Tải bản đầy đủ (.pdf) (148 trang)

Chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 148 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG LÊ MỸ NGỌC

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội
về “Chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo từ thực tiễn Thành phố Hồ
Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.



LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi của thầy cô, gia đình và bạn bè trong quá trình nghiên cứu. Với lòng
biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn đến thầy cô, bạn bè và gia đình đã hỗ trợ
tôi hoàn thành luận văn này.
- Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, tất cả thầy, cô của Khoa Công tác xã
hội và thầy cô, nhà khoa học đang công tác tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trường Đại học lao động Xã hội và Học viện Xã
hội Châu Á – Philippin (viết tắt ASI) đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi
và hỗ trợ tài liệu học tập cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
- Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Phạm Hữu Nghị đã hướng dẫn khoa
học, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
TPHCM, Văn phòng Ban chỉ đạo giảm nghèo tăng hộ khá TPHCM (Văn phòng
Chương trình Giảm nghèo Bền vững TPHCM). Trân trọng cám ơn Ông Nguyễn
Văn Xê, Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM và một số
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận-huyện, một số Ủy ban nhân dân
phường-xã, thị trấn và một số hộ gia đình đã tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ, cung
cấp thông tin, tài liệu giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa
học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC
LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO............................................................................9

1.1. Việc làm đối với người nghèo, chính sách hỗ trợ việc làm đối với người
nghèo: khái niệm, đặc điểm và nhu cầu ..................................................................9
1.2. Nội dung và nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với người
nghèo từ góc độ công tác xã hội ............................................................................18
1.3. Vai trò của công tác xã hội và phương pháp tiếp cận thực hiện chính sách hỗ
trợ việc làm đối với người nghèo từ góc độ công tác xã hội .................................20
1.4. Thể chế về hỗ trợ việc làm đối với người nghèo ............................................23
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với người
nghèo .....................................................................................................................26
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .......................................33
2.1. Thực trạng người nghèo và việc làm của người nghèo tại Thành phố Hồ Chí
Minh .......................................................................................................................33
2.2. Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ việc đối với người nghèo tại thành phố
Hồ Chí Minh từ góc độ công tác xã hội ................................................................40
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH DƯỚI GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI ............................................59
3.1. Đối mới cơ chế tổ chức, hoạt động, quản lý và điều hành thực hiện chương
trình hỗ trợ việc làm nói riêng và chương trình giảm nghèo bền vững của Thành
phố nói chung ........................................................................................................59
3.2. Thành lập Trung tâm Giảm nghèo đa chiều Thành phố Hồ Chí Minh ..........60
3.3. Thiết lập mạng lưới cung cấp trực tiếp các dịch vụ và tổ chức có hiệu quả các
hoạt động hỗ trợ việc làm phù hợp cho người nghèo ............................................62
3.4. Tổ chức hoạt động hỗ trợ chính sách thông qua theo dõi, kiểm soát các chính
sách, chương trình để tăng năng lực cho người nghèo và tác động tạo cơ hội nâng
cao vị thế, trao quyền, tăng cường khả năng giám sát của người nghèo, hộ nghèo
vào các hoạt động cộng đồng tại địa phương cơ sở ..............................................67
3.5. Áp dụng tiến trình và thực hiện kế hoạch hỗ trợ việc làm đối với cá nhân
người nghèo ...........................................................................................................68

KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................76
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

CSHTVL

Chính sách hỗ trợ việc làm

CTXH

Công tác xã hội

DVXH

Dịch vụ việc làm


GNBV

Giảm nghèo bền vững

GNTHK

Giảm nghèo tăng hộ khá

GQVL

Giải quyết việc làm

GTVL

Giới thiệu việc làm

HCN

Hộ cận nghèo

HĐHT

Hoạt động hỗ trợ

HSSV

Học sinh sinh viên

HTVL


Hỗ trợ việc làm

KT - XH

Kinh tế - xã hội

LĐ – TBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

LLLĐ

Lực lượng lao động

MTTQ

Mặt trận tổ quốc

NĐC

Nghèo đa chiều

NHCSXH

Ngân hàng chính sách xã hội

Quỹ CEP

Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm


Quỹ CWED

Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

NLĐ

Người lao động

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

TQGN

Tự quản giảm nghèo


TTLĐ

Thị trường lao động

UBNDTP

Ủy ban nhân dân thành phố


UNDP

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

XKLĐ

Xuất khẩu lao động


DANH MỤC BẢNG – BIỂU ĐỒ
* DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ phân theo nhóm hộ dân tính đến giai đoạn 2016-2020 .
Bảng 2.2: Số lượng và tỷ lệ người trong độ tuổi lao động của hộ nghèo và hộ cận
nghèo.
Bảng 2.3: Tình trạng việc làm đối với người trong độ tuổi lao động của hộ nghèo và
hộ cận nghèo.
Bảng 2.4: Tình trạng việc làm trong các hộ gia đình khảo sát.
Bảng 2.5: Việc làm hiện nay của các hộ khảo sát.
Bảng 2.6: Hỗ trợ, giúp đỡ của cá nhân/tổ chức đối với các thành viên trong hộ gia
đình nghèo tìm kiếm việc làm.
Bảng 2.7: Hình thức hỗ trợ, giúp đỡ của cá nhân/tổ chức đối với các thành viên
trong hộ gia đình nghèo tìm kiếm việc làm.
Bảng 2.8: Nơi người nghèo tìm hiểu thông tin về việc làm (gồm thông tin về vị trí
công việc, mức lương, điều kiện làm việc,..) .
Bảng 2.9: Mức độ thỏa mãn với công việc của các thành viên trong hộ khảo sát.
Bảng 2.10: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Tổ tự quản giảm nghèo.

Bảng 2.11: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Tổ tự quản
giảm nghèo.
Bảng 2.12: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Tổ tự
quản giảm nghèo.
Bảng 2.13: Nguyên nhân dẫn đến các thành viên trong hộ nghèo chưa có việc làm.
Bảng 2.14: Hình thức giúp đỡ các thành viên hộ nghèo, cận nghèo của tổ chức/ cá
nhân.
Bảng 2.15: Nhu cầu và mong muốn của người nghèo.
Bảng 2.16: Kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ giáo dục giai đoạn 2010-2014.
Bảng 2.17: Kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ giáo dục giai đoạn 2010-2014
theo số lượng học sinh.


Bảng 2.18: Kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc
làm cho hộ nghèo, hộ cận nghèo của thành phố.
Bảng 2.19: Kết quả số hộ thoát nghèo nhờ chính sách đào tạo nghề giải quyết việc
làm và tiếp cận tín dụng 3 năm 2010-2012.
Bảng 2.20: Kết quả thực hiện xuất khẩu lao động giai đoạn 3.
Bảng 2.21: Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chính sách đào tạo nghề giải quyết việc làm và
tiếp cận tín dụng 3 năm 2010-2012.
Bảng 2.22: Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chính sách đào tạo nghề giải quyết việc làm và
tiếp cận tín dụng 3 năm 2010-2012 phân theo chính sách.
Bảng 2.23: Đánh giá hiệu quả của cá nhân/tổ chức trong hỗ trợ người nghèo tìm
kiếm việc làm.
Bảng 2.24: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Bạn bè/hàng xóm.
Bảng 2.25: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Bạn bè/hàng
xóm.
Bảng 2.26: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Bạn
bè/hàng xóm.
Bảng 2.27: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Gia đình.

Bảng 2.28: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Gia đình.
Bảng 2.29: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Gia
đình.
Bảng 2.30: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Tổ dân phố.
Bảng 2.31: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Tổ dân phố.
Bảng 2.32: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Tổ dân
phố.
Bảng 2.33: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ đoàn thể địa phương.
Bảng 2.34: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Cán bộ đoàn
thể địa phương.
Bảng 2.35: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ
đoàn thể địa phương.


Bảng 2.36: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ làm công tác giảm
nghèo.
Bảng 2.37: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của cán bộ làm
công tác giảm nghèo.
Bảng 2.38: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ
làm công tác giảm nghèo.
Bảng 2.39: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Nhân viên công tác xã hội.
Bảng 2.40: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Nhân viên
công tác xã hội.
Bảng 2.41: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Nhân
viên công tác xã hội.
Bảng 2.42: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị giáo dục - đào tạo,
dạy nghề.
Bảng 2.43: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Đơn vị giáo
dục - đào tạo, dạy nghề.
Bảng 2.44: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị

giáo dục - đào tạo, dạy nghề.
Bảng 2.45: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị dịch vụ việc làm,
Xuất khẩu lao động.
Bảng 2.46: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Đơn vị dịch
vụ việc làm, Xuất khẩu lao động.
Bảng 2.47: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị
dịch vụ việc làm, Xuất khẩu lao động.
Bảng 2.48: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Báo, Đài truyền hình, Đài
phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.
Bảng 2.49: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Báo, Đài
truyền hình, Đài phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.
Bảng 2.50: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Báo,
Đài truyền hình, Đài phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.


Bảng 2.51: Tâm lý và mong muốn của hộ gia đình khi có thành viên thiếu việc làm.
Bảng 2.52: Thống kê chung về số lượng, phân tích đối tượng tham gia khảo sát của
đề tài.
Bảng 2.53: Tình hình sử dụng quỹ Xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2009-2013.
Bảng 2.54: Kết quả thực hiện các chính sách cho vay của NHCSXH thành phố giai
đoạn 2009-2013.
Bảng 2.55: Kết quả hoạt động của Quỹ CWED, giai đoạn 2009-2013.
Bảng 2.56: Hoạt động Quỹ CEP giai đoạn 2009-2013 (chỉ tính cho các hộ nghèo và
cận nghèo thành phố).
Bảng 2.57: Tình hình người nghèo nhận được hỗ trợ từ tổ chức/cá nhân làm công
tác xã hội và chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá của TPHCM.

* DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phân theo nhóm hộ dân tính đến giai đoạn 2016-2020.
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phân theo tình trạng việc làm đối với người trong độ tuổi lao

động của hộ nghèo và hộ cận nghèo.
Biểu đồ 2.3: Tình trạng việc làm trong các hộ gia đình khảo sát.
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ phân theo hình thức hỗ trợ, giúp đỡ của cá nhân/tổ chức đối với
các thành viên trong hộ gia đình nghèo tìm kiếm việc làm.
Biểu đồ 2.5: Đội ngũ Tổ trưởng Tổ tự quản giảm nghèo phường-xã, thị trấn qua các
giai đoạn.
Biểu đồ 2.6: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Tổ tự quản giảm nghèo.
Biểu đồ 2.7: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Tổ tự quản
giảm nghèo.
Biểu đồ 2.8: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Tổ tự
quản giảm nghèo.
Biểu đồ 2.9: Nhu cầu và mong muốn của người nghèo.
Biểu đồ 2.10: Kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ giáo dục giai đoạn 2010-2014
theo số lượng học sinh.


Biểu đồ 2.11: Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chính sách đào tạo nghề giải quyết việc làm
và tiếp cận tín dụng 3 năm 2010-2012.
Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chính sách đào tạo nghề giải quyết việc làm
và tiếp cận tín dụng 3 năm 2010-2012 phân theo chính sách.
Biểu đồ 2.13: Đánh giá hiệu quả của cá nhân/tổ chức trong hỗ trợ người nghèo tìm
kiếm việc làm.
Biểu đồ 2.14: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Bạn bè/hàng xóm.
Biểu đồ 2.15: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Bạn
bè/hàng xóm.
Biểu đồ 2.16: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Bạn
bè/hàng xóm.
Biểu đồ 2.17: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Gia đình.
Biểu đồ 2.18: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Gia đình.
Biểu đồ 2.19: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Gia

đình.
Biểu đồ 2.20: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Tổ dân phố.
Biểu đồ 2.21: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Tổ dân
phố.
Biểu đồ 2.22: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Tổ
dân phố.
Biểu đồ 2.23: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ đoàn thể địa
phương.
Biểu đồ 2.24: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Cán bộ
đoàn thể địa phương.
Biểu đồ 2.25: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Cán
bộ đoàn thể địa phương.
Biểu đồ 2.26: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Cán bộ làm công tác giảm
nghèo.


Biểu đồ 2.27: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của cán bộ làm
công tác giảm nghèo.
Biểu đồ 2.28: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Cán
bộ làm công tác giảm nghèo.
Biểu đồ 2.29: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Nhân viên công tác xã hội.
Biểu đồ 2.30: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Nhân viên
công tác xã hội.
Biểu đồ 2.31: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Nhân
viên công tác xã hội.
Biểu đồ 2.32: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị giáo dục - đào tạo,
dạy nghề.
Biểu đồ 2.33: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Đơn vị
giáo dục - đào tạo, dạy nghề.
Biểu đồ 2.34: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Đơn

vị giáo dục - đào tạo, dạy nghề.
Biểu đồ 2.35: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Đơn vị dịch vụ việc làm,
Xuất khẩu lao động.
Biểu đồ 2.36: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Đơn vị
dịch vụ việc làm, Xuất khẩu lao động.
Biểu đồ 2.37: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Đơn
vị dịch vụ việc làm, Xuất khẩu lao động.
Biểu đồ 2.38: Đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của Báo, Đài truyền hình, Đài
phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.
Biểu đồ 2.39: Đánh giá mức độ hỗ trợ hoạt động giới thiệu việc làm của Báo, Đài
truyền hình, Đài phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.
Biểu đồ 2.40: Kết quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin của Báo,
Đài truyền hình, Đài phát thanh, Internet, bản tin, Tờ rơi.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nội dung chính của chính sách an sinh xã hội (ASXH) cần
tập trung hướng đến trong thời gian tới đó là tăng cường cơ hội có việc làm, bảo
đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững (GNBV) cho người lao động yếu
thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giới
thiệu việc làm và kết nối thông tin thị trường lao động (TTLĐ).
Năm 2016 là năm sẽ có những đột phá trong chính sách giảm nghèo khi mà
việc xác định đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo (HCN) không chỉ dựa vào thu nhập
mà theo phương pháp đa chiều. Trong giai đoạn (2016 - 2020), Thành phố Hồ Chí
Minh (TPHCM) tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác giảm nghèo với tên gọi là
Chương trình giảm nghèo bền vững cho phù hợp với chương trình mục tiêu quốc
gia về giảm nghèo bền vững (GNBV) đến năm 2020. Chương trình giảm nghèo
chuyển sang tiếp cận theo phương pháp nghèo đa chiều (NĐC) nhằm đảm bảo mục
tiêu GNBV, bằng việc tiếp tục phát huy kinh nghiệm thực tiễn quý báu của hơn 23

năm giảm nghèo theo thu nhập để tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo, nhưng cần
xác định rõ mục tiêu giảm nghèo không chỉ vượt chuẩn nghèo về thu nhập (bằng
tiền) mà còn giảm nghèo về con người và nghèo về xã hội. Ngày 31/12/2015, Ủy
ban nhân dân TPHCM ban hành Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND về việc ban
hành chuẩn hộ nghèo, hộ cần nghèo Thành phố áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.
Theo đó, chuẩn nghèo mới cho phép sử dụng cùng lúc chiều thu nhập và 5 chiều
nghèo phi thu nhập/ xã hội, gồm (1) giáo dục - đào tạo; (2) y tế; (3) việc làm –
BHXH; (4) điều kiện sống; (5) tiếp cận thông tin để xác định hộ nghèo/cận nghèo
của thành phố. Trong 05 chiều nghèo (các DVXH cơ bản) có 11 chỉ số đo lường
mức độ thiết hụt của các chiều nghèo, với tổng điểm là 100 điểm. Cụ thể: trình độ
giáo dục người lớn (10 điểm); tình trạng đi học của trẻ em (10 điểm); trình độ nghề
(10 điểm); tiếp cận dịch vụ y tế (10 điểm); BHYT (10 điểm); việc làm (10 điểm);
BHXH (10 điểm); nhà ở (10 điểm); nguồn nước sinh hoạt (10 điểm); sử dụng dịch
vụ viễn thông 05điểm); tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (05 điểm).

1


TPHCM là địa phương tiên phong trong việc sử dụng chỉ số việc làm để đo
lường xác định chuẩn hộ nghèo, HCN. Chỉ số việc làm được tính 10 điểm/ tổng
số 100 điểm của chỉ số đo lường mức độ thiết hụt của các chiều nghèo để tính sự
thiếu hụt trong tiếp cận DVXH của người nghèo. Như vậy, các chính sách và giải
pháp giảm nghèo của thành phố trong giai đoạn mới sẽ tập trung hướng đến mục
tiêu là nâng cao phúc lợi cho người nghèo, hộ nghèo, HCN; tăng cường các khả
năng tiếp cận các DVXH cơ bản cho hộ. Mỗi một chính sách hỗ trợ giảm nghèo sẽ
có những mục tiêu, nhiệm vụ, cơ chế hỗ trợ để tác động trực tiếp cho từng nhóm hộ
nghèo, HCN cụ thể. Đồng thời, nâng cao nhận thức của các đối tượng hộ nghèo,
HCN để chủ động tiếp cận chính sách, tự vươn lên thoát nghèo, tránh tình trạng thụ
động trông chờ ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng, nhằm đảm
bảo giảm nghèo toàn diện, bền vững để vươn lên khá giàu.

Chuẩn nghèo mới sẽ không chỉ tác động đến người nghèo mà sẽ là cơ sở để
xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) cho từng địa phương, khu
vực. Đây sẽ là một “bước ngoặt” lớn trong việc thay đổi chính sách giảm nghèo và
phát triển KT-XH trong những giai đoạn tiếp theo. Một trong những chính sách
quan trọng cần được nghiên cứu, triển khai trong giai đoạn 2016 - 2020 của chương
trình GNBV trên địa bàn TPHCM là nhóm chính sách về đào tạo nghề, GQVL. Như
vậy, nhóm chính sách hỗ trợ việc làm (CSHTVL) khi triển khai thực hiện là một
trong các giải pháp chủ yếu cơ bản để GNBV với phương châm “Trao cho người
nghèo cần câu chứ không đưa cho người nghèo giỏ cá”. Trong bối cảnh ấy, vấn đề
“Chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh” đã được người học lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành công tác
xã hội (CTXH). Với đề tài này tác giả mong muốn được góp phần đưa ra một số giải
pháp về chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo trên địa bàn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua, TPHCM và cả nước đã thực hiện CSHTVL nói chung
và CSHTVL đối với người nghèo nói riêng. Thực tế, đã có nhiều công trình khoa
học, luận án, luận văn, bài báo khoa học nghiên cứu về XĐGN, về việc làm và về

2


vấn đề CSHTVL đối với người nghèo đã được công bố. Bước đầu, có thể khái quát
một số công trình khoa học liên quan đến đề tài gần đây nhất như sau:
- Báo cáo về nghèo đô thị ở Hà Nội và TPHCM thông qua dự án “Hỗ trợ đánh
giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và TPHCM” giai đoạn 2008-2011, do
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tài trợ, đề cập đến các khái niệm
nghèo kinh tế và NĐC, trong đó các thiếu hụt mà hộ gia đình và các cá nhân có thể
phải chịu như giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, an ninh. Nghiên cứu này cho thấy cần
xét nghèo đói trên nhiều khía cạnh thì mới đưa ra được giải pháp chính xác cho
từng loại nghèo.

- Báo cáo nghiên cứu nghèo đô thị “Các chính sách công về giảm nghèo từ
nghiên cứu trường hợp ở quận 8 TP.HCM” cho thấy hộ càng nghèo thì thu nhập từ
việc làm càng thấp so với thu nhập từ các khoản trợ cấp xã hội. Báo cáo đề xuất
XĐGN thông qua các chính sách công: đào tạo nghề, đầu tư vốn vay và tạo cách
tiếp cận các dịch vụ ASXH cho người nghèo, góp phần giải quyết cho vấn đề NĐC
như hiện nay.
- Đề tài khoa học cấp thành phố “Các giải pháp giảm hộ nghèo, tăng hộ khá ở
TPHCM giai đoạn 2014 - 2020”, TPHCM, 2015 của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn
Xê đã nghiên cứu một cách khoa học và thực tiễn để xác định mức chuẩn hộ nghèo,
HCN và mức chuẩn hộ khá của thành phố giai đoạn 2016 - 2020, nhằm tham mưu đề
xuất với Thành ủy và UBNDTP xây dựng chương trình giảm nghèo với các chính sách,
giải pháp để người nghèo không tái nghèo và vươn lên trở thành các hộ khá của thành
phố.
- Đề tài cấp nhà nước 702 “Sử dụng nguồn lao động và GQVL ở nước ta khi
chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần”, của Bộ LĐ - TBXH, Hà Nội,
2010.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh”, luận án
Tiến sĩ Kinh tế Trần Văn Tuấn, Hà Nội, 2010.
- “Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2010-2020” của Nguyễn Hữu
Dũng, Tạp chí Lao động Xã hội, 2010.

3


- Đề tài khoa học cấp thành phố “Thanh niên vùng đô thị hóa và vấn đề việc
làm - trường hợp TP. HCM”, TPHCM, 2012 của Tôn Nữ Quỳnh Trâm (chủ nhiệm)
đã nghiên cứu một cách khoa học và thực tiễn những khó khăn và thuận lợi trong việc
làm thanh niên vùng đô thị hóa.
- Đề tài khoa học cấp thành phố “Việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu
số tại TPHCM hiện nay và tầm nhìn đến 2020 (Trường hợp người Hoa, người Chăm

và người Khmer”, TPHCM 2016 của chủ nhiệm đề tài Trương Hoàng Trương,
nghiên cứu một cách khoa học và thực tiễn về vấn đề việc làm, những khó khăn, thách
thức của thanh niên người dân tộc thiểu số trong con đường tìm kiếm việc làm.
- Ở phạm vi nghiên cứu bậc Thạc sỹ tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm
Khoa học Xã hội Việt Nam có các luận văn đã công bố có nội dung liên quan đến đề tài,
đó là luận văn: “Những vấn đề pháp lý về việc làm và giải quyết viêc làm qua thực tiễn ở
Vĩnh Long” chuyên ngành Luật học của Lê Thị Mỹ Hằng (2012), “Chính sách việc làm
từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” chuyên ngành Chính sách công của Trần Văn Minh
(2014), “CTXH đối với người nghèo từ thực tiễn huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh” chuyên
ngành CTXH của Nguyễn Văn Thanh (2014), “Hỗ trợ GQVL đối với thanh niên từ thực
tiễn Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” chuyên ngành CTXH của Đào Thị Tỉnh (2015).
Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, sách, kỷ yếu hội thảo, hội
nghị về vấn đề này với những cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung các công trình đã
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâu nghiên cứu về
CSHTVL đối với người nghèo từ thực tiễn trên địa phương cụ thể là TPHCM. Các
kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên là tài liệu tham khảo cần thiết đối với
tôi trong quá trình thực hiện đề tài “Chính sách hỗ trợ việc làm đối với người
nghèo từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách hỗ trợ việc làm đối
với người nghèo (thông qua nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn TPHCM). Từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ việc làm đối với

4


người nghèo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn có các nhiệm vụ

sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CSHTVL đối với người nghèo.
- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng CSHTVL đối với người nghèo
thông qua việc đánh giá một số hoạt động hỗ trợ (HĐHT) của CTXH trong thực
hiện CSHTVL đối với người nghèo, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt
động của CTXH trong CSHTVL đối với người nghèo trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng các HĐHT và việc
đánh giá những mặt đạt được, cũng như những hạn chế, yếu kém để đưa ra một số
giải pháp nâng cao hiệu quả của CSHTVL đối với người nghèo trên địa bàn
TPHCM.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Có nhiều nội dung trong CSHTVL đối
với người nghèo tại TPHCM nhưng từ góc độ CTXH, đề tài xem xét quá trình
tương tác, triển khai thực hiện của các cơ quan, đoàn thể, cá nhân trong việc sử
dụng những nguyên tắc, phương pháp và đạo đức nghề nghiệp của CTXH khi triển
khai thực hiện CSHTVL, thông qua việc tập trung nghiên cứu hoạt động hỗ trợ giới
thiệu, hướng dẫn, khuyến khích người nghèo, hộ nghèo tham gia mô hình Tổ tự
quản giảm nghèo; hoạt động hỗ trợ giáo dục thông qua hỗ trợ học phí học văn hóa
và học nghề; hoạt động hỗ trợ học nghề gắn với giới thiệu việc làm và giải quyết
việc làm trong nước và ngoài nước (xuất khẩu lao động); hoạt động hỗ trợ vay vốn;
hoạt động tuyên truyền và hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường lao động, tư vấn

5



hướng nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: thời gian khảo sát đánh giá từ 2011 –
2015; thời gian để xác định phương hướng, mục tiêu từ 2016 - 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực
trạng về CSHTVL đối với người nghèo thông qua một số HĐHT của CTXH trong
thực hiện CSHTVL đối với người nghèo, cũng như những mặt đạt được, những hạn
chế, tồn tại từ đó rút ra được những lý luận và đưa ra một một số giải pháp nâng cao
hiệu quả CSHTVL đối với người nghèo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận theo quan điểm hệ thống: nghiên cứu hệ thống
những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan
đến CTXH đối với người nghèo, hệ thống CSHTVL đối với người nghèo, v.v...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn để thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được
công bố, từ đó phân tích, tổng hợp rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần
thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để:
+ Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập
môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH, CTXH với những cá nhân có
nhu cầu đặc biệt, CTXH với nhóm và cộng đồng,…
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách
giảm nghèo bền vững, chính sách hỗ trợ việc làm, chính sách ASXH ...
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa phương
có liên quan đến đề tài.
+ Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề
CTXH, chính sách hỗ trợ, vấn đề về lao động - việc làm, xóa đói giảm nghèo


6


(XĐGN), giảm nghèo bền vững,...
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp
gián tiếp qua bảng hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát phiếu,
hướng dẫn thống nhất cách trả lời, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi
rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi, gửi lại cho các điều tra viên.
Với phương pháp này, đề tài phát phiếu dành cho 200 hộ nghèo, HCN tại
TPHCM thu thập thông tin chung về thực trạng việc làm của họ, cũng như những đề
xuất, một số giải pháp nâng cao hiệu quả của CSHTVL đối với người nghèo trên địa
bàn TPHCM.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: là một phương pháp thu thập thông qua các
bảng hỏi bán cấu trúc nhằm nhìn vấn đề và tìm ra giải pháp cùng người được hỏi
với tư cách là chủ thể. Đối tượng được hỏi là những người có liên quan đến việc
triển khai chính sách hỗ trợ việc làm, cụ thể là 20 lãnh đạo tại địa phương, cán bộ,
nhân viên là những người đảm nhiệm việc triển khai thực hiện công tác chính sách
việc làm, giảm nghèo tại xã-phường, thị trấn, quận-huyện, thành phố và một số
người nghèo.
- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và
kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của
các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, tác phong, v.v... của
người được điều tra. Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có
được những thông tin chính xác cho bản hỏi cũng như bản phỏng vấn sâu. Cụ thể đề
tài tập trung quan sát các hoạt động CTXH hoặc các hoạt động mang tính chất
CTXH. Quan sát về môi trường, không gian sống của người nghèo, cách triển khai
HĐHT của cán bộ.


7


6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về CSHTVL đối với người nghèo
nói riêng và lý luận về chính sách xã hội nói chung.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực
CSHTVL, chính sách GNBV và chính sách xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
CSHTVL cho người nghèo là một nhân tố vô cùng cần thiết và có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong các chính sách của chương trình GNBV. Tuy nhiên, trong quá
trình tổ chức thực hiện công tác này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập, hạn
chế ở nhiều địa phương. Với luận văn này tôi mong muốn cung cấp những thông
tin cụ thể về thực trạng CSHTVL đối với người nghèo trên địa bàn TPHCM từ góc
độ CTXH; gợi mở một số giải pháp để nâng cao hơn nữa các hoạt động của CTXH
trong CSHTVL đối với người nghèo. Đồng thời, cũng như là một thông điệp hướng
sự quan tâm của xã hội, nhất là những người làm chính sách ở địa phương về áp
dụng CTXH trong thực hiện CSHTVL đối với người nghèo để cùng thực hiện có
hiệu quả hơn công tác thực thi chính sách xã hội trong chương trình GNBV.
Giúp cho nhân viên CTXH nói riêng và nhân viên của các ngành khác nói
chung hiểu biết thêm về các chính sách, chế độ ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của
CTXH đối với người nghèo.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội
dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách hỗ trợ việc làm đối với người
nghèo

Chương 2: Thực trạng chính sách hỗ trợ việc làm đối với người nghèo tại
Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ việc làm đối với
người nghèo từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ công tác xã hội.

8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI
VỚI NGƯỜI NGHÈO
1.1. Việc làm đối với người nghèo, chính sách hỗ trợ việc làm đối với
người nghèo: khái niệm, đặc điểm và nhu cầu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu việc làm đối với người nghèo
1.1.1.1. Người nghèo
a. Khái niệm người nghèo
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc,
không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc
không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo
cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ
gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội
hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ
sinh an toàn”.
Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có
khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống
ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện, còn
khái niệm đói được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống [37].
Tóm lại, những quan niệm về nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ

yếu của người nghèo, đó là có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng
đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho
con người và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Như vậy, có thể quan niệm nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần
được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con
người.
b. Phương pháp đánh giá nghèo: đói nghèo là một trong những rào cản lớn

9


làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Người
nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các DVXH như việc làm, giáo dục, chăm
sóc sức khỏe, thông tin, v.v…và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo. Do
vậy, mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương
thức tốt nhất để GNBV. Về phương pháp đánh giá nghèo có thể căn cứ vào một tiêu
chí/ một chiều - nghèo đơn chiều hay nghèo nhiều chiều – Nghèo đa chiều.
- Nghèo đơn chiều
Chỉ tiêu thu nhập hay chi tiêu thường được chọn để đánh giá nghèo theo
phương pháp đơn chiều. Theo Hội nghị thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ
chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995, theo đó: “Người nghèo là tất cả những
ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 (một) đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền
được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Nghèo đơn chiều
(theo thu nhập) đã được các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
thống nhất; Theo Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban KT - XH khu vực
(ESCAP) tổ chức ở Thái Lan năm 1993 là: “Tình trạng một bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy
phụ thuộc vào trình độ phát triển KT - XH, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
- Nghèo đa chiều

Vấn đề NĐC có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu
hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng
là những nội dung được quan tâm trong khái niệm NĐC. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói
về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được
thụ hưởng các lợi ích phát triển KT - XH và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản
(UN, 2012: 5).

Khái niệm trên cho thấy quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần
được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ
bản của con người. NĐC là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối
thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Khái niệm NĐC được đề cập ở Việt
Nam từ năm 2013. Đo lường NĐC cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh
10


đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở Việt Nam.
Hiện nay Bộ LĐ - TBXH đã xây dựng bộ tiêu chí NĐC, đồng thời rà soát cơ
chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam.
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015 về việc
ban hành chuẩn NĐC áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 31/12/2015
của UBNDTP ban hành chuẩn nghèo, HCN Thành phố áp dụng cho giai đoạn 2016
- 2020. Theo đó, chương trình mới cho phép sử dụng cùng lúc chiều thu nhập và 5
chiều nghèo phi thu nhập/ xã hội; gồm: giáo dục - đào tạo; y tế; việc làm – BHXH;
điều kiện sống; tiếp cận thông tin để xác định hộ nghèo/cận nghèo của thành phố.
Trong 5 chiều xã hội có 11 chỉ số phi thu nhập, cụ thể: bằng cấp cao nhất của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; trình độ nghề; tiếp cận dịch vụ y tế; BHYT; việc
làm; BHXH; nhà ở; nguồn nước sinh hoạt; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục
vụ tiếp cận thông tin. Như vậy, theo cách tiếp cận đa chiều, chuẩn hộ nghèo là hộ có
thu nhập bình quân đầu người dưới 21 triệu đồng/người/năm và thiếu hụt từ 4 - 5

chỉ số phi thu nhập; chuẩn HCN là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ trên 21 28 triệu đồng/người/năm và thiếu hụt 4 - 5 chỉ số phi thu nhập. Từ chuẩn nghèo
này, Thành phố sẽ xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo để có chính sách phù hợp trong
chương trình GNBV. Tuy nhiên để thuận tiện cho nghiên cứu trong các phần phân
tích sau của luận văn xin chỉ đề cập từ hộ nghèo để thay cho cụm từ hộ nghèo, hộ
cận nghèo.
1.1.1.2. Đặc điểm và nhu cầu của người nghèo
Nhìn chung người nghèo có đặc điểm tâm lý mặc cảm, tự ti do hoàn cảnh cuộc
sống không được bằng mặt bằng chung của cộng đồng. Từ đó dẫn đến việc một số
người nghèo ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể. Bên cạnh đó có
một số nhỏ vẫn còn tư tưởng buông xuôi, phó mặc và chưa thực sự quyết tâm vươn
lên, không dám đấu tranh, không dám bộc lộ bản thân, ngại thay đổi.
Không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến, cho rằng lời nói của mình không có
trọng lượng, không được chấp thuận.

11


Đối với người nghèo, dường như tất cả các nhu cầu cơ bản đều thiếu hụt,
nghèo đói dẫn người nghèo gặp nhiều nguy cơ trong cuộc sống.
Xét về nhu cầu, người nghèo ngoài những nhu cầu hỗ trợ để tăng cường thu
nhập, nâng cao đời sống, còn có những nhu cầu về tâm lý, tình cảm mà xã hội cần
được quan tâm, chăm sóc [37].
1.1.1.3. Việc làm
a. Khái niệm việc làm
Theo Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Việc làm năm 2013 thì: "Việc làm
là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Đây được coi là
khái niệm đầy đủ nhất và là cơ sở pháp lý trong việc đề ra CSHTVL cho người lao
động nói chung và người nghèo nói riêng.
Như chúng ta đã biết, hai phạm trù việc làm và lao động có liên quan với nhau
và cùng phản ánh một loại lao động có ích của một người, nhưng hai phạm trù đó

hoàn toàn không giống nhau vì: có việc làm thì chắc chắn có lao động nhưng ngược
lại có lao động thì chưa chắc đã có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định
của công việc mà người lao động đang làm.
b. Người có việc làm
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Người có việc làm là người đang
làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp
luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp
phần cho xã hội”. Người có việc làm (dân số có việc làm) bao gồm những người từ
15 tuổi trở lên mà trong khoảng thời gian tham chiếu (một tuần), thuộc một trong
các loại sau đây:
(1) Làm việc được trả lương/trả công: (+) Làm việc: những người trong thời
gian tham chiếu đã làm một số công việc để được trả lương hoặc trả công bằng tiền
hay hiện vật; (+) Có việc làm nhưng không làm việc: những người hiện đang có
việc làm, nhưng trong khoảng thời gian tham chiếu đang tạm thời nghỉ việc nhưng
vẫn có những dấu hiệu còn gắn bó với việc làm của họ (vẫn được trả lương/ trả
công, được bảo đảm sẽ trở lại làm việc, có thỏa thuận trở lại làm việc sau khi nghỉ

12


tạm thời,....).
(2) Tự làm hoặc làm chủ: (+) Tự làm: những người trong thời gian tham
chiếu đã tự làm một số công việc để có lợi nhuận hoặc thu nhập cho gia đình, dưới
hình thức bằng tiền hay hiện vật; (+) Có doanh nghiệp nhưng không làm việc:
những người hiện đang làm chủ doanh nghiệp, có thể là doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh, một trang trại hoặc một cơ sở dịch vụ, nhưng trong thời kỳ tham chiếu họ
đang nghỉ việc tạm thời vì một số lý do cụ thể.
Tổ chức lao động quốc tế quy định, với hoạt động kinh tế hiện tại, thời gian tối
thiểu để một người có thể được xem xét có việc làm (làm việc) là trong 07 ngày qua
phải có ít nhất 01 giờ làm việc để tạo thu nhập chính đáng.

c. Người thiếu việc làm
Người thiếu việc làm bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên làm việc dưới 35
giờ một tuần, muốn và sẵn sàng làm thêm việc. Người thiếu việc làm có hai dạng:
(+) Người thiếu việc làm vô hình (dạng không nhìn thấy được) là người có thời gian
làm việc tuy đủ hoặc vượt mức chuẩn quy định về đủ số giờ làm việc trong tuần lễ
tham khảo nhưng việc làm có năng suất thu nhập thấp, công việc không phù hợp với
chuyên môn nghiệp vụ và họ có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm hoặc việc làm
khác; (+) Người thiếu việc làm hữu hình (dạng nhìn thấy được) là người có việc làm
nhưng số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo dưới mức quy định chuẩn và họ có
nhu cầu làm thêm.
d. Người thất nghiệp
- Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần tham
chiếu đã hội đủ các yếu tố sau đây: (+) Không làm việc nhưng sẵn sàng và mong
muốn có việc làm; (+) Đang đi tìm việc làm có thu nhập, kể cả những người trước
đó chưa bao giờ làm việc;
- Người thất nghiệp còn bao gồm các trường hợp đặc biệt sau: (+) Những
người đang nghỉ việc tạm thời nhưng không có căn cứ bảo đảm sẽ được tiếp tục làm
công việc cũ, trong khi đó họ vẫn sẵn sàng làm việc hoặc đang tìm kiếm việc làm
mới; (+) Những người trong thời kỳ tham chiếu không có hoạt động tìm kiếm việc

13


×