Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

tiểu luận cao học môn xử lý tình huống tinh huong quan ly tai nguyen o ha tinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.09 KB, 17 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan trọng của
quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có
hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát
triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng an
ninh. Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ, sử dụng có hiệu quả
mọi tài nguyên khoáng sản của đất nước, khuyến khích phát triển công nghiệp
khai thác và chế biến khoáng sản; bảo vệ môi trường môi sinh và an toàn
trong hoạt động khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản. Trong những
năm qua Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý,
bảo vệ và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản.
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc duyên hải Bắc Trung Bộ nằm phía Đông dãy núi
Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Đông. Là tỉnh giàu
tài nguyên khoáng sản, được phân bổ rải rác ở các huyện trong tỉnh từ ven
biển đến vùng trung du miền núi, có 91 mỏ và điểm khoáng sản. Nhóm kim
loại: có quặng sắt nằm tại các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Can
Lộc. Đặc biệt là có mỏ sắt Thạch Khê - Thạch Hà có trữ lượng ước tính 544
triệu tấn, đang xúc tiến đầu tư khai thác; có mỏ Titan chạy dọc theo bờ biển từ
Nghi Xuân đến Kỳ Anah, trữ lượng khoảng 4,6 triệu tấn (chiếm hơn 1/3 trữ
lượng của cả nước). Đây là các loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao, có thị
trường tiêu thụ, giá trị xuất khẩu hàng năm trên 300 tỷ đồng; mỏ vàng chủ yếu
là dạng sa khoáng nằm rải rác ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh;
Mỏ nước khoáng Kim Sơn – Hương Sơn; ngoài ra còn có mỏ thiếc Hương
Sơn, chì kẽm ở Nghi Xuân...; Nhóm phi kim như: các nguyên liệu gốm sứ
thủy tinh có trữ lượng khá lớn nằm rải rác ở các huyện Hương Sơn, Hương
Khê, Can Lộc, Đức Thọ; Nhóm nhiên liệu: có than nâu, than đá ở Hương
Khê, than bùn ở Đức Thọ có chất lượng cao nhưng trữ lượng chưa thăm dò
được; Nguyên liệu chịu lửa gồm: quaczit ở Nghi Xuân, Can Lộc; dolomit ở

1



Hương Khê; pyrit ở Kỳ Anh; Nguyên liệu làm phân bón; ngoài than bùn còn
có photphorit ở Hương Khê, chất lượng tốt, hiện đang được khai thác;
Nguyên vật liệu xây dựng; các loại đá, cát, sỏi có ở khắp các huyện trong tỉnh.
Các mỏ khoáng sản trên địa bàn tỉnh được Chính phủ giao chủ yếu cho Tổng
công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh tổ chức thực hiện việc khai thác,
chế biến và kinh doanh.
Tổng công ty khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh (MITRACO) là
doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Hà Tĩnh được thành lập theo
quyết định số 61/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ. Tổng công ty
hoạt động sản xuất, kinh doanh theo mô hình công ty mẹ, công ty con trên
nhiều lĩnh vực: khai thác, chế biến khoáng sản, kinh doanh khách sạn, nhà
hàng, văn phòng cho thuê; sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; dịch vụ du
lịch lữ hành trong và ngoài nước, kinh doanh siêu thị, thương mại tổng hợp,
khai thác, kinh doanh thủy điện, nuôi trồng, chế biến nông sản thực phẩm,
thức ăn gia súc, kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ vận tải
hàng hoá đường bộ, chế tạo, lắp đặt, sửa chữa máy móc thiết bị, nhập khẩu
trang thiết bị, máy móc, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề, giám định hàng
hoá, phân tích sản phẩm, dệt may xuất khẩu, quản lý, khai thác, dịch vụ cảng
biển, logictic, tàng trữ, chiết nạp gas, xăng dầu. Mitraco có 27 đơn vị thành
viên, trong đó có 22 công ty, xí nghiệp trực thuộc, 5 công ty liên doanh liên
kết. Năm 2007 Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh đã thực hiện
được một số kết quả như sau:
Năm 2007 công ty mẹ và các công ty thành viên trong Tổng công ty đã
nỗ lực phấn đấu trong mô hình tổ chức mới với tính tự chủ cao và tự chịu
trách nhiệm cao hơn so với các năm trước và được một số thành tựu đó là:
Doanh thu Tổng công ty đạt trên 620 tỷ đồng vượt 9,8% kế hoạch và
tăng 15,8% so với năm 2006. Trong đó doanh thu khoáng sản 514 tỷ đồng tăng
18% so với năm 2006 (kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của Titan đạt 24,2
triệu USD), sản xuất các sản phẩm khác, dịch vụ thương mại du lịch và du lịch

2


khác đạt 106 tỷ đồng, tăng 14,8% so với năm 2006, tỷ lệ tính theo doanh thu
giữa các sản phẩm khoáng sản với các sản phẩm dịch vụ khác là 485%.
- Sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm khoáng sản: Titan đạt 190 ngàn tấn,
than 24 ngàn tấn, mangan 29 ngàn tấn, đá xây dựng 40ngàn m 3, đáp ứng một
phần nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩua.
- Lao động bình quân trên 3.700 người với mức thu nhập bình quân
2,864triệu đồng/người/tháng.
- Nộp ngân sách nhà nước là 32 tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2006.
Tổng số tài sản năm 2007 là 515 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2006, nguồn
vốn chủ sở hữu là 315 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2006. Tổng công ty đã
bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh. Đảm bảo sản xuất – kinh doanh
có hiệu quả tăng trưởng cao, đời sống người lao động được cải thiện rõ rệt.
- Về đầu tư xây dựng cơ bản trong năm đã thực hiện gồm 137 tỷ đồng,
tăng 20,8% so với năm 2006, nhờ vào việc hoàn thành đầu tư đưa vào vận
hành các dự án; nhà máy chế biến thức ăn gia súc, Trung tâm chăn nuôi lợn
siêu nạc, khởi công xây dựng nhà máy thủy điện Hương Sơn.
I.VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH.

Cũng như ở nhiều địa phương trong cả nước, công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là cả vấn đề phức tạp, đòi
hỏi phải đầu tư rất nhiều thời gian và kinh phí của cả chính quyền địa phương
và Tổng công ty khoáng sản – thương mại Hà Tĩnh. Nhưng hiệu quả có lúc,
có việc làm chưa cao, tình trạng khai thác trái phép “Titan thổ phỉ” đã được
Tổng công ty khoáng sản – thương mại Hà Tĩnh và chính quyền địa phương
dẹp bỏ nhiều năm nay. Nhưng vẫn chưa hết vẫn còn xảy ra ở nơi này, nơi
khác vào các thời điểm khác nhau, trong và ngoài khai trường sản xuất của

các công ty, dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau gây rất nhiều khó khăn
cho công ty quản lý. Tình trạng chế biến kinh doanh titan trái phép vẫn còn

3


xảy ra ở nhiều địa bàn trong tỉnh gây mất trật tự trị an – xã hội ở địa phương
và gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
Tình trạng mất an toàn trong sản xuất – kinh doanh khoáng sản còn xảy
ra nhiều cả đối với các công ty trong Tổng công ty khoáng sản – thương mại
Hà Tĩnh và ngoài Tổng công ty. Chỉ tính riêng năm 2007 trong ngành khai
thác khoáng sản tại Hà Tĩnh để xảy ra 8 vụ sự cố tai nạn lao động làm chết 01
người, 11 người bị thương.
Liên quan đến bảo vệ môi trường để xảy ra sự cố vỡ đập thủy lợi xã
Cẩm T đã làm ảnh hưởng đến đời sống của một số dân thuộc huyện Cẩm
Xuyên. Bên cạnh đó sự quản lý thiếu chặt chẽ việc khai thác các lộ vỉa titan ở
xí nghiệp khoáng sản Cẩm Xuyên, Công ty khai thác kinh doanh đá Như
Xuân và thiếu giám sát các xe vận chuyển titan, đất đá trên đường quốc lộ đã
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, làm giảm chất lượng nguồn
nước thuỷ lợi các hổ ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Như Xuân.
Trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản đã không hoàn thành đúng tiến
độ, việc chảy thử bàn giao nhà máy thủy điện Hương Sơn, một số dự án quan
trọng có nguy cơ chậm tiến độ mặc dù đã được khởi công xây dựng, công tác
chuẩn bị đầu tư xây dựng chưa đáp ứng được tiến độ và chất lượng.
Công tác quản trị, chi phí, quản lý sản phẩm ở một số công ty đã bộc lộ
yếu kém do nguyên nhân chủ quan (một số công ty như: công ty than, công ty
mangan). Đã xuất hiện tư tưởng ỷ lại vào sự điều chỉnh cuối năm của Tổng
công ty, lãnh đạo đơn vị đã thiếu nhạy cảm, không giải quyết kịp thời và thoả
đáng các kiến nghị của người lao động, người dân trong vùng giải phóng mặt
bằng gây nên sự bức xúc như ở Xí nghiệp khoáng sản Cẩm Xuyên, xí nghiệp

khoáng sản Kỳ Anh.
* Tổng số các vụ vi phạm nêu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cùng ngành
khai thác khoáng sản đã xử lý trong năm 2007 trong đó:
- Vi phạm an toàn trong khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản 16
vụ (xử lý hình sự 3 vụ, xử lý hành chính 13 vụ).
4


- Vi phạm trong khai thác than trái phép “titan thổ phỉ” 15 vụ (tổ chức
đánh sập các lán trại khai thác titan trái phép trong và ngoài khai trường của
các mỏ là 15 vụ) xử lý hành chính 18 đối tượng.
- Vi phạm trong vận chuyển, kinh doanh titan trái phép 34 vụ thu giữ
380 tấn elemenite các loại và 8 phương tiện vận chuyển (khởi tố xử lý hình sự
2 vụ 5 đối tượng, xử lý hành chính 32 vụ thu 130 triệu đồng nộp ngân sách).
* Những nguyên nhân chính của tình trạng vi phạm nêu trên là do:
1. Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản của các cấp chính quyền
địa phương và của Tổng công ty còn nhiều yếu kém, khuyết điểm; cãcs quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về
khoáng sản còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ nhất là việc xử phạt đối với hành
vi khai thác, chế biến vận chuyển và kinh doanh khoáng sản trái phép.
2. Sự phối kết hợp giữa các ngành chức năng và chính quyền địa
phương các cấp chưa chặt chẽ, thường xuyên. Nhất là sự phối kết hợp giữa
Tổng công ty khoáng sản – thương mại Hà Tĩnh với chính quyền địa phương
còn nhiều bất cập trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội chung toàn tỉnh.
3. Cơ chế chính sách của địa phương, của Tổng công ty chưa khuyến
khích được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào khai thác, chế biến,
vận chuyển và kinh doanh khoáng sản nói chung và titan nói riêng và bảo vệ
tài nguyên khoáng sản theo quy định của pháp luật.
4. Nhiều đơn vị trong và ngoài tỉnh kể cả nước ngoài có nhu cầu mua
các sản phẩm khoáng sản titan để sử dụng, hoặc xuất khẩu sang nước ngoài,

do giá mua cao đã khuyến khích các tư thương đầu tư tiền thuê nhân công
khai thác, vận chuyển, buôn bán titan trái phép.
5. Sơ hở trong công tác bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản, hiện tượng bên
trong móc nối với bên ngoài trộm cắp tài sản, mua bán titan trái phép, gian lận
thương mại. Môi trường sinh thái còn nhiều ô nhiễm nặng. Vi phạm qui trình,
qui phạm kỹ thuật, vi phạm quy chế quản lý sử dụng lao động, thiếu kiểm tra

5


đôn đốc. Việc cổ phần hoặc doanh nghiệp nhà nước và cải cách thủ tục hành
chính còn chậm và kém hiệu quả.
Từ những nguyên nhân trên xin đề cập vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về khoáng sản (titan) mà trong đó
những quy định của các văn bản pháp luật không rõ ràng làm cho các cấp
chính quyền rất khó khăn trong việc áp dụng để xử lý, đồng thời tạo ra kẽ hở
cho các đối tượng lợi dụng để hoạt động kinh doanh khoáng sản trái phép
kiếm lời.
II. TÌNH HUỐNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN.

1. Nội dung vụ việc vi phạm.
Trong 34 vụ vi phạm trong vận chuyển, kinh doanh titan trái phép xảy
ra trong năm 2007 xin đề cập vụ vận chuyển titan trái phép xảy ra trong tháng
3 năm 2007 và về quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về khoáng sản gây nhiều tranh luận.
Ngày 14/3/2007, tổ công tác liên ngành gồm: Công an thị xã Hà Tĩnh,
đội quản lý thị trường, hạt kiểm lâm, ban chỉ huy quân sự thị xã Hà Tĩnh đã
tiến hành kiểm tra xe ô tô vận tải hàng mang biển soát 38H – 228X (do Trần
Văn A điều khiển) phát hiện trên xe ô tô này vận chuyển 22 tấn titan không

rõ nguồn gốc. Công an thị xã Hà Tĩnh đã tiến hành ghi lời khai, xác minh
nhân thân, thu thập tài liệu có liên quan, xác định được đối tượng vi phạm và
lập biên bản vi phạm hành chính đối với lái xe.
Công an thị xã Hà Tĩnh đã xác định:
Trần Văn A sinh năm 1972, thường trú tại tổ 14 phường P, thị xã Hà
Tĩnh đã vi phạm các lỗi:
- Không mang chứng minh nhân dân khi đi lại.
- Cản trở không chấp hành lệnh của cảnh sát giao thông khi vi phạm.
- Vận chuyển titan không có giấy tờ kèm theo.
- Xe ôtô BKS 38H – 228X chở hàng quá trọng tải cho phép của xe trên 5%.

6


Trần Văn A là chủ quản lý hợp pháp xe ôtô biển kiểm soát 38H- 228X
(chủ sở hữu của xe ôtô này là ông Nguyễn Ngọc B, trú tại thôn 4, xã Cẩm G,
huyện Cẩm Xuyên, Trần Văn A là lái xe do ông Nguyễn Ngọc B thuê).
Nhân thân lái xe Trần Văn A: ngày 04/01/2007 Trần Văn A điều khiển
xe môtô BKS 38H – 9571 gây tai nạn. Ngày 24/2/2007 công an thị xã Hà
Tĩnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 014745HT xử phạt Trần
Văn A bằng tiền 2.000.000đ theo đúng qui định tại điều 12, khoản 7 điểm c
của Nghị định số 152/2005/NĐ – CP ngày 15/12/2005; Trần Văn A đã thực
hiện quyết định xử phạt hành chính số 014745HT. Trong thời gian này vẫn
còn thời hiệu chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa hết một
năm chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại
khoản 1 điều 11 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL
UBTVQH ngày 02/7/2002.
2. Phương án đã xử lý.
Theo quy định tại khoản 4 điều 31, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
số 44/2002/PL – UBTVQH ngày 02/7/2002 vụ việc nêu trên thuộc thẩm

quyền xử lý vi phạm hành chính của Trưởng công an cấp huyện, thị xã tương
đương; Nhưng thời điểm này, công an thị xã Hà Tĩnh đang chờ quyết định
chức danh Trưởng công an thị xã (đồng thời Trưởng công an thị xã mới được
điều động đi nơi khác) nên không thực hiện được việc uỷ quyền xử lý vi
phạm hành chính cho cấp phó theo qui định tại điều 41 của pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính số 44/2002/PL – UBTVQH ngày 02/7/2002. Công an thị xã
Hà Tĩnh đã có văn bản báo cáo và đề nghị Chủ tịch UBND thị xã Hà Tĩnh ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản.
2.1. Xử phạt hành chính bằng tiền đối với các hành vi sau:
- Chờ hàng vượt quá trọng tải cho phép trên 5%: Phạt hành chính
1.000.000đ theo quy định tại điểm a, khoản 2 điều 32 của Nghị định số
152/2005/NĐ – CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
7


- Vận chuyển titan không có giấy tờ kèm theo: phạt hành chính bằng
tiền 6.000.000đ theo quy định tại điểm a, điều 21Nghị định số 01/2002/NĐ –
CP ngày 03/01/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 01/CP
ngày 03/01/1996.
Tổng số tiền phạt: 7.300.000đ
2.2. Áp dụng hình thức phạt bổ sung:
- Tịch thu 22 tấn titan mà xe ô tô BKS 38H – 228X vận chuyển, theo
quy định tại điểm b, khoản 2, điều 6, của Nghị định 150/2004/NĐ – CP ngày
29/7/2004 của chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
khoáng sản.
- Tịch thu xe ô tô mang BKS 38H – 228X tại khoản a, điều 21 Nghị
định số 01/2002/NĐ – CP ngày 03/01/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
Nghị định số 01/CP ngày 03/01/1996 (Trần Văn A có 1 tình tiết tăng nặng) và
qui định tại điểm 2, Công văn số 19/UB-TN ngày 19/4/2002 của UBND tỉnh

Hà Tĩnh: “... kể từ nay, cấm chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thủ trưởng các
ngành không được xử phạt thu tiền rồi trả lại các thiết bị, phương tiện sử dụng
để khai thác, chế biến, kinh doanh titan trái phép đối với các đối tượng vi
phạm, yêu cầu tịch thu phương tiện vận tải, phương tiện hành nghề...”.
- Căn cứ các quy định của pháp luật hiện hành và đề nghị của Công an
thị xã Hà Tĩnh, Chủ tịch UBND thị xã Hà Tĩnh đã ra quyết định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản số 334/QĐ – CT ngày 15/5/2007
với những nội dung nêu ở trên.
3. Phân tích quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
khoáng sản số 334/QĐ – CT ngày 15/5/2007 của Chủ tịch UBND thị xã
Hà Tĩnh.
Quyết định số 334/QĐ – CT ngày 15/5/2007 của Chủ tịch UBND thị xã
Hà Tĩnh còn có điểm chưa đúng các quy định của Nhà nước, cụ thể như sau:
-Titan là khoáng sản không nằm trong các danh mục hàng hoá cám lưu
thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện, hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh
doanh có điều kiện; hàng hoá dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh.
8


- Theo quy định của Nghị định số 73/2002/NĐ – CP ngày 20/8/2002
của Chính phủ bổ sung hàng hoá, dịch vụ thương mại vào danh mục 1 về
hàng hoá cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; danh mục 3 về
hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo
Nghị định số 11/1999/NĐ – CP ngày 03/3/1999 của Chính phủ; điểm a, điều
21 của Nghị định số 01/2002/NĐ – CP ngày 03/01/2002 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung Nghị định số 01/CP ngày 03/01/1996: “Tịch thu phương tiện khi
chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải cố ý vận
chuyển hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, hàng hoá nhập khẩu trái
phép” và căn cứ vào Nghị định số 150/2004/NĐ – CP ngày 29/7/2004 của
Chính phủ qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản

tại các điều, khoản của Nghị định này không có điều, khoản nào quy định về
các hình thức xử phạt đối với hành vi vận chuyển, tàn trữ khoáng sản trái
phép. Do đó việc áp dụng các căn cứ này là chưa đúng. Nên không thể coi
điểm a, điều 21 nghị định số 01/2002/NĐ – CP ngày 03/01/2002 và nghị định
số 150/2004/NĐ – CP ngày 29/7/2004 của Chính phủ là căn cứ để áp dụng
hình phạt bổ sung: tịch thu xe ô tô mang BKS 38H – 228X là phương tiện
được sử dụng vào việc vận chuyển titan “Hàng hoá cấm lưu thông, dịch vụ
thương mại cấm thực hiện, hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều
kiện, hàng hoá, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh”.
Về công văn số 19/UB – TN ngày 19/4/2002 của UBND tỉnh Hà Tĩnh
là văn bản quản lý hành chính thông thường không phải là văn bản quy phạm
pháp luật để áp dụng.
4. Đề xuất phương án xử lý.
Căn cứ các qui định của pháp luật hiện hành như đã phân tích ở trên thì
hành vi của Trần Văn A nêu trên sẽ bị xử lý như sau:
4.1. Phạt hành chính bằng tiền (Tổng số tiền phạt 7.300.000đ) đối với
các hành vi sau:
- Chở hàng vượt quá trọng tải cho phép trên 5%: phạt hành chính bằng
tiền 1.000.000đ theo qui định tại điểm a, khoản 2, điều 32 của Nghị định số
9


152/2005/NĐ – CP ngày 15/12/2005 của chính phủ qui định về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
- Cản trở không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông khi lái xe:
phạt hành chính bằng tiền 300.000đ theo qui định tại điểm e, khoản 4, điều 12
nghị định số 152/2005/NĐ – CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ qui định về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
- Vận chuyển titan không có giấy tờ kèm theo: phạt hành chính bằng
tiền 6.000.000đ theo qui định tại điểm a, điều 21 của nghị định số

01/2002/NĐ – CP ngày 03/01/2002 của chính phủ sửa đổi, bổ sung nghị định
số 01/CP ngày 03/01/1996.
4.2. Phạt cảnh cáo đối với hành vi không mang chứng minh thư nhân
dân khi đi lại theo qui định tại điểm a, khoản 1, điều 10 của Nghị định số
49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ.
Và áp dụng hình thức phạt bổ sung: Tịch thu 22 tấn titan mà xe ô tô
38H-228X vận chuyển theo quy định tại điểm b, khoản 2, điều 6 của nghị
định 150/2004/NĐ – CP ngày 29/7/2004 của Chính phủ qui định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản.
- Không được áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu phương
tiện xe ôtô mang biển kiểm soát 38H – 228X.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ.

- Qua các số liệu cho thấy, các vụ vi phạm khoáng sản trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh chủ yếu tập trung vào titan. Đây là loại khoáng sản đã và đang có thị
trường tiêu thụ rất lớn, nhất là thị trường Trung Quốc, Nhật Bản. Trữ lượng
và sản lượng titan ở Hà Tĩnh là rất lớn và tốt được phân bổ trên địa bàn của
tỉnh như: Huyện Như Xuân, huyện Thạch Hà, huyện Lộc Hà, huyện Cẩm
Xuyên, huyện Kỳ Anh và nhiều mỏ vỉa rải rác rất khó khăn cho công tác quản
lý khoáng sản. Đó cũng là chính là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác titan
trái phép “titan thổ phỉ” diễn ra hết sức phức tạp. Mặt khác hệ thống giao
thông đường bộ, đường thủy rất phức tạp là điều kiện để hình thành các điểm
10


tập kết chế biến, buôn bán titan trái phép. Lực lượng bảo vệ của các đơn vị
khai thác của Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh vừa ít, vừa
không có kinh nghiệm. Lực lượng công an, quản lý thị trường, kiểm lâm nhân
dân ở các địa phương trong tỉnh chưa đủ mạnh để quản lý tài nguyên khoáng
sản trên một địa bàn rộng lớn. Sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp, giữa

ngành và địa phương còn thiếu và chưa đồng bộ. Một số cán bộ đảng viên từ
cơ sở xã, phường, lực lượng công an, quản lý thị trường, kiểm lâm, bảo vệ,
lãnh đạo một số công ty của Tổng công ty có biểu hiện tiêu cực, liên quan đến
việc khai thác, vận chuyển, chế biến và kinh doanh trái phép và có chỗ buông
lỏng quản lý Nhà nước về lĩnh vực khoáng sản.
Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh đã đề ra các giải pháp
cụ thể để khắc phục các nguyên nhân trên:
-Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng cơ giới hoá, hiện
đại hóa là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí
đầu vào, tăng thu nhập cho người lao động, tăng hệ số lao động bằng nhiều
phương pháp, huy động vốn để đẩy nhanh tốc độ đầu tư với kế hoạch trên
1000 tỷ đồng/năm. Đầu tư từng bước nâng sản lượng khai thác của các mỏ.
- Nâng cao chất lượng các sản phẩm titan và dịch vụ khác theo nhu cầu
của thị trường, thông qua việc điều hành sản xuất, sinh hoạt để điều hoà quan
hệ cung cầu. Từng bước nâng cao chất lượng và giá bán các sản phẩm titan.
Tăng cường kỷ luật tiêu thụ nhất là xuất khẩu.
- Áp dụng giải pháp kỹ thuật khai thác tiên tiến nhằm tiết kiệm chi phí
và tài nguyên. Sử dụng đồng bộ thiết bị có công suất lớn, phù hợp, công nghệ
khai thác được cơ giới hoá từng bước, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến
trong khai thác, thăm dò, quy hoạch.
- Nâng cao công tác an toàn, bảo hộ lao động: làm tốt công tác huấn
luyện an toàn giao thông. Hoàn thiện hệ thống văn bản qui phạm về an toàn
bảo hộ lao động, hoàn thiện qui trình kỹ thuật. Tăng cường công tác kiểm tra
và đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của mạng lưới an toàn viên. Thực hiện
11


thưởng phạt nghiêm minh, xây dựng điều kiện đảm bảo an toàn từ các dự án
đầu tư bằng các phương pháp, thiết bị khai thác tiên tiến, cơ giới hoá. Chú
trọng đầu tư các trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động. Giảm đến mức thấp

nhất các vụ tai nạn và sự cố nghiêm trọng, chết người.
- Thực hiện đa dạng hóa sở hữu ở một số doanh nghiệp có điều kiện
nhằm huy động vốn đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh nhưng không làm
ảnh hưởng đến công nghệ, dây chuyền sản xuất của từng doanh nghiệp.
- Chăm lo đời sống người lao động, chú trọng phát triển nguồn nhân
lực. Có kế hoạch từng bước cải thiện nâng cao đời sống coi lợi ích của người
lao động là một động lực cho sự phát triển, các chính sách vật chất, tiền
lương, tiền thưởng, các chế độ bồi dưỡng, phương tiện đi lại, nơi sinh hoạt.
- Thường xuyên quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ bảo vệ,
tự vệ, quản lý chặt chẽ các lực lượng dự bị động viên làm nòng cốt cho giữ
an ninh quốc phòng, trật tự an ninh xã hội. Nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ
về đấu tranh chống tiêu cực, quan liêu tham nhũng trong toàn Tổng công ty.
Phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ pháp luật ở địa phương trong việc giữ
vững trật tự trong sản xuất kinh doanh khoáng sản, bảo vệ khai trường và ranh
giới mỏ.
Bên cạnh đó Tổng công ty khoáng sản thương mại Hà Tĩnh cũng đưa ra
một số kiến nghị, đề nghị các Bộ, ngành xem xét giải quyết:
1. Bộ tài nguyên giải quyết việc điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu từ xe
tải nguyên chiếc, linh kiện lắp ráp xe tải, xe chuyên dùng, thiết bị máy móc
phục vụ cho việc khai thác và chế biến khoáng sản: Quặng sắt, titan.
2. Bộ tài nguyên môi trường sớm tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép và cấp
thăm dò các mỏ khoáng sản trên địa bàn Hà Tĩnh cho Tổng công ty, phê
duyệt đề án thăm dò than đến mức 300m ở Hà Tĩnh; xem xét cấp phép thăm
dò, khai thác các khoáng sản kim loại: chì, kẽm, titan, cromit...

12


3. Bộ công nghiệp, kế hoạch - đầu tư sớm trình Thủ tướng chính phủ
phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp sản xuất phôi thép, công nghiệp

titan giai đoạn 2006 – 2015.
4. Đề nghị chính phủ sớm phê duyệt chủ trương đầu tư, cho phép Tổng
công ty được chủ trì hợp tác với một số công ty nước ngoài và công ty trong
nước đầu tư các dự án: khai thác mỏ sắt Thạch Khê huyện Thạch Hà, công
nghiệp sản xuất phôi thép, công nghiệp titan.
5. Chính phủ cho phép Tổng công ty huy động lực lượng của các công
ty thành viên để thiết kế, chế tạo, xây dựng và lắp đặt một số công trình phần
việc theo hình thức giao nhận thầu trực tiếp, chỉ tổ chức đấu thầu EPC và mua
sắm thiết bị trong nước chưa sản xuất được.
6. Qua các số liệu trên cũng như những nguyên nhân và một số biện
pháp trong khai thác chế biến và kinh doanh khoáng sản của Tổng công ty
khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh đã nêu trên có thể khẳng định khoáng sàn
là tiềm năng quan trọng để Hà Tĩnh phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển
các ngành công nghiệp như: Khai thác, chế biến khoáng sản, công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng, điện, sản xuất thép... Đóng vai trò là một tỉnh kinh tế
phát triển mạnh ở khu vực duyên hải Bắc Trung Bộ.
Để giải quyết tận gốc nạn khai thác vận chuyển, chế biến kinh doanh
khoáng sản trái phép, xin đề xuất các biện pháp sau:
1. Bằng nhiều hình thức tích cực tuyên truyền giáo dục pháp luật cho
nhân dân, nhất là nhân dân trong khu vực có các mỏ khoáng sản chưa khai
thác, đã và đang khai thác hiểu được các chính sách của Nhà nước về quản lý
và sử dụng tài nguyên khoáng sản đặc biệt là titan. Nhà nước, Chính phủ và
tỉnh Hà Tĩnh cần có các chương trình cụ thể hỗ trợ đồng bào dân tộc và nhân
dân trong tỉnh (không phải là công nhân của Tổng công ty) thay đổi tập quán
sản xuất, phát triển kinh tế ổn định đời sống. Từ đó không tham gia vào các
hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh khoáng sản trái phép
nhất là khai thác titan thổ phỉ.
13



2. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật khoáng sản bất kể là đối
tượng nào, cơ quan, đơn vị nào, ngành nào để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật.
3. Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh phải chủ động phối
hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn tỉnh để cùng
thống nhất đề ra các biện pháp hữu hiệu nhất trong công tác quản lý tài
nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Lập ra các phương án, đề án
tối ưu trong khai thác, chế biến vận chuyển và kinh doanh một cách khoa học,
chặt chẽ có hiệu quả kinh tế tốt, đồng thời bảo vệ tốt môi trường sinh thái trên
địa bàn. Cần có các chính sách phù hợp giữa công nhân của Tổng công ty và
nhân dân địa phương để phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội hài hoà giữa an
ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội.
4. Đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ khoáng
sản trái phép.
Ngày 29/7/2004 Chính phủ đã ban hành nghị định số 150/2004/NĐ –
CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực khoáng sản thay thế nghị
định số 35/CP ngày 23/4/1997 của Chính phủ quy định xửt phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về các hành vi vi phạm mua, bán, tàng
trữ, vận chuyển khoáng sản trái phép. Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng
trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản, tuy
nhiên các Bộ, Ngành Trung ương cần phải sửa đổi các văn bản có liên quan
và có văn bản hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện.
Ngày 10/5/2007 chính phủ đã ban hành nghị định 77/2007/NĐ – CP
sửa đổi, bổ sung, một số điều chỉnh nghị định số 150/2004/NĐ – CP ngày
29/7/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực
khoáng sản.
Cả hai nghị định trên đã quy định hết sức cụ thể và các chế tài về xử
phạt vi phạm hành chính là nghiêm khắc, tuy nhiên vẫn còn một số hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản còn chưa được
14



cụ thể trong các văn bản, cần được các bộ ngành trung ương sớm có văn bản
hướng dẫn, bổ sung kịp thời.
Ngoài các loại khoáng sản như: vàng, đá quý, vật liệu xây dựng, than
đã được quy định rõ trong danh mục 3: hàng hó dịch vụ thương mại kinh
doanh có điều kiện ban hành kèm theo nghị định số 11/1999/NĐ – CP ngày
03/3/1999 và nghị định số 73/2002/NĐ – CP ngày 20/8/2002 của chính phủ
bổ sung hàng hóa dịch vụ thương mại vào các danh mục 1 về hàng hoá cấm
lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; danh mục 3 về hàng hoá, dịch
vụ thương mại kinh doanh có điều kiện; đề nghị chính phủ quy định rõ, bổ
sung một số khoáng sản quý hiếm vào danh mục 3 về hàng hóa dịch vụ
thương mại kinh doanh có điều kiện để đưa các hoạt động mua, bán, vận
chuyển khoáng sản vào khuôn khổ pháp luật.
5. Chủ trương của UBND tỉnh Hà Tĩnh “cấm xử phạt thu tiền rồi trả lại
các thiết bị, phương tiện đã dùng để hoạt động khoáng sản trái phép đối với
các đối tượng vi phạm. Yêu cầu tịch thu phương tiện vận tải, phương tiện
hành nghề...” nêu tại công văn số 19/UB –TN ngày 19/4/2002 của UBND tỉnh
Hà Tĩnh là chủ trương tích cực, giúp ngăn chặn tình trạng khai thác chế biến,
vận chuyển kinh doanh khoáng sản trái phép diễn ra bức xúc trên địa bàn.
Song để đảm bảo tính pháp quy của văn bản thì phải bãi bỏ công văn số
19/UB – TN ngày 19/4/2002 và ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới
theo đúng trình tự, quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để
thực hiện thống nhất trên toàn tỉnh.
6. Đề nghị cần sớm ban hành các cơ chế khuyến khích các thành phần
kinh tế trong và ngoài tỉnh cũng như các công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, có
đủ điều kiện theo quy định của nhà nước về tài nguyên khoáng sản, bảo vệ
môi trường... tham gia và quá trình quản lý, khai thác và chế biến khoáng sản,
tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, phát

huy hiệu quả vốn đầu tư và tiềm năng lao động, tạo thêm nhiều việc làm, góp
phần xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào trong tỉnh.
15


KẾT LUẬN
Khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia, phải được quản lý, bảo
vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước phát triển bền vững.
Trên cơ sở quy định, phát triển sản xuất khai thác, chế biến khoáng sản
đảm bảo nhu cầu của nền kinh tế đất nước là chính, xuất khẩu để đáp ứng nhu
cầu nhập khẩu thiết bị hiện đại hóa trong nội bộ ngành. Thực hiện tiết kiệm
tài nguyên, nâng cao tính an toàn trong sản xuất và bảo vệ môi trường sinh
thái. Hà Tĩnh trở thành một trung tâm sản xuất titan, công nghiệp thép ngang
tầm với các tỉnh lớn hàng đầu của cả nước.
Vì vậy Hà Tĩnh đã và đang khẩn trương thực hiện đồng bộ các giải
pháp để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - văn hoá xã hội của tỉnh nhà. Giữ
vững chủ quyền an ninh quốc phòng, trật tự an ninh xã hội để cùng cả nước
hoàn thành thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.

16


MỤC LỤC



×