đề tài, nội
12



dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của HS
cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện DA.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết và hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông
qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng
hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra.
Sản phẩm của dự án bao gồm những thu hoạch lí thuyết, những sản phẩm vật chất
của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố,
giới thiệu.
- Định hướng kĩ năng mềm: Làm việc theo DA sẽ hỗ trợ phát triển cả kĩ năng tư duy
siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thức như hợp tác, tự giám sát, tìm kiếm, phân tích
dữ liệu và đánh giá thông tin… Trong suốt quá trình thực hiện DA, các câu hỏi định
hướng sẽ kích thích HS tư duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn
cao. Đồng thời, HS còn có cơ hội hình thành và rèn luyện các kĩ năng mềm cần có
của con người trong thế kỉ XXI như: kĩ năng học tập và thích ứng, kĩ năng thu thập
và xử lí thông tin, kĩ năng sống và hoạt động nghề nghiệp,…
- Tính phức hợp: Nội dung DA có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn
học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp (liên môn).
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: các DA học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà
trường với việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống, xã hội.
- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tham gia tích cực
và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến
khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn,
hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả
năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các DA học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có
sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.

DHTDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các

13


thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham
gia trong DA. Đặc điểm này còn gọi là học tập mang tính xã hội.
1.1.3. Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
Bước 1: Lập kế hoạch
a) Lựa chọn chủ đề
GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục đích của DA.
Từ chủ đề lớn, GV tổ chức hướng dẫn HS phát triển tìm các chủ đề nhỏ là vấn đề
nghiên cứu cụ thể. Sơ đồ tư duy và sơ đồ câu hỏi 5W1H là công cụ hiệu quả xác
định, lựa chọn ý tưởng cũng như những vấn đề cần giải quyết xung quanh DA.
b) Lập kế hoạch
HS cần lập kế hoạch để xác định các vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến tiểu
chủ đề nhằm giải quyết trả lời câu hỏi nghiên cứu và phân công nhiệm vụ trong
nhóm. Ai sẽ làm nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành, xác định phương tiện và dự
kiến sản phẩm. Sau khi lập được kế hoạch các nhóm cử đại diện trình bày, các
nhóm khác và GV bổ sung ý kiến, HS chỉnh sửa hoàn thiện kế hoạch. Sau đó GV
hướng dẫn HS cách thực hiện DA, tổng hợp kết quả, trình bày báo cáo, đánh giá rút
kinh nghiệm. GV cần cung cấp cho mỗi nhóm sổ theo dõi DA.
Bước 2: Thực hiện dự án
a) Thu thập thông tin: Theo nhiệm vụ đã được phân công, các thành viên trong
nhóm thu thập thông tin từ sách báo, internet, làm thực nghiệm, điều tra, phỏng
vấn... Các phương tiện hỗ trợ cần sử dụng như: phiếu phỏng vấn, phiếu ghi dữ liệu,
phiếu thiết kế các hoạt động thực nghiệm, máy ghi âm, máy ảnh,...
b) Xử lí thông tin
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu cần tiến hành xử lí dữ liệu bằng bảng,
biểu đồ, sơ đồ, so sánh, đối chiếu.... Trong nhóm thường xuyên trao đổi thảo luận để

tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm tra tiến độ. Đồng thời xin ý kiến của GV
cần sự giúp đỡ kịp thời để đảm bảo tiến độ và hướng đi của dự án.
Bước 3: Tổng hợp báo cáo sản phẩm
a) Xây dựng sản phẩm

14


Các thành viên trong nhóm cùng tổng hợp tất cả các kết quả đã phân tích
thành sản phẩm cuối cùng có thể trình bày dưới nhiều dạng khác nhau: bài thuyết
trình, đóng kịch, hát, trưng bày triển lãm, Powerpoint...
b) Trình bày báo cáo sản phẩm
GV tổ chức cho HS trình bày các sản phẩm đã làm. Không nên để một HS phụ
trách báo cáo mà nên chia nhỏ để nhiều thành viên cùng được có cơ hội thể hiện
khả năng của mình. Trong buổi này, GV nên mời các chuyên gia liên quan đến dự
án, Ban Giám hiệu tham gia và đặt câu hỏi, cũng như đưa ý kiến nhận xét, góp phần
làm cho buổi báo cáo thêm sinh động, hấp dẫn và thiết thực.
c) Đánh giá rút kinh nghiệm
GV thiết kế cho các nhóm tự chấm điểm và chấm điểm lẫn nhau, đánh giá sản
phẩm của từng nhóm. GV tổng kết các phiếu tự đánh giá của các nhóm, nhận xét,
cho điểm từng nhóm và rút kinh nghiệm
Một bài dạy truyền thống

Thực tiễn cuộc sống

Xây dựng bản kế hoạch dạy học dự án
Kế hoạch hoạt động GV

Kế hoạch hoạt động HS


Đề ra tiêu chí đánh giá

Sản phẩm dự án

Kết quả là sự phát triển các năng
lực, kĩ năng của học sinh
Hình 1.2. Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
1.1.4. Một số kĩ năng thực hiện dự án cần hướng dẫn cho học sinh
Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin: bao hàm những khả năng rút ra những
thông tin từ một tư liệu và ghi chép từ một thông báo hay bài phát biểu.
Kỹ năng giao tiếp: như vấn đáp, lắng nghe tích cực, tiếp nhận và phản hồi

15


thông tin, xử lý tình huống, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác và hỗ trợ trong nhóm.
Kỹ năng tư duy sáng tạo: Thông qua những sản phẩm tư duy của HS như: các
cuộc thảo luận, các bảng biểu, sơ đồ, và những ghi chép, GV có thể biết được nhiều
điều về quá trình tư duy của HS, lựa chọn PPDH phù hợp cho mỗi đối tượng là cá
nhân hay nhóm HS.
Kỹ năng trình bày: Tạo ra một bài thuyết trình là một nghệ thuật. Đó là khả
năng của những người thuyết trình trong quá trình truyền đạt thông tin một cách hấp
dẫn và cách dẫn dắt nội dung thông tin nhằm thu hút nhiều người nghe hơn và trình
bày thông tin đầy đủ và chính xác trong một khoảng thời gian ngắn.
Kĩ năng sử dụng CNTT: sử dụng Power Point, Mindmap, Word,…
1.1.5. Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án
a) Ưu điểm
- Có sự gắn kết kiến thức lí thuyết với thực tiễn trong hoạt động học tập.
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của HS.
- Tạo điều kiện phát triển một số năng lực cho học sinh như: năng lực sáng tạo,

năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề.
- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề mang tính phức hợp, mang tính
tích hợp
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp
- Rèn luyện tính bền bỉ kiên nhẫn
- Phát triển năng lực đánh giá
b) Hạn chế
- Học theo DA đòi hỏi có thời gian để HS nghiên cứu tìm hiểu
- Học theo DA đòi hỏi phương tiện vật chất phù hợp
- Học theo DA đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư
phạm, tích cực, yêu nghề
1.1.6. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
- Xác định rõ mục tiêu học tập của HS, HS đạt được gì về kiến thức, kĩ năng
thái độ. Tập trung vào tư duy bậc cao, không chỉ là những kĩ năng đọc sách hay sử

16


dụng công nghệ thông tin...
- Nội dung – chủ đề gắn với thực tiễn hoặc với những vấn đề đang diễn ra
trong cuộc sống, mang tính thời sự, tính xã hội có liên quan đến nội dung bài học.
1.2. Cơ sở lí luận của hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.1. Đại cương về nghiên cứu khoa học
1.2.1.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Khái niệm khoa học: Khoa học là hệ thống tri thức của sự vật, hiện tượng, quá
trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà những tri thức trong hệ thống này có được
dựa trên những NCKH (chứ không phải dựa trên những kinh nghiệm). Khoa học
còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động đến thế giới xung
quanh làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người [18, tr.36].
NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới;

hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật
phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [11,tr.35].
Phương pháp NCKH là con đường, cách thức nghiên cứu để đặt ra câu hỏi
khoa học, giải quyết vấn đề thông qua quan sát và thực nghiệm [6,tr.37]
1.2.1.2. Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học

Hình 1.2. Sơ đồ những đặc điểm của nghiên cứu khoa học
a) Tính mới mẻ

17


- Quá trình NCKH là quá trình sáng tạo ra những điều mới mẻ, vì vậy nó có
tính mới mẻ.
- Quá trình NCKH không có sự lặp lại các thí nghiệm hoặc một việc gì đã
được làm trước đó.
- Tính mới trong NCKH được hiểu là dù đạt được một phát hiện mới thì người
nghiên cứu vẫn phải hướng tới, tìm tòi những điều mới mẻ hơn.
b) Tính thông tin
Sản phẩm của NCKH có thể là một bài báo khoa học, tác phẩm khoa học,
cũng có thể là một mẫu vật, sản phẩm mới, … Tuy nhiên dù sản phẩm đó là gì thì
nó đều mang đặc trưng thông tin về quy luật vận động của sự vật hiện tượng, thông
tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm.
c) Tính khách quan
Tính khách quan là đặc điểm của NCKH và cũng là tiêu chuẩn của người
NCKH. Nếu trong NCKH mà không khách quan thì sản phẩm NCKH sẽ không thể
chính xác và không có giá trị gì cả.
d) Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu được gọi là tin cậy nếu nó có khả năng kiểm chứng
bởi bất kỳ người nào, bất kỳ trong trường hợp, điều kiện giống nhau nào đều cho

một kết quả như nhau.
e) Tính rủi ro
NCKH là quá trình tìm ra cái mới, vì vậy nó có thể thành công hoặc thất bại,
thành công sớm hoặc thành công rất muộn. Vì vậy tính rủi ro của nó rất cao.
f) Tính kế thừa
- Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp NCKH.
- Hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết
quả đã đạt được trước đó.
g) Tính cá nhân
Dù có thể là một nhóm người cùng thực hiện nghiên cứu thì vai trò cá nhân
trong sáng tạo cũng mang tính quyết định.

18


h) Tính kinh phí
- NCKH rất khó định lượng được một cách chính xác như trong lao động sản
xuất và thậm chí có thể nói không thể định mức.
- Hiệu quả kinh tế không thể xác định được
- Lợi nhuận không dễ xác định
1.2.2. Trình tự logic của nghiên cứu khoa học
NCKH, bất kể trong NCKH tự nhiên, khoa học xã hội hoặc khoa học công
nghệ đều tuân theo một trật tự lôgic xác định, bao gồm các bước sau:
- Lựa chọn chủ đề nghiên cứu và đặt tên đề tài
- Xác định mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng luận điểm khoa học (tức giả thuyết nghiên cứu)
- Chứng minh luận điểm khoa học (chứng minh giả thuyết)
- Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết [11,tr.47].
1.2.2.1. Lựa chọn chủ đề và đặt tên đề tài
(1) Ý tưởng nghiên cứu

Ý tưởng nghiên cứu thường được hình thành trong các tình huống như: Trong
giải quyết công việc hàng ngày, qua đọc sách báo, trong các buổi tranh luận hoặc
các câu hỏi đặt ra của người khác.
(2) Lựa chọn đề tài
Từ các ý tưởng đó sẽ hướng người nghiên cứu đến lựa chọn đề tài. Việc lựa
chọn đề tài có một ý nghĩa rất quan trọng. Có thể xem xét việc lựa chọn đề tài theo
một số tiêu chí sau: Đề tài có ý nghĩa khoa học không? Có ý nghĩa thực tiễn không?
có cấp thiết phải nghiên cứu không? Có phù hợp với sở thích không?
(3) Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài. Tên đề
tài phải thể hiện được mục tiêu nghiên cứu, có thể ghi rõ phương tiện thực hiện, có
thể chỉ rõ môi trường thực hiện.
1.2.2.2. Xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong

19


nghiên cứu. Mục tiêu trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?”
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ nghiên cứu chính là công việc phải làm,
được cụ thể hóa từ mục tiêu và đối tượng nghiên cứu. Mỗi nhiệm vụ phải giải quyết
được một vấn đề nào đó nằm trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các nhiệm vụ
luôn có quan hệ hữu cơ với nhau.
1.2.2.3. Xây dựng luận điểm khoa học (tức giả thuyết nghiên cứu)
Giả thuyết là câu trả lời ướm thử cho câu hỏi nghiên cứu. Một giả thuyết có
thể đặt ra đúng với bản chất sự vật, song giả thuyết cũng có thể sai và bị bác bỏ.
1.2.2.4. Chứng minh luận điểm khoa học (chứng minh giả thuyết)
Để chứng minh giả thuyết, người nghiên cứu cần có các luận cứ khoa học.
Luận cứ là bằng chứng để khẳng định giả thuyết của tác giả đặt ra là đúng. Trong
khoa học có hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tế. [11,tr.49-63]

1.2.2.5. Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết
Trong nghiên cứu các phương pháp được chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Gồm có phương pháp nghiên
cứu tài liệu, thống kê toán học.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Gồm có phương pháp quan
sát, thực nghiệm khoa học, điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn, thực nghiệm...
Phương pháp nghiên cứu là công cụ NCKH trong thực hiện nhiệm vụ đề tài.
Phương pháp NCKH do mục tiêu và đối tượng nghiên cứu quyết định bởi “phương
pháp là sự vận động của nội dung” nói theo ngôn từ triết học. Điều đó có nghĩa là
ứng với những đề tài khác nhau phải có phương pháp khác nhau. Chọn phương
pháp nào cho thích hợp đó là công việc của người nghiên cứu [16,tr.65-66].
1.2.3. Thu thập và xử lý thông tin
1.2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
(1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nguồn tài liệu rất đa dạng như: tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa
học, sách giáo khoa, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê, thông tin đại chúng. Sau đó
người nghiên cứu tổng hợp tài liệu: bổ túc, lựa chọn, sắp xếp tài liệu, làm tái hiện

20


quy luật, giải thích quy luật.
(2) Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là một phương pháp quan sát để lấy được các thông tin phục
vụ cho việc trình bày luận cứ thực tế. Có thể sử dụng các phương tiện ghi âm, ghi
hình hoặc sử dụng các phương tiện đo lường...
(3) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin.
Cách đặt câu hỏi là điều cần đặc biệt coi trọng, vì nó có ảnh hưởng quyết định tới
kết quả phỏng vấn.

(4) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra là đưa những câu hỏi in sẵn trong giấy, gửi trước đến những người
được phỏng vấn để nhận được ý kiến trả lời theo những câu hỏi mà người nghiên
cứu đặt ra. Sau đó phải xử lý kết quả điều tra dựa trên cơ sở thống kê toán.
[11,tr.67-93]
(5) Phương pháp thực nghiệm khoa học
Phương pháp thực nghiệm khoa học là một trong các phương pháp cơ bản, có
vai trò hết sức quan trọng trong NCKH, được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực
khoa học, đặc biệt là các khoa học tự nhiên. Thực nghiệm chỉ được sử dụng khi và
chỉ khi đặt ra bài toán làm sáng tỏ các mối liên hệ, sự phụ thuộc giữa các hiện tượng
nghiên cứu và sự thể hiện các giả định, kiểm định các giả thuyết.
Phương pháp thực nghiệm thường chia thành hai loại chính là thực nghiệm tự
nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Trong một thực nghiệm thường có 3
yếu tố biến đổi (gọi là biến) gồm biến độc lập, biến phụ thuộc, biến kiểm soát. [18,
tr.55-59]
1.2.3.2. Phương pháp xử lý thông tin
Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng phương pháp thống
kê toán sau đó trình bày dưới dạng bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị.
Xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra những phán đoán về bản
chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của sự kiện [11,tr.99].

21


1.2.4. Trình bày luận điểm khoa học
1.2.4.1. Hình thức trình bày kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu có thể được trình bày dưới dạng bài báo khoa học, tổng
luận khoa học, tác phẩm khoa học nhằm nhiều mục đích như công bố một ý tưởng
khoa học, hoặc cung cấp thông tin tóm tắt về hoạt động và thành tựu.
1.2.4.2. Thuyết trình kết quả nghiên cứu

Người thuyết trình luôn phải lưu ý rằng mỗi bản thuyết trình phải trả lời được
câu hỏi: Tác giả định chứng minh điều gì? Chứng minh bằng cái gì? Bản thuyết
trình phong phú nhờ luận cứ. Người nghiên cứu càng đưa được nhiều luận cứ thì
luận điểm càng có sức thuyết phục. [11,tr.106-119]
1.2.5. Đạo đức khoa học
Bên cạnh việc trang bị những nội dung về kĩ năng nghiên cứu, những nhà
nghiên cứu cần được trang bị những kiến thức về đạo đức khoa học, đó là tính trung
thực với bản thân và trung thực với tài sản khoa học chung của cộng đồng, đạo đức
trong sử dụng kết quả nghiên cứu. [11,tr.133]
1.3. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1.Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT
1.3.1.1. Mục đích công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
Theo công văn số 4241/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn triển khai hoạt
động NCKHvà tổ chức cuộc thi KHKT cấp quốc gia dành cho HS trung học năm
học 2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu ra mục đích hoạt động NCKH của
học sinh trung học như sau:
Góp phần đổi mới hình thức tổ chức hoạt động dạy học; đổi mới hình thức và
phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực của HS; nâng cao chất
lượng dạy và học.
Khuyến khích các cơ sở giáo dục ĐH - CĐ, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và
cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của HS trung học;
Tạo cơ hội để HS trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình;
tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập
quốc tế.
22


1.3.1.2.Yêu cầu trong công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
- Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của HS.
- Phù hợp với chương trình, nội dung dạy học trong nhà trường và đòi hỏi thực

tiễn của xã hội, phù hợp với định hướng giáo dục của các trường trung học.
- Không ảnh hưởng đến việc học tập chính khóa của HS.
- Đối với cuộc thi KHKT dành cho HS trung học yêu cầu đối tượng tham gia:
HS có hạnh kiểm, học lực học kỳ từ khá trở lên [22].
1.3.1.3. Nội dung và hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học của học sinh
Những vấn về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nằm trong các môn học
của trường trung học có liên quan đến việc áp dụng vào thực tiễn [19].
1.3.1.4. Kinh phí phục vụ nghiên cứu khoa học
1.3.1.5. Trách nhiệm và quyền lợi của học sinh khi tham gia NCKH
(1) Trách nhiệm của HS
Tích cực hưởng ứng và thực hiện đề tài NCKH đã đăng ký. Cần có sự giám
sát, hướng dẫn trong quá trình làm đề tài, phải có người bảo trợ khi tham gia NCKH
(có thể là GV, cán bộ nghiên cứu, nhà khoa học...). Trung thực trong NCKH; không
gian lận, sao chép trái phép, giả mạo; không sử dụng, trình bày nội dung, kết quả
nghiên cứu của người khác như là của mình. Chấp hành các quy định hiện hành về
hoạt động khoa học và công nghệ của trường. Không được tham gia nghiên cứu DA
nghiên cứu mầm bệnh, hóa chất độc hại hoặc ảnh hưởng đến môi trường.
(2) Quyền lợi của HS
Được tạo điều kiện sử dụng các thiết bị sẵn có của cơ sở để tiến hành NCKH;
được tham gia các Cuộc thi KHKT. Kết quả NCKH của HS có thể được công bố
trên các kỷ yếu, tạp chí và các phương tiện thông tin khác [19].
1.3.1.6. Thuận lợi và khó khăn khi học sinh THPT nghiên cứu khoa học
(1). Thuận lợi
Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, GV đã
thực hiện đổi mới PPDH tích hợp nhiều PPDH tích cực như DHTDA, dạy học
nhóm, dạy học sử dụng công nghệ thông tin,… để chính các em tìm ra câu trả lời

23



cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, kích thích tính chủ động và đề cao tinh
thần tự chủ, sáng tạo của các em. Nội dung giảng dạy theo hướng gợi mở, giới thiệu
những vấn đề mới, cập nhật những kiến thức và thông tin thời sự về mặt khoa học
cho HS. Qua đó đã rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết, làm
việc nhóm và hình thành năng lực NCKH cho HS. Điều này cũng giúp các em trong
việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, làm quen dần với phương pháp nghiên cứu. Sự cải
thiện về cơ sở vật chất của trường như thư viện, tài liệu tham khảo, phòng máy,
internet… cũng tạo điều kiện cho các em NCKH cả về vật chất lẫn tinh thần trong
phạm vi có thể. Việc tổ chức cuộc thi KHKT dành cho HS trung học là cơ hội tốt cổ
vũ, phát động công tác NCKH, kỹ thuật trong nhà trường và HS trung học.
HS nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt, đặc biệt là về chuyên môn, phương
pháp NCKH của các GV, giảng viên, cán bộ khoa học hoặc sự hỗ trợ của các Viện,
các trường Đại học. GV còn hướng dẫn HS cách tự khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu
cuộc sống xung quanh; tạo sự ham muốn khám phá, say mê khoa học của các em.
Điều quan trọng là thông qua NCKH sẽ khơi nguồn cho những sáng tạo và
đánh thức những khả năng tiềm ẩn của mỗi HS, phát huy tối đa tính trẻ, khả năng tư
duy đó là những ý tưởng khoa học mạnh dạn và táo bạo những cũng không thiếu
tính hiệu quả và khả thi cao.
(2). Khó khăn
Bên cạnh đó, hoạt động này trong quá trình triển khai cũng gặp phải không ít
khó khăn: Việc triển khai NCKH đối với HS là rất mới với các trường trung học
nên nhiều trường vẫn còn rất bỡ ngỡ trong công tác hướng dẫn, quản lý cũng như
việc tổ chức công tác NCKH. Về nhận thức của phụ huynh, nhiều người vẫn cho
rằng đề ra việc NCKH đối với HS phổ thông là quá xa vời, các em chỉ cần nắm
vững kiến thức và kỹ năng ở chương trình giáo dục phổ thông, vượt qua kỳ thi tốt
nghiệp và tuyển sinh ĐH là đạt yêu cầu, nên sẽ khó nhận được sự ủng hộ về vật
chất, tinh thần của phụ huynh và của chính các em.
Về phía GV, cán bộ hướng dẫn, hầu hết các GV chỉ chú trọng đầu tư cho
chuyên môn nên kinh nghiệm NCKH vẫn còn hạn chế. Mặt khác GV, giảng viên


24


gặp không ít khó khăn vì bị động về mặt thời gian.
Về phía HS, khi tổ chức cho HS tham gia NCKH thì việc NCKH của HS
thực chất là bước đầu tập NCKH. Bản thân HS lại có vốn kinh nghiệm thực tế còn
nhiều hạn chế. Một áp lực không nhỏ với HS khi tham gia NCKH là vấn đề thời
gian. Chương trình học thường khá nặng với rất nhiều môn học cũng là một khó
khăn không nhỏ khi HS muốn tham gia NCKH. HS lớp 12 đã có thể vận dụng kiến
thức chuyên ngành vào nghiên cứu thì lại gặp khó khăn về thời gian, vì đây là thời
điểm học tập căng thẳng, thời gian biểu học tập trên lớp dày đặc lại thêm chạy đua
học thêm với các kỳ thi. Điều này rất khó tránh khỏi, nên việc dành thời gian để
nghiên cứu lại càng eo hẹp, khó có thể tập trung cho NCKH. Các đề tài nghiên cứu
do đó thường không đúng tiến độ hoặc chất lượng không như mong muốn. Trong
quá trình làm đề tài, còn gặp nhiều khó khăn như việc thu thập số liệu do không xác
định được địa bàn thu thập đồng thời một số trường hợp còn bị ngăn cản; quá trình
phát triển mô hình còn sơ sài, thiếu thiết bị, kĩ thuật, tay nghề lắp ráp còn hạn chế
nên việc làm ra một mô hình như đã thiết kế là rất khó.
Vấn đề tài chính cũng là bài toán nan giải đối với việc NCKH của HS hiện
nay. Việc tìm kiếm những tài liệu quan trọng và mang tính thực tế hay điều tra, thiết
kế mô hình thì rất khó khăn, tốn kém vượt quá khả năng kinh phí của các em. Nếu
không được gia đình, nhà trường, các cơ quan quan tâm, ủng hộ về tài chính thì HS
không thể thực hiện được đề tài nghiên cứu.
Nguồn lực tài chính ít ỏi, cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm hiện đại
cho công tác này ở nhiều trường còn thiếu, chưa thực sự phong phú, chủ yếu các em
phải tìm trên báo chí, tạp chí, phương tiện thông tin, internet... [15], [26], [27], [28]
1.3.1.7. Những yếu tố làm nên một công trình thành công
Đưa hoạt động NCKH thành một bộ phận của chương trình học phổ thông
trung học, thường xuyên đổi mới PPDH, cách kiểm tra đánh giá.
Tổ chức hội thảo, tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ quản lí, GV, HS về phương

pháp NCKH, về tổ chức hoạt động NCKH. Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền rộng rãi
mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động NCKH của HS đến cán bộ quản lí, GV, HS,

25


×