Tải bản đầy đủ (.pdf) (66 trang)

Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại xã hiệp an, huyện đức trọng, tỉnh lâm đồng từ năm 2011 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.98 MB, 66 trang )

MỤC LỤC
Lời cảm ơn………………………………………….……………………………....i
Danh mục các từ viết tắt……………………………………………….……….....ii
Danh mục các bảng tổng hợp……………………………………………….…....iii
Mục lục………………………………………………………………..…....……...iv
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU............................................................. 3
1.1. Tranh chấp đất đai ............................................................................................ 3
1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai ....................................................................... 3
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai ......................................................................... 3
1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai .................................................................. 4
1.2. Nguyên nhân tranh chấp đất đai ..................................................................... 5
1.2.1. Nguyên nhân khách quan .............................................................................. 5
1.2.2. Nguyên nhân chủ quan .................................................................................. 6
1.3. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai và nguyên tắc giải quyết tranh
chấp đất đai ............................................................................................................... 9
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai ..................................................... 9
1.3.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai .................................................. 10
1.4. Khái quát về Pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai ................................ 11
1.4.1. Thời kỳ trƣớc khi ban hành Hiến pháp 1980 ............................................ 11
1.4.2. Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980 ................................................ 11
Chƣơng 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................................ 18
2.1. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................ 18
2.1.1. Mục tiêu tổng quát ....................................................................................... 18
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 18
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu...................................................................................... 18
2.3. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 18
2.4. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 19
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................ 19
2.5.1. Phƣơng pháp điều tra thu thập số liệu....................................................... 19


2.5.2. Phƣơng pháp tổng hợp phân tích, so sánh ................................................ 19
2.5.3. Phƣơng pháp tham khảo ý kiến chuyên gia .............................................. 20
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 21
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội ............................................................. 21
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ....................................................................................... 21
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ............................................................................. 25

iv


3.1.3. Ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội đến công tác quản
lý đất đai .................................................................................................................. 29
3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất.................................................................. 30
3.2.1. Tình hình quản lý đất trên địa bàn ............................................................ 30
3.2.2. Tình hình sử dụng đất.................................................................................. 31
3.3. Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn ................................. 36
3.3.1. Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai .................................................... 36
3.3.2. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai năm 2011 ...................................... 40
3.3.3. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai năm 2012 ...................................... 42
3.3.4. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai năm 2013 ...................................... 44
3.3.5. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai năm 2014 ...................................... 46
3.3.6. Kết quả giải quyết tránh chấp đất đai năm 2015 ...................................... 49
3.3.7. Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai từ năm 2011-2015 ....... 50
3.4. Những thuận lợi, khó khăn khi giải quyết tranh chấp đất đai tại địa
phƣơng..................................................................................................................... 51
3.4.1. Thuận lợi ....................................................................................................... 51
3.4.2. Khó khăn ....................................................................................................... 52
3.5. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp
đất đai ...................................................................................................................... 53
Chƣơng 4:KẾT U N VÀ KIẾN NGH ............................................................. 56

4.1 Kết luận ............................................................................................................. 56
4.2 Kiến nghị ........................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 58
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 60

v


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài sản chung quý giá của mỗi quốc gia, vừa là tư liệu vừa là đối
tượng sản xuất của nông nghiệp và cũng là nơi xây dựng các công trình phục vụ
phát triển kinh tế dân sinh và an ninh quốc phòng. Đất đai luôn giữ vai trò quan
trọng trong đời sống, đặc biệt hiện nay trên đà phát triển của cơ chế thị trường,
nước ta mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới thì sự tăng trưởng kinh
tế xã hội ngày càng cao, sự cạnh tranh và áp lực đối với đất đai rất lớn, nhu cầu
sử dụng đất trở nên cấp thiết hơn kéo theo giá trị đất tăng cao là điều tất yếu.
Đồng thời do trình độ dân trí còn hạn chế, ý thức chấp hành Pháp luật chưa cao,
dẫn đến các đối tượng sử dụng đất đã nảy sinh tranh chấp quyền sử dụng đất. Vì
vậy, vấn đề tranh chấp đất đai trở nên khá phổ biến và là một trong những nội
dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nó không
những ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia tranh chấp đất đai mà còn gây
nhiều khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có thẩm
quyền. Nếu giải quyết tốt và hạn chế các vụ tranh chấp đất đai sẽ góp phần phát
huy được vai trò của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả quản lý
của Nhà nước.
Xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nằm dọc theo quốc lộ 20
là cửa ngõ đi vào thành phố Đà Lạt, với cơ cấu chủ yếu là sản xuất nông nhiệp.
Xã Hiệp An, hiện đang là một xã có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao của tỉnh
Lâm Đồng. Cùng với đó đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, giá
đất nhảy vọt một cách chóng mặt, thị trường mua bán bất động sản liên tục tăng

theo hằng năm. Tình trạng tranh chấp đất đai cũng xảy ra thường xuyên và ngày
một nhiều hơn. Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá vấn đề tranh chấp đất đai và
đề ra những giải pháp nhằm giảm thiểu tranh chấp là công việc hết sức phức tạp,
đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành.

1


Xuất phát từ vấn đề trên, được sự cho phép của Ban nông lâm trường Đại
Học Lâm Nghiệp Cơ Sở 2, tôi thực hiện chuyên đề: “ Đánh giá công tác giải
quyết tranh chấp đất đai tại xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh âm Đồng
từ năm 2011 - 2015 ”, nhằm khắc phục những khó khăn về công tác giải quyết
tranh chấp đất đai trên địa bàn xã hiện nay.

2


Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham
gia vào các quan hệ Pháp Luật Đất đai khi họ cho rằng quyền sử dụng đất của
mình bị xâm hại đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình mà các bên đều đưa ra
chứng cứ về quyền sử dụng đất của mình và không tự giải quyết với nhau được
mà phải nhờ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia
tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước. Khi xảy ra tranh chấp, thì
mỗi bên không thực hiện những quyền của mình, do đó ảnh hưởng đến việc thực

hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Giải quyết các tranh chấp đất đai với ý nghĩa là một nội dung của chế độ
quản lý Nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở Pháp luật nhằm hồi phục
lại các quyền sử dụng đất bị xâm hại và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các
hành vi vi phạm Pháp luật.
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Các dạng tranh chấp đất đai thường gặp như sau:
- Tranh chấp đòi lại đất cũ, đòi lại tài sản gắn liền với đất.
- Tranh chấp do lấn chiếm đường đi chung.
- Tranh chấp ranh giới thửa đất.
- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp đất đai do lấn chiếm đất, được chia ra theo hai loại sau:

3


+ Tranh chấp giữa các tổ chức sử dụng đất với nhân dân địa phương và
ngược lại.
+ Tranh chấp do lấn chiếm đất của nhà nước quản lý.
- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất, tài sản gắn liền với đất.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất.
1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh
những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang
những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao
động, tranh chấp kinh tế… sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau
đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền

quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất
đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao
đất, cho thuê đất của nhà nước hoặc được nhà nước cho phép nhận chuyển
nhượng từ các chủ thể khác hoặc được nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất
hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất
đai lá các tổ chức, hộ gia đình cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý
hoặc người sử dụng đất.
Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt
động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng,
phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích,
nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử
dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất.
Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại
biến động theo quy Luật cung cầu, trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng
đất không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá

4


trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất). Tất
nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những
mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên
gay gắt và trầm trọng hơn.
Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như:
Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mỗi quan hệ xã hội, làm mất đoàn
kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất,
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà
còn gây thiệt hại tới lợi ích của nhà nước và xã hội.
Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử
dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên

tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của nhà nước.
1.2. Nguyên nhân tranh chấp đất đai
1.2.1. Nguyên nhân khách quan
Tranh chấp đất đai ở nước ta phát sinh có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để
lại. Ở miền Bắc sau cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng và Chính phủ đã
tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân,
phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm 1960,
thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, ruộng đất của người nông dân
được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành sở hữu tập thể, do đó tình
hình sử dụng đất đai tương đối ổn định.
Ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tình hình sử
dụng đất đai có nhiều diễn biến phức tạp hơn. Trong 9 năm kháng chiến, chính
phủ đã tiến hành chia ruộng đất cho người nông dân hai lần vào các năm 19491950, và năm 1954, nhưng đến năm 1957, ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện cải
cách điền địa, thực hiện việc “truất hữu” nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng,
gây ra những xáo trộn về quyền quản lý ruộng đất của người nông dân. Sau khi

5


thống nhất đất nước, năm 1975, nhà nước đã tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp,
đồng thời xây dựng hàng loạt các lâm trường, nông trường, trang trại. Những tổ
chứ đó chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả. Đặc biệt,
qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977-1978 và năm 1982-1983, với
chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, “cào bằng” đã dẫn tới những xáo
trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai.
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế
quản lý thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị. Dưới góc độ kinh tế, đất đai được
coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu, quy
luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không được thừa nhận
một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài. Do vậy nhà nước chưa

kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có hiệu quả.
Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều
người dân dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho
thuê, cho mượn, đã tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực
hiện một số chính sách đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn
bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ.
1.2.2. Nguyên nhân chủ quan
1.2.2.1. Về cơ chế quản lý đất đai
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông
lỏng, nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai Pháp luật.
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ. Nhà nước phân
công, phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ,
nhiều sơ hở. Có thời kỳ mỗi loại đất cho một ngành quản lý dẫn đến việc tranh
chấp về đất thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác nhau.
Trong cơ chế thị trường, nhà nước thống nhất quản lý đât đai theo quy
hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ. Tuy

6


nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ quản lý
của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai. Điều này góp phần làm xuất
hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết cụ thể.
Hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý và
thực tế để xác định quyền sử dụng và quản lý đất đai của tổ chức, cá nhân, đặc
biệt là ở những vùng mà quan hệ đất đai phức tạp và có nhiều biến động. Trong
nhiều trường hợp, việc tranh chấp đất đai lại bắt nguồn từ những tài liệu lịch sử
của chế độ cũ để lại. Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến hành theo một
quy trình chặt chẽ.
Quy hoạch sử dụng đất chưa đi vào nề nếp, nên nhiều trường hợp sử dụng

đất không hợp lý khó bị phát hiện. Khi phát hiện thì không được xử lý kịp thời.
Nhiều địa phương có những nhận thức lệch lạc về chính sách đất đai, quản lý đất
đai còn nặng nề về biện pháp mệnh lệnh hành chính mà không chú ý đến biện
pháp quản lý về mặt kinh tế.
Một số nơi ban hành văn bản pháp lý đất đai không rõ ràng, hoặc chủ
trương sai lầm của một số cán bộ đã làm cho một bộ phận dân hiểu lầm là nhà
nước có chủ trương “trả lại đất cũ”, trả lại đất ông cha, dẫn đến việc khiếu kiện
đòi lại đất ngày càng nhiều.
1.2.2.2. Về công tác cán bộ công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất
đai
Một bộ phận cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã
thực hiện không tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu, lạm dụng chức
quyền, vì lợi ích riêng tư, bị kẻ xấu lợi dụng để “đục nước béo cò”, thực hiện
những âm mưu đen tối, gây mất ổn định xã hội.
Lợi dụng chủ trương điều chỉnh ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo cơ chế
mới, một số cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở trong các chế độ, chính sách đất
đai của nhà nước và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép, gây

7


bất bình trong nhân dân. Đặc biệt, ở những nơi nội bộ mất đoàn kết thì lại lấy
vấn đề đất đai làm phương tiện để đấu tranh với nhau, một số phần tử xấu lợi
dụng cơ hội này để bao chiếm Đất đai hoặc kích động gây chia rẽ nội bộ và gây
mất ổn định về tình hình chính trị - xã hội, làm mất uy tín của tổ chức đảng và
chính quyền.
1.2.2.3. Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi,
nhiều lúc còn nhiều bất cập, mất cảnh giác. Chẳng những hồ sơ đất đai không
đầy đủ, mà việc đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu ở nông thôn cũng chưa chặt chẽ, kẻ

xấu có điều kiện để hoạt động dễ dàng. Khi phát hiện những kẻ cầm đầu, tổ chức
gây rối, kích động vi phạm Pháp luật thì lúng túng trong xử lý, nương nhẹ trong
thi hành Pháp luật, không tổ chức được lực lượng quần chúng cốt cán đấu tranh
với mọi biểu hiện tiêu cực, mà trái lại, để quần chúng bị bọn xấu lôi kéo. Tổ
chức đảng và chính quyền trở thành người bị động, phải chạy theo giải quyết
những vụ việc đã xảy ra hoặc xử lý những hậu quả nặng nề.
1.2.2.4. Về đƣờng lối chính sách Pháp luật về đất đai
Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa
đồng bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn bị động. Thực tế áp dụng các chính
sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả năng sản xuất nông
nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại không có khả năng hoặc
nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém hiệu quả. Tình
trạng người nông dân phải ra các đô thị bán sức lao động, gây mất ổn định cơ
cấu lao động sản xuất cũng có nguyên nhân từ việc thiếu đất để sản xuất.
Thực tiễn đã chứng mimh những sai lầm trong phong trào hợp tác hóa
nông nghiệp như nóng vội, gò ép, đưa quy mô hợp tác xã nhỏ lên quy mô hợp
tác xã lớn không phù hợp với trình độ năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, đặc

8


biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã dẫn đến hậu quả là đất đai sử dụng bừa bãi, lãng
phí và kém hiệu quả.
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp được đổi mới,
người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đòi hỏi phải có một
diện tích đất nhất định để sản xuất. Do đó đã xuất hiện tư tưởng đòi lại đất để sản
xuất. Chính sách đất đai chưa phù hợp, chậm đổi mới đã tạo cơ sở cho việc lấn
chiếm đất đai diễn ra khá phổ biến, xong chưa được giải quyết và xử lý kịp thời.
Bên cạnh đó, việc nhà nước chia, tách, nhập hoặc thành lập mới những
đơn vị hành chính trong những năm gần đây dẫn đến việc phân địa giới hành

chính không rõ ràng, cụ thể làm cho tình hình tranh chấp đất đai ngày càng phức
tạp và gay gắt hơn.
1.2.2.5. Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến Pháp luật
Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến Pháp Luật Đất đai chưa được
coi trọng, làm cho nhiều văn bản Pháp Luật Đất đai của nhà nước chưa được phổ
biến sâu rộng trong nhân dân.
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương khác nhau
còn có những nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải
căn cứ vào thực tế sử dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để
xây dựng được những giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ
tranh chấp. Song trên thực tế khía cạnh này chưa được các cơ quan nhà nước chú
trọng, xem xét.
1.3. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai và nguyên tắc giải quyết tranh
chấp đất đai
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết các tranh chấp đất đai với ý nghĩa là một nội dung của chế độ
quản lý Nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia

9


đình, cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở Pháp luật nhằm hồi phục
lại các quyền sử dụng đất bị xâm hại và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các
hành vi vi phạm Pháp luật.
1.3.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Đảm bảo đất đai thuộc sở hữu toàn dán, Nhà nước thưc hiện vai trò là
người đại diện cho chủ sở hữu.
Đây là nguyên tăc rất cơ bản trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai,
đòi hỏi khi xem xét giải quyết moi vấn đề phát sinh trong quan hệ Pháp Luật Đất

đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi
cho người đại diện của chủ sở hữu, bảo vệ thành quả cách mạng về ruộng đất.
Cần quán triệt đường lối Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho
người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước
Việt Nam dân chủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bảo đảm lợi ích của chính phủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hoà miền Nam Việt Nam và người sử dụng đất nhất là lợi ích kinh tế,
khuyến khích việc tự hoà giải, thương lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân.
Thực hiện nguyên tắc này, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai đã thể
hiện được tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã
hội về đất đai. Xét cả mặt lý luận và thực tiễn, lợi ích bao giờ cũng là vấn đề cốt
lõi trong hầu hết các quan hệ xã hội và đất đai là một trong những lợi ích quan
trọng nhất của mọi tầng lớp. Nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm
bảo thì việc sử dụng đất không thể đạt được hiệu quả mong muốn, đây là giải
pháp thuyết phục khi giải quyết các tranh chấp đất đai. Để bảo vệ một cách tốt
nhất những lợi ích thiết thực đó, trước hết các bên tranh chấp phải gặp nhau để
bàn bạc, thảo luận và thương lượng. Đó cũng là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền
tự định đoạt cho các đương sự. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai chỉ thụ lý đơn khi các bên đã tiến hành qua thủ tục này mà
không đạt được sự nhất trí cần thiết.
10


Việc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình
kinh tế xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản
xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
1.4. Khái quát về Pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
1.4.1. Thời kỳ trƣớc khi ban hành Hiến pháp 1980

Trong thời kỳ này, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất
đai chưa rõ ràng, cụ thể, ngoại trừ các quy định về giải quyết tranh chấp đất bãi
sa bồi (đất canh tác).
Thông tư 45/NV-TC ngày 02/7/1958 của Bộ Nội vụ về việc phân phối và
quản lý đất bãi sa bồi quy định thẩm quyền giải quyết “tranh chấp hoa màu do
chính quyền và nông hộ giải quyết, nếu đặc biệt khó khăn thì đưa ra tòa xét xử”,
hành chính xã đang quản lý giải quyết, nếu ranh giới thuộc nhiều xã thì địa phận
xã nào có nhiều số dân hơn trên đất bãi sa bồi quản lý và chịu trách nhiệm đảm
bào cho các xã ít dân sản xuất trên bãi sa bồi.
Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của ủy
ban hành chính các cấp chưa được quy định rỏ ràng. Thực tế, việc giải quyết các
tranh chấp đất đai chủ yếu do ủy ban hành chính cấp xã thực hiện với vai trò làm
tổ chức nông hộ địa phương (tham gia nhiều vào công việc chính quyền), cơ
quan tư pháp chỉ xuất hiện khi giải quyết tranh chấp hoa màu trên đất bãi sa bồi.
1.4.2. Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980
1.4.2.1. Giai đoạn từ khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực đến trƣớc khi uật Đất
đai 1987 ra đời
Hiến pháp 1980 ra đời đã khép lại một chặng đường dài phấn đấu không
ngừng của nhà nước ta nhằm tăng mục tiêu xã hội hóa toàn bộ vốn đất đai trong
phạm vi cả nước. Điều 19 và điều 20 hiến pháp 1980 quy định: “đất đai, rừng

11


núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và
thềm lục địa… là của nhà nước, đều thuộc sở hữu của toàn dân”, “những tập thể
và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng”.
Tuy nhiên, việc coi đất đai thuộc sở hữu chung, đất đai không có giá, dẫn
tới việc chia cấp đất tràn lan, sử dụng kém hiệu quả. Cấp xã, cấp phường cũng
tham gia vào việc giao đất cho nhân dân, việc lấn, chiếm đất để xây dựng nhà ở

diễn ra phổ biến song không được giải quyết kịp thời là nguyên nhân chủ yếu
của các tranh chấp đất đai trong thời kỳ này. Cơ chế quản lý, chính sách của
đảng và nhà nước trong giai đoạn này chưa thực sự khuyến khích nông dân và
sản xuất nông nghiệp, dẫn đến tình trạng nhiều tập đoàn sản xuất, HTX làm ăn
kém hiệu quả, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, một số các HTX,
tập đoàn sản xuất nông nghiệp đi đến tan rã, đất đai lại có sự chia cấp lại. Nhiều
gia đình trước kia đã hiến ruộng đất của cha ông vào các HTX, nay đòi lại. Khi
giải quyết các tranh chấp một số địa phương còn thiên về việc sử dụng biện pháp
mệnh lệnh hành chính, khiến cho các tranh chấp Đất đai không được xử lý thỏa
đáng và dứt điểm, nên việc tranh chấp Đất đai vẫn kéo dài.
Thời kỳ này đã xuất hiện thêm các tranh chấp về đất hương hỏa, đất thổ
cư, tranh chấp đất giữa đồng bào địa phương với những người từ nơi khác đến để
xây dựng vùng kinh tế mới. Tính chất của tranh chấp đất đai thời kỳ này trầm
trọng hơn và gay gắt hơn. Tuy vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai còn quan
liêu, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính. Do đó, tranh chấp đất đai vẫn còn
tồn tại kéo dài, việc sử dụng kém hiệu quả, mâu thuẫn vẫn còn trầm trọng kéo
theo sự trì trệ của nền sản xuất hàng hóa.
Các văn bản Pháp luật quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
trong giai đoạn này là:
- Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng chính phủ về việc
thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả

12


nước lần đầu tiên quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo ngành,
theo cấp (phần VII).
- Thông tư 55-ĐKTK ngày 05/1/1981 của tổng cục quản lý ruộng đất
hướng dẫn việc giải quyết các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp, không
hợp lý.

- Thông tư 293-TT/RĐ ngày 22/10/1985 của Tổng cục Quản lý ruộng
hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp đất bãi sa bồi.
1.4.2.2. Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 đƣợc ban hành đến trƣớc khi
Luật Đất đai 1993 ra đời
Hiến pháp 1980 cũng như Luật Đất đai 1987 đều khẳng định đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. Song các văn bản Pháp luật
hướng dẫn thi hành đã không xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất
đã làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất.
Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế
quản lý kinh tế mới trong nông nghiệp theo nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 của bộ
chính trị. Mục đích là gắn lợi ích của người lao động với từng mảnh đất được
giao, đã thúc đẩy sản xuất phát triển, người nông dân đã nhận thức rõ những
quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật, thấy được lợi ích
thiết thực từ việc sử dụng đất mang lại. Vì vậy, tình trạng đòi lại ruộng đất trong
nội bộ nhân dân tăng nhanh về số lượng. Ở một số địa phương nhất là ở miền tây
và miền đông nam bộ, nhiều nông dân đòi lại ruộng đất cũ, có nơi đã xảy ra
những vụ tranh chấp đất đai gay gắt. Những ruộng đất nông dân đòi lại phổ biến
là: ruộng đất đã qua mấy lần điều chỉnh, ruộng đất bị cắt bớt và bị “xáo canh”
khi thực hiện khoán sản phẩm, ruộng đất do lâm, nông trường và đơn vị quân đội
quản lý nhưng không sử dụng hết, trong đó có cả ruộng đất của nông dân trước
đây đã khai phá, ruộng đất do một số cán bộ đảng viên chiếm vì tư lợi. ở khu
vựng trung du, miền nui, có sự tranh chấp ruộng đất giữa đông bào dân tộc tại

13


chỗ với đồng bào các địa phương khác đến sản xuất và khai hoang xây dựng
vùng kinh tế mới. Ngoài ra, còn tồn tại các tranh chấp giữa đất trồng lúa với đất
nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cây tiêu, cà phê, cây điều, đất
hương hỏa, đất thổ cư…

Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên
quan đến nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho thuê trước ngày 1/7/1991 (là
ngày pháp lệnh về nhà ở có hiệu lực). Ngoài ra, còn xuất hiện các tranh chấp về
nhà ở khi vợ chồng ly hôn.
Để tạo sơ sở pháp lý giải quyết tình hình tranh chấp đất đai kể trên. Nhà
nước ta ban hành một số văn bản Pháp luật như:
- Luật Đất đai 1987 (điều 21)
- Chỉ thị số 154-HĐBT ngày 11/10/1988 của hội đồng bộ trưởng (nay là
chính phủ) về triển khai thực hiện chỉ thị số 47-CT/TW của Bộ Chính trị về giải
quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất.
- Quyết định số 13-HĐBT ngày 01/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất.
- Nghị định số 13-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng bộ trưởng (nay là
chính phủ) về việc thi hành Luật Đất đai (điều 15,16).
- Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
(nay là thủ tướng chính phủ) về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến
địa giới hành chính.
Các văn bản Pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh
chấp đất đai trong giai đoạn này, góp phần vào việc giải quyết mâu thuẫn trong
nội bộ nhân dân, ổn định sản xuất.
1.4.2.3. Giai đoạn từ khi Luât Đất đai 1993 ban hành đến nay
Sau khi hiến pháp 1992 ra đời, với các quy định mang tính nền tảng là đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, nhà nước giao đất

14


cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và người sử
dụng đất, được để lại thừa kế và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của
Pháp luật. Với định hướng cơ bản đó, Luật Đất đai 1993 ra đời đã mở rộng hơn

các quyền của người sử dụng đất. Người sử dụng đất có quyền chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. bộ Luật dân sự
năm 1995 thừa nhận hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, cụ thể hóa các
quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia vào quan hệ giao dịch dân sự về đất
đai. Hơn nữa, trong cơ chế kinh tế thi trường, đất đai trở thành tài sản đặc biệt,
có giá trị, người sử dụng đất có thể chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của bản thân. Khi cần, họ có thể
đem quyền sử dụng đất đai đi thế chấp để vay vốn phát triển sản xuất. Những
quy định mới của Luật Đất đai 1993 đã đảm bảo quyền lợi và phát huy khả năng
của người sử dụng đất, khiến đất đai ngày càng trở nên có giá trị hơn.
Luật Đất đai 1993 đánh giấu một bước phát triển của quá trình hoàn thiện
cơ chế quản lý đất đai của nhà nước ta, khắc phục tình trạng bao cấp về đất đai,
giao đất sử dụng không mất tiền, đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích, có
hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi mức độ đô thị hóa diễn ra
nhanh chóng, nhu cầu về nhà ở của người dân ngày càng trở nên bức xúc, việc sử
dụng đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khiến cho giá đất nhiều khi
tăng đột biến chỉ trong thời gian ngắn. Đây là nguyên nhân góp phần làm tăng
các tranh chấp đất đai cùng với việc gia tăng dân số, chính sách xã hội về nhà ở
tại các đô thị lớn đang trở thành vấn đề bức xúc cần được giải quyết.
Việc tranh chấp đòi lại nhà đất do nhà nước quản lý, cải tạo thuộc diện cho
thuê, nhà vắng chủ, nhà cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh qua các thời
kỳ trước đây cũng diễn ra gay gắt tại một số đô thị như Hà Nội, Hải Phòng. Đây

15


là những vấn đề lớn, đã tồn tại từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết
dứt điểm được.
Trước tình hình đó, nhằm hoàn chỉnh thêm một bước các quy định Pháp

luật về giải quyết tranh chấp đất đai, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Luật
Đất đai năm 1993 đã được sửa đổi bổ sung một số điều vào năm 1998 và 2001.
Với hơn 171 văn bản Pháp Luật Đất đai được các cấp, các ngành ở trung ương
và hằng trăm các văn bản do các cơ quan ở địa phương ban hành đã góp phần
đáng kể vào việc giải quyết tranh chấp đất đai nhằm phúc đáp các yêu cầu quản
lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay. Trong đó có thể đề cập đến một
số các văn bản Pháp luật tiêu biểu sau đây:
+ Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của tòa án
nhân dân tối cao (TANDTC), viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và
tổng cục địa chính ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong
việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 điều
38 Luật Đất đai.
+ Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND-VKSNDTC-TCĐC ngày
03/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC và tổng cục địa chính “hướng dẫn về thẩm
quyền của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền
sử dụng đất”.
Ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất
đai – Luật Đất đai năm 2003, (trong đó quy định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp đất đai từ điều 135 đến điều 137), có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2004.
Mới đây: Luật Đất đai mới nhất số 45/2013/QH13 được ban hành quy
định về việc quản lý và sử dụng đất, sửa đổi, bổ sung một số điều mới so với
Luật Đất đai 2003 quy định về việc quản lý và sử dụng đất, có hiệu lực thi hành
ngày 1/7/2014 (trong đó Tại điều 202, 203, 204, 205 Luật đât đai 2013 quy định
về hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo & tranh chấp đất). Theo Luật Đất đai

16


2013, việc giải quyết tranh chấp đất đai có sự thay đổi về thẩm quyền giải quyết,
người dân được lựa chọn cơ quan giải quyết là Tòa án và UBND. Thời hạn giải

quyết tranh chấp đất đai được tăng lên tối đa 45 ngày đối với những trường hợp
phức tạp.

17


Chƣơng 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu và đánh giá công các giải quyết tranh
chấp đất đai tại địa phương từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại địa bàn xã Hiệp An huyện Đức
Trọng tỉnh Lâm Đồng.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được tình hình giải quyết tranh chấp đất đai thời gian từ năm
2011-2015 trên địa bàn xã hiệp An huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng.
Phân tích đánh giá những thuận lợi và khó khăn, những tồn tại vướng mắc
trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai.
Đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh
chấp đất đai đúng Pháp luật và góp phần hoàn thiện hơn hoạt động giải quyết
tranh chấp đất đai ở cơ sở xã phường có hiệu quả .
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu
- Các quy định về công tác giải quyết tranh chấp đất đai.
- Tình hình tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh chấp đất đai
trên địa bàn xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2015. Áp dụng cho các đối tượng là hộ gia đình, cá nhân, cho các
loại đất nông nghiệp và đất ở nông thôn.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Phạm vi thời gian: Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa
bàn xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn từ năm 2011
đến năm 2015.

18


2.4. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến tình hình công tác hòa
giải tranh chấp đất đai tại xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Nghiên cứu tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã Hiệp An,
huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Hiệp An từ năm
2011 đến năm 2015.
- Một số ví dụ điển hình về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất
đai tại xã Hiệp An.
- Những thuận lợi và khó khăn trong công tác hòa giải tranh chấp đất đai
trên địa bàn xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện quy định
trong công tác hòa giải, giải quyết tranh chấp đất đai tại Hiệp An.
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.5.1. Phƣơng pháp điều tra thu thập số liệu
Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, số liệu tăng trưởng,
phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, nhu cầu sử dụng đất, những thông tin có liên
quan trên địa phương thực tập, nhằm mục đích đánh giá tình hình một cách tổng
quan trên địa bàn thực tập và trong công tác giải quyết tranh chấp liên quan đến
đất đai của UBND giai đoạn 2011-2015.
2.5.2. Phƣơng pháp tổng hợp phân tích, so sánh
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến công tác quản lý
đất đai.

- Nguyên nhân của tranh chấp đất đai.
- Từ số liệu đã thu thập được tại địa phương, thực hiện tổng hợp số liệu
theo bảng

19


Bảng kết quả thụ lý và hòa giải tranh chấp đất đai
Hòa giải thành
Số
TT

Tên thôn

Trả
bằng

Tổng
số đơn

lời



văn bản

thôn

Thẩm


Thẩm

quyền

quyền

UBND

UBND

Huyện

Tỉnh

Thẩm
quyền Tòa
án

Bảng tổng kết đơn thư, kết quả thụ lý và hòa giải tranh chấp đất đai từ năm
2011-2015
Hòa giải thành
Năm

STT

Trả
bằng

Tổng
số đơn


lời



văn bản

thôn

Thẩm

Thẩm

quyền

quyền

UBND

UBND

Huyện

Tỉnh

Thẩm
quyền
Tòa án

- So sánh kết quả giải quyết tranh chấp đất đai theo thời gian và theo thẩm

quyền.
2.5.3. Phƣơng pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo, học tập kinh nghiệm của những người có hiểu biết về vấn đề
đang nghiên cứu như: Cán bộ địa chính tại UBND xã, cán bộ trong tổ hòa giải.
Những vấn đề cần lấy ý kiến:
- Tình hình quản lý và SDĐ chung của địa phương và những thuận lợi,
khó khăn khi thực hiện công tác quản lý Đất đai của địa phương.
- Quá trình thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai của địa phương

20


Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hiệp An được thành lập vào ngày 19/8/1999 và được chia tách từ xã
Hiệp Thạnh theo Nghị định số 39/1999/NĐ- CP ngày 18/06/1999 của Chính phủ
là một xã ở phía Đông Bắc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, nằm dọc Quốc lộ
20, cách thị trấn Liên Nghĩa 10km về phía Đông Bắc và cách thành phố Đà Lạt
20km về phía nam theo hướng Quốc Lộ 20.
- Với tọa độ địa lý:
+ Từ 11048’17’’ đến 11053’10’’ vĩ độ Bắc
+ Từ 108024’38’’ đến 108031’14’’ kinh độ Đông
- Về ranh giới hành chính:
+ Phía Đông Bắc giáp với thành phố Đà Lạt
+ Phía Đông giáp với huyện Đơn Dương
+ Phía Tây Nam giáp với xã Hiệp Thạnh
+ Phía Tây giáp với huyện Lâm Hà
3.1.1.2. Khí hậu

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa:
+ Mùa mưa: Từ tháng 3 đến tháng 10
+ Mùa khô: Từ thàng 11 đến tháng 2
Sự phân bố theo mùa của lượng mưa gây nhiều khó khăn cho việc sử dụng
đất nông nghiệp do ngập lũ trong mùa mưa ở vùng thấp và thiếu nước tưới trong
mùa khô.
- Nhiệt độ : 20-250
- Độ ẩm trung bình khá cao > 80%

21


Nhiệt dộ trung bình thấp, ôn hòa, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm giao
động lớn nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp do đó thích hợp cho nhiều loại cây
trồng vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.
3.1.1.3. Địa hình, địa chất
a. Địa hình
Có 3 dạng địa hình chính là: Núi dốc, đồi thấp và thung lũng.
Dạng địa hình núi dốc: Diện tích 4.386ha, chiếm 73,4% diện tích toàn xã
độ dốc phổ biến trên 200m, cao trung bình từ 1.200-1.300m, điạ hình dốc cao
hiểm trở, đi lại rất khó khăn, không phù hợp cho phát triển nông nghiệp.
Dạng địa hình đồi thấp: Diện tích 758,65ha, chiếm 12,7% diện tích tự
nhiên, là các đồi nhỏ thấp nằm tiếp giáp giữa thung lũng suối Đa Tam và các dãy
núi cao.
Dạng địa hình thung lũng: Diện tích là 830,64ha, chiếm 13,9% diện tích tự
nhiên, là thung lũng suối Đa Tam, bắt đầu từ thác Prenn thấp dần theo hướng
Nam. Đây chính là nơi sản xuất nông nghiệp của xã.
b. Địa chất
Thổ nhưỡng: Chủ yếu là đất nâu thẩm trên đá bazan, có độ phì nhiêu cao,
tầng dày đất trung bình là 1m, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Đất có cường

độ chịu nén tốt, thuận lợi cho xây dựng.
3.1.1.4. Thủy Văn
Trên địa bàn xã có suối Đa Tam là phụ lưu của sông Đa Nhim, hệ thống
kênh mương cấp 1 dẫn nước từ hồ Tuyền Lâm, một số hồ chứa nước nằm rải rác
trên địa bàn xã. Cơ bản đảm bảo phục vụ cho sử dụng và tưới tiêu.
3.1.1.5. Tài nguyên
a.Tài nguyên rừng

22


Xã Hiệp An có 3.335,3ha đất lâm nghiệp, chiếm 55.20% tổng diện tích đất
tự nhiên. Trong đó đất rừng sản xuất là 2.116,7 ha, đất rừng phòng hộ là 1.218,6
ha.

23


×