Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (910.75 KB, 107 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ THỰC TIỄN XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI- 2016

HÀ NỘI - năm


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC
DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
XÃ HỒ THẦU HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01


LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Phát triển cộng đồng đối với
người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu,
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực và không trùng
lặp với các đề tài khác.
Học viên

Nguyễn Thị Hồng Nga


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO ............................................................................................................ 13
1.1. Khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao .......................................... 13
1.2. Khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói ......................................... 18
1.3. Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói
giảm nghèo ....................................................................................................... 25
1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo

.......................................................................................................................... 36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU .................................................. 40
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu ............................................................... 40
2.2. Thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao
trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu… ............................................................................................................. 49
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TÔC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU .................................................. 65
3.1. Các quan điểm, định hướng, mục tiêu giảm nghèo người dân tộc Dao xã
Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu ................................................... 65
3.2.Một số giải pháp đối với người nghèo ....................................................... 67
3.3. Các giải pháp đối với cộng đồng............................................................... 73
3.4. Các giải pháp đối với cấp Trung ương và chính quyền địa phương ......... 73
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 80
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Hình 1.1: Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều....................................................... 24
Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm của các hộ nghèo .............................................. 43
Biểu 2.1: Thời gian trở thành hộ nghèo .......................................................... 44
Bảng 2.2. Lý do rơi vào hộ nghèo ................................................................... 45
Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo xã Hồ Thầu ....................... 46
Bảng 2.4: So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo .... 48
Bảng 2.5: Bảng số liệu nghiên cứu thực trạng dịch vụ hỗ trợ xã hội ............. 50

Bảng 2.6. Đánh giá kết quả thực hiện các tiểu dự án thuộc Chương trình giảm
nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 (2010-2015) khoản tín dụng từ
ngân hàng thế giới của nhóm phụ nữ xã Hồ Thầu: ......................................... 54


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT

Bảo hiểm y tế



Cộng đồng

CTXH

Công tác xã hội

DTTS

Dân tộc Thiểu số

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

NQ

Nghị quyết


PTCĐ

Phát triển cộng đồng



Quyết định

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân
cư. Trong những năm qua với chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27
tháng 12 năm 2008 (gọi tắt là chương trình 30a) và Nghị quyết số 80/NQ-CP
ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững
thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã thu được những kết quả khả quan, góp
phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện được công bằng xã hội, số hộ
nghèo giảm nhanh. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc; tỷ lệ hộ
nghèo hàng năm còn cao; đời sống người nghèo còn nhiều khó khăn, đặc biệt là
ở khu vực miền núi, những xã vùng cao, vùng người dân tộc thiểu số.
Có nhiều nguyên nhân làm cho kết quả công tác xóa đói giảm nghèo
chưa đạt kết quả cao như cơ chế chính sách còn bất cập, chưa đồng bộ; nguồn

lực đầu tư của Nhà nước và Xã hội chưa đáp ứng; công tác tổ chức thực hiện
chưa hiệu quả. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo, một số cộng đồng thôn
bản còn có tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, hay nói
cách khác là năng lực của cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo chưa được
phát huy.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ
yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu
đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu
nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây
chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, chuẩn
nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực

1


tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo,
do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ
3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.[10, tr. 8]
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là
không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các
quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường
hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản
về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách
hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng
xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,
nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình
trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền
vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.

Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi
khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở,
đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay
chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân.
Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện
con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển
từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên
cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn
chế. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo
vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội [9, tr. 19].
Chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức
thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch

2


vụ xã hội cơ bản [7, tr. 11]. Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty
Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện
sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo
lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Hồ Thầu là xã thuộc diện khó khăn của huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu, gồm 10 bản với 602 hộ, 3041 nhân khẩu. Trong đó dân tộc Dao có
2808 khẩu chiếm 92,34% (Theo thống kê của huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu, 2014). Trong những năm qua, Hồ Thầu được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ
trợ của Huyện Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các ban ngành
đoàn thể của huyện nên Hồ Thầu đã có những bước phát triển tốt, đời sống
của nhân dân từng bước được cải thiện nhưng vẫn là xã nghèo, kém phát triển
của huyện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm; sự tham gia của người
dân để cùng giải quyết những vấn đề nghèo đói của cộng đồng chưa được

phát huy… do vậy đời sống của một bộ phận nhân dân các dân tộc thiểu số
còn gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết. Vì vậy việc nghiên cứu thực
trạng các hoạt động PTCĐ & các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng là hết sức
cần thiết. Từ đó, đề xuất các giải pháp để các hoạt động PTCĐ theo hướng
chuyên nghiệp hơn và khẳng định vai trò của nghề CTXH trong xóa đói giảm
nghèo bền vững tại xã Hồ Thầu là một việc làm thiết thực vừa có ý nghĩa lý
luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Trong chương trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu Thanh niên năm
2016 (cơ quan tôi đang công tác) đã chọn Hồ Thầu là địa bàn nghiên cứu về
vai trò của tổ chức Đoàn đồng hành với thanh niên trong nghề nghiệp và việc
làm nên rất thuận lợi cho việc lồng ghép với đề tài nghiên cứu luận văn. Xuất
phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển cộng đồng trong xóa
đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện
Tam Đường, tỉnh Lai Châu” làm luận văn thạc sĩ.
3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc
độ khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo dưới góc độ
công tác xã hội mới được đề cập đến trong một số công trình.
Xóa đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty
eradication and the role for social workers) của Nairobi (tháng 1 năm 2010)
chỉ ra tác động của nghèo đói tới đời sống của người dân, đặc biệt là các
nhóm dễ bị tổn thương; đồng thời đưa ra 3 phương pháp tiếp cận để xóa đói
giảm nghèo là:
- Tham vấn và sự tham gia của các cá nhân, gia đình và các nhóm dân
cư trong các tình huống nghèo. Đây được coi là những yếu tố quan trọng
trong xóa đói giảm nghèo.

- Lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp, các dự án thoát nghèo, hỗ
trợ họ tăng sự tự tin là phương pháp phổ biến mà nhân viên xã hội đã được sử
dụng trong quá khứ.
Nhấn mạnh đến vai trò của các phương pháp và hợp tác quốc tế, nhấn
mạnh đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo. Ở
cấp độ vi mô, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo, đánh
giá rủi ro, phải làm việc một cách sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và
cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi, môi trường của họ. Phát
triển cộng đồng đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ
chức cộng đồng và hoạt động xã hội giữ một vai trò quan trọng.
Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo và chứng kiến hành
vi của họ thay đổi. Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp với
làm việc với các cá nhân, gia đình và có công việc cộng đồng, tập trung vào
nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát

4


hiện ra các nguyên nhân nghèo đói của họ. Đó là điều cần thiết cho xóa đói
giảm nghèo hiệu quả.
Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo
ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề ( The role of social
work in Philippines poverty – reducation program: ideology, policy, and the
profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và
Phát triển, tập 23, số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác
xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philipppines, nhấn mạnh
đến việc kiểm tra tập trung vào các giá trị và nguyên tắc làm cơ sở cho việc
thực hiện và mối quan hệ với quan niệm cụ thể của công tác xã hội. Có ý kiến
cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư
tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines. Tính hợp tác nhận thức

của phương pháp tiếp cận có liên quan đến mức độ mà họ thể hiện quan niệm
chủ đạo của các vấn đề xã hội và công tác xã hội, đặc trưng bởi sự tham gia
của nhân viên và khách hàng tập trung với mục đích thực sự thay đổi trong
các cá nhân và môi trường trực tiếp của mình.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nước ta là vấn đề được Đảng, Nhà nước,
các cấp các ngành, các nhà khoa học quan tâm. Trong đó đáng chú ý có một
số công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến xóa đói
nghèo và phương pháp phát triển cộng đồng ở nước ta như:
Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), “Kinh tế thị trường và
sự phân hóa giàu – nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện
nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Các tác giả đã đánh giá
những thành tựu về kinh tế - xã hội hơn 10 năm thực hiện đổi mới đất nước ở
vùng dân tộc và miền núi phía Bắc. Đồng thời đã chỉ ra những nguyên nhân
và bài học kinh nghiệm trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng người dân

5


tộc thiểu số, nhưng không đề cập nhiều tới sự tham gia của cộng đồng, vai trò
của cộng đồng trong việc giảm khoảng cách giàu – nghèo và công cuộc xóa
đói giảm nghèo.
Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo
ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả đã phân tích khái quát tình
hình nghèo đói của các nước trên thế giới; tình hình nghèo đói ở Việt Nam
hiện nay; đưa ra các quan điểm, các giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam. Tuy nhiên, những vấn đề nghèo đói ở vùng miền núi, vùng dân tộc
thiểu số với những đặc trưng riêng, khó khăn riêng chưa được các tác giả đi
sâu phân tích. Trong đó có việc hõ trợ như thế nào? Hỗ trợ cái gì giúp cho
cộng đồng tự thoát nghèo với sự trợ giúp, hỗ trợ của Nhà nước và Xã hội.

Phạm Lệ Thu “Những giải pháp thiết thực thúc đẩy mạnh xóa đói giảm
nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015”. Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận
về nghèo đói; phương pháp xác định chuẩn nghèo; thực trạng nghèo đói và
giải quyết công tác đói nghèo của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015; đề ra
được một số giải pháp thiết thực trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Điện
Biên trong giai đoạn tiếp theo, trong đó có các giải pháp tổng thể (quy hoạch)
và cụ thể (các giải pháp can thiệp đối với hộ nghèo, người nghèo). Tuy nhiên,
vẫn thiếu các giải pháp hỗ trợ đối với người nghèo, hỗ trợ cộng đồng tham gia
nhận diện, lập kế hoạch các hoạt động xóa đói giảm nghèo của người dân tộc
thiểu số Điện Biên. Đối với các công trình, bài viết liên quan đến phương
pháp phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo có các bài:
Phan Huy Đường, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Phát triển cộng đồng:
Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo”. Tác
giả đã nêu khái quát vai trò của phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm
nghèo ở nước ta; các nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng; các phương
thức của phát triển, trong đó nhấn mạnh phương thức tăng cường năng lực

6


của cộng đồng thông qua tăng cường năng lực cho người dân tham gia nhận
diện vấn đề của người nghèo; lập kế hoạch; huy động nguồn lực cộng đồng.
Nguyễn Mạnh Đôn, có bài viết trao đổi trên diễn đàn của Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 20/02/2005) “Một số suy
nghĩ về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo vùng đồng
bào dân tộc”, đã khái quát nêu 6 nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, trong
đó có các giải pháp chủ yếu và cần được ưu tiên như: Nâng cao nhận thức và
năng lực của người dân và cộng đồng; chuyển giao công nghệ theo hướng ưu
tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục
vụ đời sống, sản xuất và lưu thông. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh các hoạt động

trên phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối đa sự tham gia của người dân và
cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình, dự án;
cần sử dụng phương pháp tiếp cận cho phù hợp; xây dựng khả năng hợp tác
giữa người dân và cán bộ phát triển…
Sơ bộ phân tích một số công trình, bài viết trên cho thấy, có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề đói nghèo và gợi mở hướng giải quyết những vấn
đề đói nghèo bằng phương pháp cộng đồng. Thành quả của những công trình
nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn và hướng vận dụng
giải quyết vấn đề này theo nhiều phương pháp, góc độ khác nhau, trong đó có
phương pháp phát triển cộng đồng. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu phát triển
cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo áp dụng đối với đối tượng dân tộc thiểu
số vùng cao như người Dao thuộc xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu vẫn là một khoảng trống chưa có công trình nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng
trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu,

7


huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo. Từ đó đề xuất một số giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng theo hướng công tác xã hội
chuyên nghiệp tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài thông qua các văn bản pháp luật,
các tài liệu liên quan đến phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo.
Đánh giá thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói
giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam

Đường, tỉnh Lai Châu.
Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng
trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu,
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát
triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao xã Hồ
Thầu nói riêng và đóng góp cho sự phát triển của nghề công tác xã hội trên
địa bàn tỉnh Lai Châu nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển cộng đồng trong xóa
đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện
Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
4.1.2. Khách thể nghiên cứu
- Các hộ nghèo trong xã.
- Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể có liên quan.

8


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ tháng 2/2016 đến đầu tháng
7/2016
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các
hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân
tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, bao gồm
các hoạt động: tuyên truyền nâng cao nhận thức, hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ dịch

vụ xã hội.
5. Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, trong đó:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng: Đề tài xem xét hoạt động phát
triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo trong
mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống xung quanh, đặt vấn đề
trong một tổng thể.
- Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng đòi hỏi khi nghiên cứu
vấn đề nghèo, phải đặt chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên
những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể. Nghèo chỉ được xem xét một cách toàn
diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những
địa phương nhất định. Qua đó, các vấn đề và yếu tố liên quan trong đề tài
nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu theo các thời kỳ lịch sử, đảm bảo tính xác
thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Tổng hợp và phân tích thông tin
thứ cấp về nghèo đói (các công trình đã nghiên cứu, xuất bản và công bố; báo

9


cáo của chính quyền địa phương liên quan đến nghèo đói và phát triển kinh tế
- xã hội địa phương). Lập mẫu phiếu thống kê để hiểu biết cộng đồng (Thống
kê về kinh tế, văn hóa và xã hội, tình hình lao động và việc làm của xã).
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Để nhận diện được tình hình nghèo
đói của người dân tộc Dao tại xã Hồ Thầu, tác giả đã thực hiện nghiên cứu
tổng thể 229 hộ nghèo trong toàn xã, trong đó, sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng (phiếu hỏi). Phiếu hỏi được tập trung khai thác những thông

tin chung về số lượng hộ nghèo, đặc điểm của hộ nghèo, biến động về hộ
nghèo, nguyên nhân nghèo đói, hoạt động kinh tế và vấn đề việc làm của các
hộ nghèo, thu nhập và mức độ chi tiêu của các hộ nghèo
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình nghiên cứu phát triển
cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ
Thầu, ngoài nghiên cứu định lượng tác giả đã thực hiện 03 cuộc thảo luận
nhóm với các đối tượng: Phụ nữ nghèo, nhóm thanh niên nghèo và đại diện
lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể của xã bằng các công cụ thu thập
thông tin để hiểu biết cộng đồng, các hoạt động phát triển cộng đồng trong
xóa đói giảm nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tại địa
phương. Từ đó, xây dựng các giải pháp can thiệp góp phần nâng cao hiệu quả
phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo. Để
hiểu sâu hơn những vấn đề liên quan đến giảm nghèo, đặc biệt là các giải
pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về công tác giảm nghèo,
các hoạt động hỗ trợ sinh kế và hoạt động hỗ trợ dịch vụ xã hội. Tác giả đã
tiến hành phỏng vấn sâu 7 người với các đối tượng: 2 trưởng bản (bản Phô và
bản Rừng Ổi), Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ xã, Bí thư đoàn thanh niên xã
Hồ Thầu, 2 hộ nghèo và 1 hộ thanh niên thoát nghèo.
- Quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát tham dự và quan sát không
tham dự để có nhìn nhận đánh giá đầy đủ về tình trạng nghèo đói của địa

10


phương; tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề phát triển công đồng tới giải
quyết đói nghèo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn “Phát triển cộng đồng trong xóa đói
giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam

Đường, tỉnh Lai Châu”sẽ góp phần bổ sung thêm cơ sở lý luận về phát triển
cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo như: khái
niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao, khái niệm và các tiêu chí đo lường
nghèo đói, các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao
trong xóa đói giảm nghèo và các yếu tố ảnh hưởng. Đề tài cũng làm rõ thêm
vai trò của Nghề công tác xã hội trong việc giải quyết những vấn đề đói nghèo
của dân tộc thiểu số vùng cao trong điều kiện hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần thúc hoạt động phát
triển cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói ở địa phương vùng cao
nói chung và xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu nói riêng.
- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công
tác xã hội, đặc biệt là phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo.
- Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm tài liệu thực tiễn
cho hoạt động phát triển cộng đồng dân tộc Dao tại xã vùng cao nhằm giải
quyết đói nghèo.
- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan để thực
hiện có hiệu quả phát triển cộng đồng trong vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
miền núi, vùng cao và vùng dân tộc thiểu số.

11


7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển cộng đồng đối với người
dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo.
Chương 2: Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao
trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm
nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

12


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI
VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao
1.1.1. Khái niệm
Người dân tộc Dao còn có các tên gọi khác là Mán, Ðông, Trại, Dìu
Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc
Mùn, Sơn Ðầu... Tên thường tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn. Dân tộc này có
các nhóm địa phương khác nhau như Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng,
Dao Dụ Lạy, Dao Ðại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo,
Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn),
Dao Tiền (Dao Ðeo Tiền, Dao Tiểu Bản), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao
Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài). Họ sử dụng nhóm ngôn
ngữ Mông-Dao.
Người dân tộc Dao cư trú dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào; một số
tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ. Họ sống tập trung ở các tỉnh Hà Giang,
Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu,
Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ... Ngoài ra, còn có một
số di chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk
Nông, Lâm Đồng và các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình
Phước...
Tại Việt Nam, dân tộc Dao theo điều tra dân số năm 1999 có 620.538
người. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Dao ở Việt

Nam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh Hà Giang 109.708 người, chiếm tỷ lệ
15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Tuyên

13


Quang 90.618 người, chiếm tỷ lệ 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số
người Dao tại Việt Nam; tỉnh Lào Cai 88.379 người, chiếm tỷ lệ 14,4% dân
số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Yên Bái 83.888
người, chiếm tỷ lệ 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại
Việt Nam; tỉnh Quảng Ninh 59.156 người, chiếm tỷ lệ 5,2% dân số toàn tỉnh;
tỉnh Bắc Kạn 51.801 người, chiếm tỷ lệ 17,6% dân số toàn tỉnh; tỉnh Cao
Bằng 51.124 người, chiếm tỷ lệ 10,1% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lai Châu 48.745
người, chiếm tỷ lệ 13,2% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lạng Sơn 25.666 người; tỉnh
Thái Nguyên 25.360 người...
1.1.2. Đặc điểm
1.1.2.1. Về đặc điểm lịch sử
Người dân tộc Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang
Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự
nhận mình là con cháu của Bàn Hồ (Bàn Vương), một nhân vật huyền thoại
rất phổ biến và thiêng liêng của người dân tộc Dao.
1.1.2.2. Về đặc điểm kinh tế
Người dân tộc Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và lúa
nước với kỹ thuật canh tác khá tiến bộ. Họ vừa làm nương vừa làm ruộng.
Xưa kia họ chuyên du canh, du cư; sau năm bảy năm canh tác trên vùng đất
cũ, họ bỏ làng, bỏ bản đi tìm vùng đất mới. Ngày nay người dân tộc Dao đã
bỏ phong tục đó, xây dựng cuộc sống mới định canh, định cư; vừa phát triển
nương rẫy, vừa bảo vệ và khai thác rừng hợp lý.
Nương rẫy, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ

biến của người dân tộc Dao. Tuỳ từng nhóm dân tộc, từng vùng; hình thức
canh tác này hoặc hình thức canh tác khác nổi trội lên như: người Dao Quần
Trắng, Dao Áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước; người Dao Ðỏ
thường thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm dân tộc Dao khác làm nương rẫy,

14


du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu
quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng
chừng núi và ở vùng cao còn nuôi ngựa, dê. Nghề trồng bông, dệt vải phổ
biến ở các nhóm dân tộc Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm bản người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ.
Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang.
Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng
cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép
sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma.
Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật...
1.1.2.3. Về phong tục tập quán
Người dân tộc Dao thờ tổ tiên là Bàn Hồ. Qua tên đệm xác định dòng
họ và thứ bậc. Trong hôn nhân gia đình, sau khi cưới người con trai phải đến
ở rể nhà vợ. Thời hạn ở rể có thể một vài năm hoặc có thể vĩnh viễn. Việc ma
chay thường theo tục lệ xa xưa. Vài vùng có tập tục hoả táng cho người chết
từ 12 tuổi trở lên.
Về văn hoá, người dân tộc Dao có nền văn hoá lịch sử lâu đời và tri
thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền. Họ không có văn tự
riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao.
Người dân tộc Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và
bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn

cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối
xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối
gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước.
Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi
ăn xong, người dân tộc Dao kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu

15


trong nhà có người chết. Thức uống phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại
uống hoãng, thứ rượu không qua chưng cất, có vị chua và ít cay. Người Dao
thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Về trang phục, người nam mặc quần, áo. Trước đây đàn ông để tóc dài,
búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các
nhóm dân tộc Dao thường có cách đội khăn khác nhau. Áo có hai loại, áo dài
và áo ngắn. Người phụ nữ dân tộc Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài
yếm, váy hoặc quần áo ngắn hay dài màu chàm và đầu đội khăn. Y phục rất
sặc sỡ. Hiện nay trang phục người Dao vẫn giữ được các nét hoa văn truyền
thống với những trang trí hoa văn truyền thống. Họ không theo theo mẫu vẽ
sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu
nổi lên trên mặt phải. Nhiều loại hoa văn được sử dụng như chữ vạn, cây
thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp
o-ng của người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì, họ dùng bút vẽ hay nhúng
khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ
hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp o-ng không bị thấm chàm.
Về nơi ở, người dân tộc Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi tại
hầu khắp các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, có một số nhóm dân tộc như
Dao Quần Trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần
nhiều phân tán, rải rác, có năm bảy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau
tuỳ theo nơi, họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất. Kiến trúc nhà ở

của người Dao cũng rất phong phú, tuỳ nhóm dân mà dựng nhà trệt hay nửa
sàn, nửa đất. Hiện nay tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, ngôi nhà nửa sàn
nửa đất được chọn để trưng bày và giới thiệu. Loại nhà nửa sàn nửa đất là loại
kiến trúc nhà cửa của riêng người Dao, gắn liền với cuộc sống du canh, du cư
trước đây. Điều đặc biệt là toàn bộ ngôi nhà của người Dao đều được làm
bằng tranh, tre, nứa, lá; không bao giờ có một chút gạch ngói. 8 cột cái trong

16


nhà được làm bằng những cây gỗ quí, có tuổi rất già từ 80 đến 90 năm. Mỗi lần
chuyển nhà, họ có thể bỏ phên, tranh, tre, nứa, lá; còn những cột cái bằng gỗ quí
có sức bền với thời gian thì họ chuyên chở đi để làm ngôi nhà nơi ở mới.
Phương tiện vận chuyển của người dân tộc Dao ở vùng cao thường
dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp thì gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi
lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Trong quan hệ xã hội, ở thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm
giềng và quan hệ dòng họ. Người dân tộc Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là
các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có
hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
1.1.2.4. Các tập tục sinh hoạt
Về sinh đẻ, phụ nữ người Dao thường đẻ ngồi, đẻ ngay tại trong buồng
ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ thường treo
cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào
nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày
thì làm lễ cúng mụ.
Về cưới xin, trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem
có hợp nhau không. Có tập tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái
trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi
nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Về ma chay, Thày tào có vị trí quan trọng trong việc cúng ma và làm
chay. Nhà có người chết, con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm
đất đào huyệt. Họ kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người
trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó
chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân
mộ; ở một số nơi có tập tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với
lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức
17


ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết; ngày thứ
hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ
tiên trong nhà; ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê
cũ ở Dương Châu.
Trong tập tục làm nhà mới, muốn làm nhà phải xem tuổi những người
trong gia đình, nhất là tuổi của chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là
quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt
gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên.
Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem
hố, các hạt gạo vẫn giữ nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Trong thờ cúng, người dân tộc Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên
thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp; vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo,
Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn Vương được coi là thủy tổ của người dân
tộc Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống, tất
cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc, một nghi lễ vừa
mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những nét của lễ thành đinh xa xưa.
Người dân tộc Dao thường quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất
và sinh hoạt. Hầu hết các xóm thôn của người dân tộc Dao đều có người biết
chữ Hán, chữ Nôm Dao. Người Dao học chữ để đọc sách cúng, sách truyện,

thơ. Họ có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ
ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, sự tích Bàn Vương rất phổ
biến của người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ
tôn giáo. Người dân tộc Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
1.2. Khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói
1.2.1. Khái niệm
Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù
chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện
đang được các quốc gia thừa nhận;
18


Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt
hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín
dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ
của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành,
phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận
nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008,
được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua).
Theo Ngân hàng Thế giới (WB 2000), "Đói nghèo là sự mất đi tình
trạng ấm no", ấm no có thể được đo bằng việc sở hữu của cá nhân về thu
nhập, sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, tài sản, nhà ở và các quyền nhất định
trong xã hội như quyền tự do ngôn luận. Đói nghèo là sự thiếu các cơ hội,
thiếu quyền lực và khả năng dễ bị tổn thương; Đói nghèo thực sự là là hiện
tương do rất nhiều nguyên nhân như vậy và cần có chính sách toàn diện và
chương trình can thiệp nhằm thúc đẩy sự ấm no, và giúp họ ra khỏi đói nghèo.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình
trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản
của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội
thừa nhận."Những nhu cầu cơ bản ấy bao gồm: ăn mặc, ở, y tế, giáo dục, văn
hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.
Tuy vậy nghèo đói là một khái niệm động theo thời gian và không gian,
do vậy việc phát triển hoàn thiện khái niệm về nghèo đói là một vấn đề tất yếu
khách quan;

19


×