Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (976.5 KB, 127 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------------

---------------

VŨ NGỌC TOÀN

GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------------

---------------

VŨ NGỌC TOÀN



GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

CHUYÊN NGÀNH

: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ

: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS NGÔ THỊ THUẬN

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
được bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, Ngày

tháng


năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Ngọc Toàn

ii


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn
đến Cô giáo PGS.TS. Ngô Thị Thuận, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và
tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và PTNT,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành đoàn thể huyện
Sơn Dương; Đảng ủy, HĐND, UBND các xã Phú Lương, Minh Thanh, Ninh Lai
và các hộ nông dân đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn
thành luận văn này. Đặc biệt, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ông
Nguyễn Thế Tài, cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Sơn Dương, phụ
trách lĩnh vực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đã giúp đỡ tôi nhiệt
tình, đóng góp những ý kiến quý báu nhất để tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp, bạn bè cùng toàn
thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài.

Hà Nội, Ngày

tháng
Tác giả


Vũ Ngọc Toàn

iii

năm 2015


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

BCĐ

Ban chỉ đạo

BQL

Ban quản lý

CN

Công nghiệp

CNH - HĐH

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CNXD


Công nghiệp xây dựng

DT

Diện tích

ĐVT

Đơn vị tính

GTNT

Giao thông nông thôn

HTX

Hợp tác xã

KHKT

Khoa học kỹ thuật

KTXH

Kinh tế xã hội

MTQG

Mục tiêu quốc gia


NN

Nông nghiệp

NTM

Nông thôn mới

NXB

Nhà xuất bản

PTNT

Phát triển nông thôn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TDTT

Thể dục thể thao

THCS

Trung học cơ sở

TMDV


Thương mại dịch vụ

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

UBND

Uỷ ban nhân dân

XD

Xây dựng

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

iv


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii


Danh mục chữ viết tắt

iv

Mục lục

iv

Danh mục bảng

vii

Danh mục biểu đồ

ix

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu


3

1.2.1 Mục tiêu chung

3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

4

1.3

Câu hỏi nghiên cứu

4

1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

4


PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

6

2.1

Cơ sở lý luận

6

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

6

2.1.2 Ý nghĩa của xây dựng nông thôn mới

13

2.1.3 Nguyên tắc, nội dung, tiêu chí và chủ thể của chương trình xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam.

15

2.1.4 Các bước và kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

18

2.1.5 Sự cần thiết thực hiện tiến độ xây dựng NTM ở nước ta


20

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới

23

2.2

25

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

25

2.2.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương của Việt Nam về xây dựng nông
thôn mới

28

iv


2.2.3 Các bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới

30

2.2.4 Các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan


32

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

33

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện

33

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện

36

3.2

Phương pháp nghiên cứu

44

3.2.1 Phương pháp chọn điểm khảo sát

44

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu


46

3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

46

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin

46

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

47

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

48

3.1

4.1

Thực trạng tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện
Sơn Dương

48

4.1.1 Tiến độ thực hiện kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới huyện Sơn
Dương


48

4.1.2 Tiến độ thực hiện kế hoạch các nội dung xây dựng nông thôn mới

51

4.1.3 Tiến độ thực hiện kế hoạch các tiêu chí xây dựng NTM

67

4.1.4 Tiến độ thực hiện kế hoạch xây dựng nông thôn mới ở các xã đại diện 71
4.2

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng NTM huyện Sơn Dương

75

4.2.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện

75

4.2.2 Năng lực tổ chức và quản lý của cán bộ trong XD NTM

77

4.2.3 Vai trò của người dân trong XD NTM

79

4.2.4 Cơ chế, chính sách


81

4.3

Giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới ở huyện Sơn Dương 83

4.3.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Sơn Dương

83

4.3.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Sơn Dương đến năm 2020

v

85


PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

93

5.1

Kết luận

93

5.2


Kiến nghị

94

5.2.1 Đối với Trung ương, các Bộ, ngành

94

5.2.2 Đối với tỉnh Tuyên Quang

94

5.2.3 Đối với huyện Sơn Dương

95

5.2.4 Đối với các thành phần tham gia xây dựng nông thôn mới

95

TÀI LIỆU THAM KHẢO

96

vi


DANH MỤC BẢNG


Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Tình hình đất đai huyện Sơn Dương năm 2012-2014

37

3.2

Tình hình dân số và lao động của huyện Sơn Dương, 2012 – 2014

39

3.3

Một số chỉ tiêu thể hiện phát triển kinh tế huyện Sơn Dương từ năm
2012-2014

44

3.4

Thống kê số lượng mẫu điều tra

45


4.1

So sánh thực tế với kế hoạch về lộ trình thành lập hệ thống tổ chức
quản lý và thực hiện xây dựng NTM huyện Sơn Dương

4.2

So sánh thực tế với kế hoạch về tiến trình các bước triển khai xây dựng
NTM huyện Sơn Dương

4.3

50

Thực trạng thực hiện tiến độ thời gian về quy hoạch xây dựng NTM
huyện Sơn Dương đến năm 2014

4.4

62

Mức độ hoàn thành các tiêu chí về phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và
môi trường trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

4.10

59

Thực trạng thực hiện tiến độ về phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và môi

trường trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

4.9

57

Thực trạng thực hiện tiến độ về phát triển kinh tế & các hình thức tố
chức sản xuất trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

4.8

55

Thực trạng thực hiện tiến độ về xây dựng hệ thống chợ, bưu điện và nhà
ở dân cư trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

4.7

53

Thực trạng thực hiện tiến độ về xây dựng hệ thống điện, trường học và cơ sở
vật chất văn hóa trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

4.6

51

Thực trạng thực hiện tiến độ về xây dựng đường GTNT và Thủy lợi
trong chương trình NTM huyện Sơn Dương đến năm 2014


4.5

49

63

Thực trạng thực hiện tiến độ về kiện toàn hệ thống chính trị xã hội trong
chương trình NTM huyện Sơn Dương đến 2014

vii

66


Số bảng
4.11

Tên bảng

Trang

Thực trạng thực hiện tiến độ về các tiêu chí trong chương trình NTM
huyện Sơn Dương đến 2014

4.12

67

Mức độ thực hiện các tiêu chí trong chương trình NTM của các xã
huyện Sơn Dương đến 2014


4.13

68

Thực trạng thực hiện tiến độ về các tiêu chí trong chương trình NTM
của 3 xã đại diện huyện Sơn Dương đến 2014

4.14

Thực trạng cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã huyện Sơn
Dương

4.15

71

78

Tổng hợp kết quả điều tra người dân về xây dựng nông thôn mới ở 03
xã đại diện

79

viii


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ


Tên biểu đồ

Trang

4.1

Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn huyện Sơn Dương

60

4.2

Nhu cầu kinh phí xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2013-2015

84

ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với
hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn đã,
đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn
định kinh tế xã hội đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn
mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng

hiện đại” (Nguyễn Thị Hồng Ninh, 2014). Do vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), gần 20 năm qua đất nước
ta bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế
thế giới, nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có sự phát triển mạnh mẽ đạt được
những kết quả quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, đời sống cộng
đồng, góp phần nâng cao vai trò, vị trí và sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn cả nước, tạo tiền đề để tăng tốc độ
phát triển kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tuy vậy, bên cạnh
những ưu điểm thì nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều khuyết tật. Do việc
phân bổ nguồn lực kinh tế tuân theo quy luật vận động của hệ thống thị trường,
cho nên, những vùng, địa phương khó khăn, ít tài nguyên khoáng sản và không
có vị trí địa lý thuận lợi thì vẫn phát triển chậm, đời sống của nhân dân vẫn còn
nhiều khó khăn, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nhất là nông thôn vùng
sâu, vùng xa. Do kinh tế nông thôn chậm phát triển nên xu thế di dân từ nông
thôn ra thành thị ngày càng lớn làm ảnh hưởng đến quá trình ổn định và phát
triển của các đô thị. Trước thực trạng nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều

1


chủ trương, giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường
và hội nhập như triển khai thực hiện chương trình đầu tư cho các xã đặc biệt khó
khăn (Chương trình 134, 135,...) và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới. Các địa phương cũng đã có nhiều cố gắng để xây dựng nông thôn
mới nhưng nông thôn nước ta có phạm vi rất rộng lớn, kinh tế của nông thôn chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp nên nhìn chung nông thôn nước ta còn rất nghèo.
Cùng với đặc điểm địa hình phức tạp, nhiều sông suối chia cắt và cách lập làng
theo tập quán có từ lâu đời nên nông thôn ta phát triển còn lộn xộn, mỗi nơi làm

theo một cách, chưa theo một chuẩn mực thống nhất nào.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân
và nông thôn”, ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Quyết
định số 800/QĐ-TTg, ngày 06 tháng 4 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn cả nước. Tuy thời gian triển khai thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới chưa lâu nhưng các địa phương, nhất là cấp cơ sở
đã bộc lộ nhiều lúng túng, vướng mắc trong quá trình chỉ đạo thực hiện, do đó
tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới chung
cả nước chậm so với các mục tiêu, kế hoạch đề ra tại Quyết định số 800/QĐTTg, ngày 06 tháng 4 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn
nhiều khó khăn nhưng nhờ có những cách làm hay, sáng tạo phù hợp với thực tế
của từng địa phương, tỉnh Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến đã đạt được những
kết quả rất đáng chú ý trong xây dựng nông thôn mới. Qua 3 năm thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới, đến nay số tiêu chí đạt được của các xã
đều tăng lên, đặc biệt là các xã điểm; diện mạo nông thôn thay đổi rõ nét, sản
xuất phát triển theo hướng hàng hóa và giá trị tăng cao; tỷ lệ hộ nghèo từng bước
giảm; các dịch vụ về y tế, văn hóa, giáo dục được cải thiện, an ninh chính trị
được củng cố và giữ vững; đội ngũ cán bộ thôn bản, cán bộ xã trưởng thành,
nâng cao năng lực tổ chức thực hiện công tác cơ sở.

2


Sơn Dương là huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang,
cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 30 km về phía Đông Nam. Huyện Sơn
Dương được chọn làm điểm xây dựng nông thôn mới, trong những năm qua
huyện đã đẩy mạnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn như

chương trình bê tông hóa đường giao thông nông thôn, xây dựng trường học,
trạm y tế và các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao đạt chuẩn quốc gia, chuyển
đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi,… theo hướng xây dựng nông thôn mới.
Triển khai thực hiện Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí nông thôn mới huyện đã có
nhiều cố gắng nhưng tiến độ chậm, kết quả đạt được chưa cao do nhiều khó khăn,
vướng mắc cần giải quyết như: xuất phát điểm của huyện thấp; nguồn lực thực
hiện Chương trình hạn chế; chưa có giải pháp thu hút đầu tư từ các Doanh nghiệp;
trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế; Ban chỉ đạo, Ban quản lý ở
một số xã chưa chỉ đạo quyết liệt; ban phát triển thôn thôn còn yếu, thiếu kiến
thức về quy hoạch và xây dựng nông thôn mới; năng lực của một số đơn vị tư
vấn còn hạn chế; đời sống của nhân dân còn khó khăn,...
Các nghiên cứu về nông thôn mới đã có nhiều nhưng được thực hiện ở các
địa điểm khác, riêng ở huyện Sơn Dương đến nay chưa có một nghiên cứu nào về
đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới. Để góp sức vào công cuộc xây dựng
nông thôn mới của huyện, đảm bảo lộ trình, kế hoạch đề ra chúng tôi xin chọn
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tiến độ xây dựng
nông thôn mới ở huyện Sơn Dương thời gian qua, đề xuất định hướng và các giải
pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện thành
công Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Dương đến
năm 2020.

3


1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới;
- Đánh giá thực trạng tiến độ xây dựng nông thôn mới ở huyện Sơn
Dương những năm qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Sơn Dương;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Dương đến năm 2020.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Xây dựng nông thôn mới gồm những nội dung, các hoạt động, thực hiện
các tiêu chí và tiến trình như thế nào?
- Các bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới trên thế giới, ở một
số tỉnh thành ở nước ta là gì?
- Quá trình xây dựng nông thôn mới được triển khai, tổ chức thực hiện và
thực trạng tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang như thế nào?
- Những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới ở huyện Sơn Dương là gì?
- Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới ở huyện Sơn Dương cần
thực hiện các giải pháp nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về tiến độ xây
dựng nông thôn mới; các chủ thể tham gia quá trình xây dựng nông thôn mới bao
gồm các hộ nông dân, cán bộ các cấp, các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, tổ
chức chính trị xã hội huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian
Đề tài được triển khai nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang. Một số nội dung chuyên sâu sẽ khảo sát ở một số xã đại diện
của huyện


4


* Phạm vi về thời gian
- Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu trong 4 năm
từ 2011 đến 2014.
- Dữ liệu sơ cấp sẽ thu thập năm 2014-2015.
- Các giải pháp đề xuất sẽ thực hiện năm 2015-2020.
* Phạm vi về nội dung: Tập trung đánh giá thực trạng tiến độ xây dựng
nông thôn mới ở huyện Sơn Dương những năm qua (từ năm 2011 – năm 2014)
và đề xuất định hướng, các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Dương đến năm 2020.

5


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Nông thôn
Hiện nay trên thế giới định nghĩa về nông thôn hiện nay chưa được đưa
ra một cách chuẩn xác nhất, vẫn đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng nông thôn được định nghĩa dựa vào tiêu chí trình độ
phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng
không phát triển bằng vùng đô thị. Có quan điểm lại cho rằng nên dựa vào chỉ
tiêu mức độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông
thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận
thị trường so với vùng đô thị là thấp hơn. Cũng có quan điểm định nghĩa vùng

nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế
chính trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Ở Việt Nam, “Nông thôn là vùng
sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư
này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường trong
một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.”
(Mai Thanh Cúc và cs, 2005).
Theo đó, ta có thể thấy khái niệm nông thôn chỉ mang tính tương đối, có
thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các
quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhìn nhận từ góc độ
quản lí, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó
có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào hoạt động kinh tế văn hoáxã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng
của các tổ chức khác.” (Mai Thanh Cúc và cs, 2005).
2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan
điểm khác nhau: Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “PTNT là một

6


chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm
người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất
trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát
triển”. Quan điểm khác lại cho rằng PTNT nhằm nâng cao vị thế kinh tế và xã hội
cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa
phương gồm nguồn nhân lực, vật lực và tài lực (Mai Thanh Cúc và cs, 2005).
PTNT là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng
vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học
và công nghệ. Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các
chương trình phát triển nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư
dân nông thôn (Mai Thanh Cúc và cs, 2005).

Khái niệm PTNT mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi
trường. Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược
kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền
vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ
chức khác” (Mai Thanh Cúc và cs, 2005).
2.1.1.3 Nông thôn mới
a) Khái niệm nông thôn mới
Khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải
là thị tứ; thứ hai, là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống.
Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải
bao hàm cơ cấu và chức năng mới. Nông thôn mới là một quá trình phát triển nông
thôn theo mô hình mới (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
Xây dựng NTM không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Nếu
áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn sẽ làm mất những
giá trị tự có và không giữ vững, phát triển được bản sắc riêng của nông thôn (Phan
Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).

7


Công nghiệp hóa, đô thị hóa; nông dân phi nông hóa là động lực cơ bản trong
xây dựng NTM. Xây dựng nông thôn mới XHCN phải lấy việc đẩy mạnh dịch
chuyển lao động nông thôn làm cơ sở, chứ không phải lấy việc cố định người nông
dân làm mục tiêu. Đồng thời nhà nước cần có các chính sách nhằm gia tăng sức hút
của thành thị, xóa bỏ các chính sách gây cản trở đến sự chuyển dịch lao động và
ngành nghề sang khu vực thành thị, không nên cố định các ngành nghề công nghiệp
tại các khu vực nông thôn (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
Khái niệm NTM mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau.

Nhìn chung, mô hình NTM là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, văn minh hóa. Sự hình
dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu
mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà
vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam.
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển;
Có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; Đạt hiệu quả cao nhất
trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Tiến bộ hơn so với mô hình cũ;
Chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước (Phan
Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân,
tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện
chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện
mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và
thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng
tâm cần lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của
các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài (Phan Xuân Sơn,
Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao

8


sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây
dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền
tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Như vậy, hiểu một

cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến
một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ
tầng gần giống đô thị (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
Do đó, có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm,
cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu
cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được
xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt” (Phan
Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009).
b) Chức năng của nông thôn mới
* Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của
các quốc gia. Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Chức
năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất
lượng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông
thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông
nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng
các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông
thôn trở thành thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành
thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của
nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn
(Cù Ngọc Hưởng, 2006).
* Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm ở nông thôn được hình
thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống. Quy
tắc hành vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán

9



đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy
phạm phong tục tập quán đó. Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan
trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục
được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi
với thiên tai đại họa. Cũng chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản
phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác
bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương, tất cả được sản
sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu
này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi
trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì
thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông thôn
với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi
trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Ngoài ra, các cảnh
quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng
xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự
nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự
kế tục phát triển của các dân tộc (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên
việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang
tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài
hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này
không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng
tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền
thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
* Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong suốt một
quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên
nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và
cuối cùng là tôn trọng tự nhiên. Trong nông thôn truyền thống, con người và tự
nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự


10


nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ
thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất. Quá trình mưu cầu cuộc
sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên.
Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người
với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng.
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời
tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí. Nếu so
sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có
thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người,
mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên. Thuộc tính sản
xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng
phục vụ hệ thống sinh thái. Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các
khu rừng, thảo nguyên, phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu,
giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm
sạch đất (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt
giữa thành thị với nông thôn. Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng
lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái
của nông thôn.
Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp
ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người. Nông thôn có thể bù đắp được
những thiếu hụt sinh thái của thành thị. Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà
cân bằng tâm lý con người. Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể
cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống. Sự chung sống hài hoà giữa con
người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn. Đây cũng chính là
nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày

càng phát triển rầm rộ. Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng
góp tích cực cho sinh thái. Có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một đơn
vị có thể coi là nông thôn mới hay không. Đồng thời phải phân biệt rõ không được
lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị (Cù Ngọc Hưởng, 2006).

11


2.1.1.4 Xây dựng nông thôn mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển
năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành
công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công
nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công
nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn
mới (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011).
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đã xác định rõ định
hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với
phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ
và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình nông thôn mới
phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng
giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt
Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi
để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả
Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm. Thực
hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính
sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ; bố trí hợp lý dân cư, bảo
đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển (Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011).

Đảng ta đã hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo quan điểm, chủ trương, biện
pháp về xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc từ Đại hội X đến nay.
Vậy xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn
nhằm tạo ra một nông thôn có nền kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật
chất, văn hóa và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ
tầng phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống văn hóa của người dân (Chính phủ, 2010).

12


Xây dựng NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông
nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa
đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với
các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng
thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí. Xây dựng NTM được quy định
bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và
cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm
chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước. Như vậy, có thể hiểu “Xây
dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng
xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện
và đời sống của người dân được nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trường và an
ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người
dân được nâng cao”. Căn cứ vào nội dung tại Quyết định số 491/QĐ-TTg và
Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành thì: Xây dựng
NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
(Nguyễn Thị Hồng Ninh, 2014).
2.1.2 Ý nghĩa của xây dựng nông thôn mới
Theo Đỗ Mai Thành (2012), XDNTM có ý nghĩa quan trọng về các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, con người, môi trường, cụ thể:

2.1.2.1 Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao
lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại,
tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi
người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt
sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị.
Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các
hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng

13


tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh,
phát triển ngành nghề ở nông thôn.
Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng
vùng, địa phương. Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất,
chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng
nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
2.1.2.2 Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương
ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn
trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã.
Phát huy tối đa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội,
đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào
xây dựng nông thôn mới.
2.1.2.3 Về văn hóa - xã hội
Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo,
vươn lên làm giàu chính đáng.

2.1.2.4 Về con người
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có;
kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng
họ, gia đình.
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi
chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đưa nông dân vào sản xuất
hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư,
thị trường hóa nông thôn.
2.1.2.5 Về môi trường
Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái. Bảo vệ rừng đầu
nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu
công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.

14


×