Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Thực trạng xuất khẩu gạo của việt nam giai đoạn 2008 2015 giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của việt nam trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (577.31 KB, 10 trang )

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
 

Trong bối cảnh hoạt động kinh tế  thế  giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ,  

hoạt động thương mại giữa các quốc gia ngày càng được đẩy mạnh đòi hỏi mỗi  
quốc gia phải chủ động tham gia khai thác lợi thế của mình trong phân công lao 
động quốc tế  và trao đổi thương mại quốc tế.   Việt Nam là một nước nông 
nghiệp có nền sản xuất lúa nước rất phát triển. Gạo không những đáp ứng đủ 
nhu cầu lương thực thực phẩm trong nước, mà còn là sản phẩm xuất khẩu chủ 
lực đem lại nguồn GDP lớn hàng năm cho nước ta. Tuy  nhiên, thị  trường xuất  
khẩu gạo của Việt Nam những năm gần đây có nhiều biến động, gạo xuất 
khẩu của Việt Nam vấp phải sự  cạnh tranh gay gắt của Thái Lan,  Ấn Độ  và 
một số thị trường mới nổi như Campuchia làm gạo xuất khẩu của Việt Nam bị 
mất thị phần ở các thị trường chính. Để nghiên cứu rõ về thị trường xuất khẩu 
gạo của Việt Nam em đã chọn đề  tài: “Thực trạng   xuất khẩu gạo của Việt  
Nam giai đoạn 2008­2015. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của  
Việt nam trong giai đoạn hiện nay”.
Bài nghiên cứu sử  dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích số 
liệu từ  các tổ  chức để  đưa ra các đánh giá cho ngành sản xuất gạo xuất khẩu 
của Việt Nam.
Bài nghiên cứu được chia làm 3 chương:
Chương 1: Diễn biến thị trường gạo thế giới giai đoạn 2008­2015
Chương 2: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008­2015

1


Chương 3: Đề  xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt  


Nam giai đoạn hiện nay.

CHƯƠNG 1: DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG GẠO THẾ GIỚI 
GIAI ĐOẠN 2008­2015
1.1 Thị trường gạo thế giới giai đoạn 2008­2014
1.1.1 Thương mại gạo thế giới
Thị trường gạo thế giới giai đoạn 2008­2015 được đánh giá là tương đối 
ổn định, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu luôn đạt trên 37 tỷ USD.
Nguồn: Trade map
Giai đoạn 2008­2014, tổng kim ngạch xuất khẩu gạo trên thế  giới trung 
bình đạt 22,624,625.71 nghìn USD.
Thương mại gạo thế giới nhìn chung có xu hướng tăng nhưng tăng không 
đáng kể  (kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 5,617,583 nghìn USD tương  ứng tăng 
11.35% trong vòng 7 năm tức trung bình mỗi năm tăng khoảng 1,6%). Giá trị xuất 
khẩu có xu hướng tăng nhẹ, mức tăng khoảng 2.1%/năm.
Năm 2008, kinh tế  thế  giới rơi vào khủng hoảng, do đó đến năm 2009, 
thương mại gạo giảm nhưng đến năm 2010 đã có dấu hiệu phục hồi (do gạo là 
mặt hàng thiết yếu nên  ảnh hưởng của khủng hoảng đến mặt hàng này không  
kéo dài), từ năm 2011 trở đi thương mại gạo duy trì  ở  mức khá ổn định (giá trị 
kim ngạch xuất nhập khẩu trung bình khoảng 48,435,321 nghìn USD).
1.1.2 Những nhà xuất khẩu gạo chính trên thế giới
Năm 2014, các quốc gia trên thế  giới xuất khẩu được hơn 40 triệu tấn  
gạo với giá trung bình khoảng 615 USD/tấn.
Trong giai đoạn 2008­2014, ba quốc gia Thái Lan, Việt Nam,  Ấn Độ  thay 
nhau nắm giữ danh hiệu quốc gia xuất khẩu gạo số một thế giới.

2


Bảng 1.1: Xuất khẩu gạo tại ba quốc gia dẫn đầu

Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014

Thái Lan
Số lượng

Ấn Độ
Giá trị

(tấn)
10,216,040
8,619,870
8,939,630
10,706,229
6,734,427
6,612,620
10,969,362

(USD)
6,107,572
5,046,464
5,341,082
6,507,473
4,632,270

4,420,370
5,438,804

Số lượng
(tấn)
3,535,578
2,151,259
2,266,742
5,018,096
10,569,565
11,387,082
11,162,015

Việt Nam
Giá trị
Số lượng
(USD)
2,843,305
2,398,163
2,295,813
4,073,331
6,127,952
8,169,519
7,905,650

(tấn)
4,745,042
5,968,762
6,894,169
7,116,616

6,594,736
-

Giá trị
(USD)
2,895,938
2,666,062
3,249,502
3,659,212
3,677,939
2,926,255
-

Nguồn: Trade Map


Thái Lan: là quốc gia dẫn đầu trong 4 năm liên tiếp cả về số lượng 

và giá trị  gạo xuất khẩu (2008 ­ 2011). Năm 2012, lượng gạo Thái Lan giảm  
mạnh (giảm 1/3 so với năm 2011) và Thái Lan để mất ngôi vị xuất khẩu gạo số 
1 vào tay  Ấn Độ. Lý do xảy ra hiện tượng này là vào khoảng cuối quý 3/2011, 
Thái Lan cho áp dụng chính sách mua gạo của nông dân với giá cao hơn 50% so 
với giá thị trường, qua đó khiến giá gạo Thái tăng, làm giảm lượng xuất khẩu. 
Tuy nhiên đến năm 2014, Thái Lan đã phục hồi được thị trường xuất khẩu gạo  
của mình và có thể  đến năm 2015 sẽ  diễn ra trận chiến tranh vương quyết liệt  
giữa Thái Lan và  Ấn Độ. Gạo Thái xuất khẩu có chất lượng  ở  mức cao do đó  
giá gạo Thái luôn dẫn đầu so với các sản phẩm cùng loại trong khu vực. Thái  
Lan chủ  yếu xuất khẩu gạo sang thị  tr ường: Nigeria (9.8% năm 2014), Benin  
(8.9% năm 2014), Mỹ (8.3% năm 2014), Trung Quốc (7.1% năm 2014).



Ấn Độ: Ấn Độ thường giữ vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế 

giới từ  giữa thập niên 90 của thế  kỷ  trước, song xuất khẩu của nước này dao 
động khá mạnh, bởi chính phủ có chính sách kiểm soát chặt mức dự trữ. Tháng 
9/2011 chính phủ  đã nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu gạo phi – basmati và sau đó 
xuất khẩu đã tăng từ dưới 3 triệu tấn lên hơn 10 triệu tấn, trở thành nước xuất  
khẩu lớn nhất thế  giới năm 2012. Là quốc gia mới nổi về  mặt hàng gạo xuất 
khẩu, năm  2012  đánh dấu sự  thâm nhập mạnh mẽ  của gạo  Ấn  Độ  vào thị 
trường xuất khẩu gạo thế  giới (kể  từ  khi  Ấn Độ  gia tăng gấp đôi lượng gạo  
3


xuất khẩu so với năm 2011). Từ  đó đến nay, quốc gia này vẫn duy trì được  
lượng gạo xuất khẩu lớn mỗi năm (trung bình ở mức trên 11 triệu tấn/năm). Ấn  
Độ  nổi tiếng với thương hiệu gạo basmati, đây là loại gạo có giá trị  cao nhất 
trong số  các mặt hàng gạo xuất khẩu của quốc gia này. Thị  trường xuất khẩu 
chủ yếu của Ấn Độ là: Ả Rập Saudi (17.4% năm 2014), Iran và các quốc gia Hồi  
giáo (16,2%) và một số quốc gia ở Châu Phi.


Việt Nam: Là quốc gia có tiềm năng lớn về  xuất khẩu gạo, đã có 

những thời điểm, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam lập kỷ  lục và dẫn đầu  
thế  giới (quý 3 năm 2011). Tuy nhiên do chưa tận dụng tốt được lợi thế  của  
mình và chưa có những cải biến phù hợp nên đến cuối năm, Việt Nam chỉ xếp ở 
vị  trí thứ  hai. Giá trị  gạo xuất khẩu của Việt Nam  ở  mức trung bình thấp do  
công nghệ  xay xát, đánh bóng còn hạn chế, các loại gạo xuất khẩu cũng bị  hai  
quốc gia Thái Lan và Ấn Độ  cạnh tranh gay gắt. Thị trường xuất khẩu chủ lực  
của Việt Nam là: Trung Quốc (34.1% năm 2014), Philippin (18,7% năm 2014), 

bên cạnh đó là các quốc gia Malaysia, Indonesia (trên 7.5% năm 2014).
Ba quốc gia trên có nguồn cung cho xuất khẩu khá đều đặn bởi đều là nơi  
được thiên nhiên ưu đãi trong việc sản xuất lúa gạo, cùng với đó việc áp dụng 
khoa học công nghệ  cải tiến năng suất chất lượng cũng được các quốc gia này 
chú trọng. Mặt khác lượng gạo dự trữ  của ba nước này luôn  ở  mức cao do đó  
nguồn cung luôn được đảm bảo.
1.2  Những nhà nhập khẩu gạo chính trên thế giới
Hiện nay, mặt hàng gạo được nhập khẩu chủ yếu từ các quốc gia: Trung  
Quốc,  Ả  Rập Saudi, Iran và các nước Cộng hòa Hồi giáo và một số  quốc gia  
thuộc châu Phi.


Trung quốc: là quốc gia đông dân nhất thế  giới, gạo là lương thực 

được sử  dụng chủ  yếu. Do đó đây là thị  trường lớn của mặt hàng gạo xuất 
khẩu. Năm 2014, Trung quốc nhập hơn 2,5 triệu tấn gạo, giá trị  ước đạt 1,2 tỷ 

4


USD. Tuy nhiên quốc gia này nhập chủ yếu là mặt hàng gạo có phẩm chất trung 
bình và là bạn hàng chủ  yếu với các quốc gia: Việt Nam, Thái Lan, Pakistan, 
Campuchia.


Ả  Rập Saudi: Là một quốc gia hồi giáo, giàu tài nguyên, chủ  yếu  

nhập mặt hàng gạo cao cấp, có giá trị  cao (trung bình trên 1000 USD/tấn, năm  
2014), sản lượng nhập cũng ở mức tương đối cao (gần 1,5 triệu tấn, năm 2014). 
Các đối tác thương mại gạo chủ yếu là: Ấn Độ, Pakistan, Mỹ, Thái Lan.



Iran và các nước Cộng hòa Hồi giáo: là thị trường tương đối lớn về 

lượng gạo nhập khẩu (trên 1 triệu tấn, 2014) nhưng là nơi nhập khẩu nhiều  
nhất sản phẩm gạo cao cấp (giá trị  trung bình đạt trên 1200 USD/tấn). Đây là  
nơi quy tụ của các loại gạo ngon và là thị trường hướng tới của tất cả các quốc  
gia xuất khẩu gạo cao cấp như: Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan, Kuwait, Mỹ.


Các quốc gia châu Phi (phải kể  đến như  Benin, Nigeria và một số 

quốc gia khác): là một thị  trường tiềm năng cho mặt hàng gạo xuất khẩu, đặc 
biệt là gạo phẩm chất trung bình. Năm 2014, Châu Phi nhập khẩu lượng gạo trị 
giá hơn 6 tỷ USD. Chỉ tính riêng hai quốc gia Benin và Nigeria: lượng gạo nhập  
khẩu khoảng 3 triệu tấn, giá trị ước đạt trên 1,7 tỷ USD. Năm 2015 và các năm 
sau được dự báo đây sẽ  là nơi nhập khẩu gạo với số lượng lớn nhất thế giới. 
Hiện nay, các quốc gia cung cấp gạo chủ yếu cho châu Phi gồm có: Thái Lan, 
Ấn Độ, Singapore, Việt Nam, Pakistan.
1.3 Dự báo tình hình thị trường gạo thế giới năm 2015­2016
Bảng 1.2: Sản xuất và thương mại gạo toàn cầu năm 2012 – 2016
Năm/Chỉ tiêu
2012
2013
2014

5

Sản lượng
467,673

472,792
478,390

Thương mại
39,948
39,466
43,297

Đơn vị: Triệu tấn
Tiêu thụ
Tôn kho
̀
460,958
106,862
468,888
110,766
481,556
107,600


Ước tính 2015
478,808
42,464
484,621
101,787
Dự báo 2016
474,023
42,021
487,517
  88,293

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ



Tổng sản lượng gạo toàn cầu

Theo báo cáo Markets & Trade tháng 10/2015 của Bộ  Nông nghiệp Mỹ 
(USDA),  ước tính sản lượng gạo toàn cầu năm 2015  ở  mức 478,808 triệu tấn. 
Thương mại gạo toàn cầu ở mức 42,464 triệu tấn. Tiêu thụ gạo toàn cầu được 
ước tính tăng nhẹ  lên mức 484,621 triệu tấn. Tồn kho gạo toàn cầu cuối năm  
2015 ở mức 101,787 triệu tấn. USDA giữ nguyên ước tính lượng xuất khẩu gạo  
của các nước lớn trong năm 2015.
USDA dự báo mức sản lượng 474,02 triệu tấn cho niên vụ 2015/16, giảm 
1,75 triệu tấn so với  ước tính tháng 9/2015 và giảm 4,79 triệu tấn so với sản  
lượng niên vụ 2014/15 (478,81 triệu tấn) chủ yếu do sản lượng gạo giảm tại Ấn  
Độ và Thái Lan. Tiêu thụ gạo toàn cầu niên vụ 2015/16 dự báo đạt kỷ lục 487,5 
triệu tấn, tăng nhẹ so với ước tính hồi tháng 9.


Thương mại gạo

Thương mại gạo toàn cầu được dự  báo giảm nhẹ  xuống mức 42,021  
triệu tấn trong khi đó tiêu thụ gạo được dự báo tăng nhẹ  lên mức 487,517 triệu  
tấn.
Bảng 1.3: Xuất khẩu gạo năm 2014, dự báo năm 2015­2016 
Tên nước
Ấn Độ
Thái Lan
Việt Nam
Pakistan

Campuchia
Myanmar
6

Năm 2014
10,900
10,969
  6,325
  3,600
  1,000
  1,688

Năm 2015
11,50
9,00
6,20
4,00
1,10
2,00

Đơn vị: Triệu tấn
Năm 2016
9,50
9,50
7,00
4,50
1,00
1,80



Uruquay

  0,957
0,95
0,95
Nguồn: Báo cáo Markets & Trade của USDA tháng 10/2015

Ấn Độ và Thái Lan được dự báo vẫn là hai quốc gia xuất khẩu gạo hàng 
đầu thế giới. Việt Nam vẫn nằm trong top 3 các nước có sản lượng xuất khẩu  
gạo lớn nhất tuy nhiên về giá trị thương mại lại đang bị hai nước Ấn Độ và Thái 
Lan bỏ xa (Bảng 1.3).
Về  phía các quốc gia nhập khẩu gạo, Trung Quốc vẫn là quốc gia nhập  
khẩu gạo lớn nhất thế giới và lượng gạo cần nhập có xu hướng tăng nhẹ trong 
giai đoạn này, các quốc gia khác hầu như  vẫn giữ  mức gạo nhập khẩu tương  
đối ổn định (Bảng 1.4)
Bảng 1.4: Nhập khẩu gạo năm 2014, dự báo năm 2015­2016 
Tên nước
Trung Quốc
Nigeria
Indonesia
Malaysia
Philippines
Bờ Biển Ngà
Senegal
Ghana


Đơn vị: Triệu tấn
Năm 2014
Năm 2015

Năm 2016
4,168
4,50
4,7
3,200
4,00
3,0
1,225
1,25
1,3
0,989
0,95
1,0
1,800
1,80
1,8
0,950
0,95
0,9
1,200
1,10
1,1
0,590
0,58
0,6
Nguồn: Báo cáo Markets & Trade của USDA tháng 10/2015

Lượng gạo tồn kho

Tồn kho gạo của 5 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế gi ới là Ấn Độ, Thái  

Lan, Pakistan, Mỹ  và Việt Nam đạt mức 41 triệu tấn vào năm 2012 và kỳ  vọng 
giảm xuống 30 triệu bao trong năm nay trước khi chạm mức 22 triệu tấn vào  
năm 2016, mức ước tính thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng gạo vào năm 2007 – 
2008 (theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế  (IRRI)). Trong khi  
đó, USDA dự  báo tồn kho gạo toàn cầu niên vụ  2015/16 giảm do nguồn cung  

7


gạo giảm,  ước đạt 88,3 triệu tấn, giảm 1,9 triệu tấn so với  ước tính tháng 
9/2015 và là mức thấp nhất kể  từ  niên vụ  2007/08, đồng thời giảm 22,5 triệu 
tấn tức giảm 20% kể từ niên vụ  2012/13. Tồn kho gạo niên vụ  2015/16 dự  báo 
giảm đối với Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Mỹ, bù lại tồn kho gạo 
tăng đối với Philippines.
Mới đây, Việt Nam đã trúng 2 gói thầu xuất khẩu gạo với khối lượng gần 
1,5 triệu tấn sang Indonesia và Philippines, làm dấy lên thông tin dự trữ gạo của  
Việt Nam chỉ  còn khoảng 1,5 triệu tấn, dù đại diện Bộ  Nông nghiệp và Phát 
triển nông thôn khẳng định rằng vẫn còn gần 4 triệu tấn gạo để xuất khẩu.


Giá gạo

IMF dự báo giá gạo bình quân năm 2016 giảm 13% so với năm 2015. WB 
dự  báo giá gạo tiếp tục khuynh hướng giảm 2­3% năm 2016­2017 và giảm 7%  
vào năm 2020.
Hiện tượng El Nino năm nay thuộc dạng mạnh nhất kể  từ  năm 1997­
1998, đã gây ra hạn hán tại khu vực Đông Nam Á và một số vùng ở Australia, kỳ 
vọng kéo dài đến năm 2016, theo đánh giá của Cục Khí tượng Australia. Điều 
kiện thời tiết khô hạn do El Nino gây ra và tồn kho gạo toàn cầu giảm kỳ vọng 
thúc đẩy giá gạo tăng trong những tháng tới sau đà giảm giá nhiều năm qua. Giá 

gạo suy yếu kể  từ  năm 2012 do nguồn cung quá nhiều, đặc biệt tại nước sản  
xuất lớn là Thái Lan và các đồng tiền nội tệ   ở  nhiều nước xuất khẩu gạo lớn  
duy trì xu thế giảm giá.
1.4 Xu thế xuất khẩu và nhập khẩu gạo trên thế giới đến năm 2022
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo mậu dịch gạo toàn cầu sẽ tăng 2,5%  
mỗi năm từ 2013 tới 2022. Vào năm 2022, mậu dịch gạo thế giới sẽ đạt 47 triệu 
tấn, cao hơn 42% so với mức trung bình những năm 2015­2020.
Những cơ  sở  để  đưa ra dự  đoán này bao gồm: Nhu cầu tăng vững (chủ 
yếu bởi gia tăng dân số và tăng thu nhập ở những nước đang phát triển) và một  

8


số  nước nhập khẩu chủ  chốt không thể  tăng mạnh sản lượng. Từ  giữa thập 
niên 90 của thế  kỷ  trước, phần của mậu dịch gạo thế  giới trong tổng tiêu thụ 
gạo đã tăng từ  khoảng 4% trong nửa cuối thế kỷ XX lên gần 8% hiện nay, và  
dự báo xu hướng này vẫn còn tiếp diễn.
1.4.1 Các nhà nhập khẩu gạo trên thế giới


Châu Phi sẽ nhập khẩu nhiều gạo nhất vào đầu thập kỷ tới

Tại châu Phi và Trung Đông, tăng trưởng mạnh về nhu cầu bởi dân số và 
thu nhập tăng nhanh, trong khi mức tăng sản lượng bị  hạn chế.  Ở  Bắc Phi và 
Trung Đông, sản lượng tăng bị hạn chế bởi khí hậu. Ở châu Phi cận Sahara, sản  
lượng tăng bị hạn chế bởi hạ tầng cơ sở yếu kém. Trong khi đó, cả châu Phi và  
Trung Đông chiếm gần một nửa mức tăng mậu dịch gạo toàn cầu trong giai  
đoạn từ nay tới 2025. Châu Phi là nơi nhập khẩu tăng nhanh nhất.
Biểu đồ 1.2: Nhập khẩu gạo thế giới 


 Nguồn USDA
 


Indonesia và Philippines dự báo sẽ trở thành những nước nhập khẩu 

gạo lớn nhất. Gần đến mốc 2025, hai thị  trường này sẽ  nhập khẩu lần lượt 4 
triệu và 2 triệu tấn.

9




Nhập khẩu vào Trung Quốc đã tăng gần 2 triệu tấn từ  2010 đến 

2012. Tới 2025, dự báo nhập khẩu của Trung Quốc sẽ thấp hơn mức kỷ lục cao  
của năm 2012, song vẫn  ở  mức cao bởi giá gạo nhập khẩu rẻ  hơn giá nội địa, 
nhất là từ Việt Nam.


Các nước nhập khẩu khác (Iran, Iraq, Malaysia, và Saudi Arabia) 

mỗi nước sẽ  nhập khẩu trên 1,3 triệu tấn. Bốn thị  trường này khó có thể  tăng 
sản lượng và dự báo sẽ chiếm tổng cộng trên 10% mức tăng nhập khẩu dự kiến 
cho toàn cầu.


Nhập khẩu gạo vào các nước châu Á khác sẽ  chiếm gần hết phần 


còn lại trong mức tăng nhập khẩu gạo thế  giới. Dân số  và thu nhập trung bình  
người tăng là lý do khiến nhập khẩu ở những thị trường này gia tăng.
1.4.2 Các nhà xuất khẩu gạo trên thế giới


Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ vẫn dẫn đầu

USDA dự báo châu Á tiếp tục cung cấp phần lớn gạo xuất khẩu trên toàn 
cầu trong giai đoạn từ nay tới 2025.
Biểu đồ 1.3: Xuất khẩu gạo thế giới 

Nguồn: USDA

10



×