Tải bản đầy đủ (.docx) (101 trang)

luận văn thạc sĩ hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nƣớc ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (485.96 KB, 101 trang )

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Thu Hương


2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu số 2.1: Sự tăng trưởng một số chỉ tiêu của BHTN ở Việt Nam
Biểu số 2.4 : Sự biến động về số lao động được giới thiệu việc làm

DANH MỤC HÌNH VẼ
Mô hình 2: Mô hình tổ chức thực hiện BHTN hiện nay
Mô hình 1: Mô hình BHXH Việt Nam hiện nay

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASXH
BHXH
BHYT
BHTN
BLLĐ

An sinh xã hội


Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Bộ luật lao động


3


LĐTBXH
NLĐ
SDLĐ
UBND

Cao đẳng
Lao động thương binh xã hội
Người lao động
Sử dụng lao động
Ủy ban nhân dân


4

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách
quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị
trường. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính
trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất
nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong

những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Thất nghiệp gia
tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm
gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội.
Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế
quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liền với sự
giảm sút thu nhập do không sản xuất. Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăng
chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất
nghiệp và các chi phí có liên quan như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi
dưỡng, dịch vụ việc làm. Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định
đời sống người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp là mục tiêu
chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế và khu vực. Nước ta, tuy mới
bước vào nền kinh tế thị trường nhưng thất nghiệp đã, đang và sẽ là vấn đề
cấp thiết mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phải tập trung giải quyết.
Nhận thức được điều này, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,
ngay từ rất sớm, Đảng ta đã khẳng định "Từng bước hình thành quỹ bảo
trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu
hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên…" (Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và
bảo trợ thất nghiệp đã được khẳng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng


5

và được cụ thể hoá bằng nhiều chính sách đối với vấn đề này. Đặc biệt, Bộ
luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là những văn bản
pháp lý quan trọng của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ở Việt
Nam.
Ngày 1.1.2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có
hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đó là
bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ). Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực

sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm
Việt nam nói riêng và nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta
nói chung.
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ra đời gắn với giai đoạn đầy khó
khăn, tồi tệ của nền kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế thế giới giai đoạn
mà chúng ta phải chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao
động rơi vào cảnh thất nghiệp. Tuy nhiên, sự ra đời của BHTN đã mang lại
những giải pháp bảo vệ người lao động tránh được những hụt hẫng khi bị
mất việc làm, bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp
và tạo điều kiện thuận lợi cho họ có khả năng quay lại thị trường lao động.
Có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa là
một chính sách đảm bảo an sinh xã hội.
Qua gần sáu năm thực hiện, chính sách BHTN đã mang lại những
thành công nhất định, cũng như tác dụng tích cực về mặt kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, chính sách đó đang còn những bất cập và gặp khó khăn trong
quá trình thực hiện, điều đó cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện chính
sách BHTN ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Chính vì vậy đề
tài “ Hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay”
được nghiên cứu với mong muốn góp phần giải quyết yêu cầu thực tế về
hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.


6

2. Tổng quan nghiên cứu
Trong thời kỳ bao cấp vấn đề thất nghiệp được coi như không tồn tại
và quan niệm thất nghiệp không gắn với chủ nghĩa xã hội mà chỉ chủ nghĩa
tư bản mới có thất nghiệp. Chỉ từ khi chúng ta chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đặc biệt sau cuộc

khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vức năm 1998 thì vấn đề nghiên cứu thất
nghiệp và BHTN mới thực sự được đặt ra. BHTN là một vấn đề mới cho nên
các công trình nghiên cứu chưa nhiều mà chủ yếu là những bài viết khoa
học về thất nghiệp, xây dựng chế độ BHTN, hoặc liên quan đến vấn đề này
dưới góc độ lý luận và kinh nghiệm các nước trên thế giới.
- TS. Nguyễn Huy Ban (2004) và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt
Nam đã thực hiện một chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung
cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại – vấn đề lựa chọn hình thức trợ
cấp thất nghiệp ở Việt Nam” và "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam",
của PGS.TS. Nguyễn Văn Định (2008), Trường Đại học Kinh tế quốc
dân,Trong chuyên đề này, một số nội dung của bảo hiểm thất nghiệp đã
bước đầu đề cập, một số quan điểm khi lựa chọn hình thức trợ cấp thất
nghiệp ở nước ta được đưa ra. Song, việc phân biệt giữa bảo hiểm thất
nghiệp và trợ cấp thất nghiệp chưa được nghiên cứu, vấn đề tổ chức bảo
hiểm thất nghiệp ở nước ta chưa được làm rõ.
- TS. Đặng Anh Duệ (2003), tại buổi hội thảo khoa học“ Hoàn thiện
chính sách tài chính đảm bảo an ninh xã hội” do Bộ tài chính tổ chức, đã có
bài báo tham luận: “ Để xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp
ở Việt Nam”. Bài báo này mới chủ yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải
có chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ


7

này.
- TS Nguyễn Văn Định (2000) và các cộng sự của bộ môn Kinh tế Bảo
hiểm - Trường đại học Kinh tế Quốc thực hiện một đề tài khoa học cấp bộ,
mã số B2000 - 38 - 62: “ Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong
điều kiện kinh tế thị trường”. Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và

khi đó luật Bảo hiểm xã hội chưa ra đời cho nên nội dung của đề tài này
mới chỉ dừng lại ở một số nội dung chủ yếu mang tính định tính như: Sự
cần thiết khách quan phải triển khai Bảo hiểm thất nghiệp, phân tích thực
trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểm chung khi tổ chức triển khai
Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.
- Nguyễn Thị Hải Đường (2008), “ Điều kiện và khả năng đáp ứng nhu
cầu bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam”, Hội thảo khoa
học: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân tổ chức. Tác giả đã đề cập đến khả năng đáp ứng nhu cầu tham
gia BHTN của người sử dụng lao động và người lao động, những nhân tố
tác động đến việc tham gia BHTN.
- PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ (2001),trong cuốn sách “ Bảo hiểm xã hội những điều cần biết” do Nhà xuất bản thống kê phát hành năm 2001, tác
giả đã có một bài viết: “ Luật bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất
nghiệp” và “Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp”
(thực hiện năm 2003), của Vụ Chính sách Lao động và Việc làm, Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội. Nội dung bài viết chỉ tập trung vào một khía
cạnh nhỏ là : Khi xây dựng luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên hay
không nên đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp.
- Phạm Thị Thuý Nga (2010), Chính sách, pháp luật về BHTN ở Việt
Nam hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo “Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở
Việt Nam hiện nay” do Viện Nhà nước và Pháp luật phối hợp với Viện KAS -


8

Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức tại Hà Nội [trang 15]. Tác giả đã đề cập
đến điều kiện hưởng BHTN, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến điều kiện
hưởng BHTN, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện việc xác định điều
kiện hưởng BHTN.
- Nguyễn Văn Phần (1993), trong cuốn “ Một số vấn đề về chính sách

bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay” do Nhà xuất bản lao động phát hành,
tác giả đã có một bài viết với tiêu đề: “ Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp
và trợ cấp hưu trí”. Nội dung vài viết mới chỉ đề cập đến khái niệm về trợ
cấp thất nghiệp và sự cần thiết phải có trợ cấp thất nghiệp cho người lao
động trong cơ chế thị trường.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến chính
sách BHTN trên cả nước. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập và
tiếp cận lĩnh vực dưới nhiều góc độ phát triển khác nhau ở tầm vĩ mô, được
xem xét điều kiện thực tế ở các địa phương khác nhau và ở những thời
điểm khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu
nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về việc thực hiện triển
khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam. Các công trình nghiên
cứu, bài viết nhìn chung mới chỉ đề cập tới từng khía cạnh riêng lẻ, bức xúc
trong lĩnh vực việc làm, thất nghiệp và BHTN trong điều kiện nước ta chưa
thực hiện chính sách BHTN.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về chính sách bảo hiểm thất
nghiệp
- Đánh giá thực trạng quy trình bộ máy thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp, thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước
ta.


9

- Làm rõ quan điểm về hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Từ
đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách bảo
hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ :

- Để thực hiện mục đích trên đề tài có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về chính sách
BHTN.
- Phân tích thực trạng chính sách BHTN ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt
Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách BHTN
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài : Làm rõ những nội dung của BHTN
khi triển khai ở nước ra bao gồm: Hỗ trợ về tài chính khi mất việc làm, hỗ
trợ đào tạo nghề và cung cấp thông tin tìm kiếm việc làm mới. Chính sách
này áp dụng với người lao động làm công ăn lương, có tham gia vào quan
hệ lao động, có tham gia bảo hiểm xã hội, có giao kết hợp đồng lao động và
người thất nghiệp ở đây là công dân Việt Nam.
- Về không gian : Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
- Về thời gian : Nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp từ năm 2011 – 2014, giải pháp đề xuất đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp biện chứng và duy vật lịch sử: là phương pháp luận
chung cho mọi khoa học, được vận dụng trong tất cả các quá trình, các giai
đoạn nghiên cứu. Nội dung của phương pháp này là những quy luật, những


10

phạm trù của phép duy vật và những nguyên tắc của phép biện chứng logic
như: tính khách quan, tính toàn diện, tính lịch sử cụ thể…
5.2. Phương pháp cụ thể

Đề tài sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, dựa trên các
nguồn tài liệu đã có hoặc tồn tại dưới dạng số liệu thô rồi sau đó tiến hành
xử lý. Các tài liệu chủ yếu được lấy theo nguồn Bộ lao động Thương binh –
Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Cục việc làm, Tổng cục Thống kê…


11

5.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Số liệu trong đề tài chủ yếu được xử lý dưới dạng bảng biểu sau đó
được phận tích đánh giá theo phương pháp tổng hợp, so sánh…
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu thứ cấp: tiến
hành tổng hợp, thống kê về tình hình tham gia bảo hiểm thất nghiệp của
các công ty, các doanh nghiệp các ngành nghề. Từ đó có những đánh giá về
hiệu quả của quá trình tham gia, thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, sơ đồ hóa, mô
hình hóa, thống kê, so sánh, phân tích diễn giải để nghiên cứu trình bày các
nội dung cơ bản của luận văn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 2: Thực trạng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện
nay.
Chương 3 : Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách
bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.


12


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCHBẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo
hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm thất nghiệp và ảnh hưởng của thất nghiệp đến
người lao động
1.1.1.1. Khái niệm thất nghiệp
Lao động được hình thành và phát triển cùng với xã hội loài người.
Lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất của con
người và đồng thời cũng là nghĩa vụ cao cả của mọi công dân. Như vậy,
mỗi người chúng ta muốn sống, tồn tại thì đều phải lao động hay nói cách
khác là phải có việc làm. Tuy nhiên, ở mọi xã hội không phải lúc nào nhu
cầu làm việc của mọi cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ. Trong xã hội luôn
có một bộ phần người lao động không có việc làm, bị mất việc làm, thiếu
việc làm. Tuy nhiên, tất cả người đó có được coi là thất nghiệp hay không?
Có rất nhiều quan điểm về thất nghiệp:
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO ), thất nghiệp là tình trạng tồn
tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn có việc làm nhưng không thể
tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động. Còn
người thất nghiệp là người trong đổ tuổi lao động, có khả năng lao động
nhưng không có việc làm, muốn làm việc và hiện rất sẵn sàng để làm việc,
đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Tại Việt Nam, Bộ Luật lao động ( sửa đổi năm 2002 ), ngoài việc quy
định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy định về
thất nghiệp và người thất nghiệp.
Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì
để hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như



13

không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc
mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn
mức chuẩn quy định cho người lao động có việc làm. Tùy theo tình hình
kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định
mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm.
Người lao động thiếu việc làm có thời gian làm việc dưới mức quy
định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời
gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước
quy định cụ thể cho từng thời kỳ. Hiện tượng thất nghiệp tạm thời thường
xảy ra đối với lao động làm việc trong các ngànhnông nghiệp, ngư nghiệp.
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng
lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được
việc làm ở mức tiền lương tối thiểu.
Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 đối với nam, đến
55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì
những lý do khác nhau không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc
làm.
Theo định nghĩa này, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao
gồm :
-

Người lao động đang làm việc vị mất việc làm vì các lý do sau: Doanh
nghiệp phá sản; Doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ
mới; Doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; Người lao động bị
chấm dứt hợp đông lao động trước thời hạn, bị sa thải, hợp động lao động
hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.


-

Người lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp


14

hoặc thôi học nhưng chưa tìm được việc làm.
-

Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, người lao
động đi xuất khẩu lao động về nước chưa có việc làm.

-

Những đối tượng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có
nhu cầu về việc làm.

-

Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất.
Những người không bị coi là thất nghiệp bao gồm:

-

Những người có việc làm nhưng hiện tại không làm việc vì một lý do nào
đó như nghỉ phép, nghỉ ốm, tai nạn...

-


Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang
đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, làm nội trợ hoặc
không có nhu cầu về việc làm.
Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là
người thất nghiệp. Chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao
động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp. Người
thất nghiệp được quy định trong Bộ Luật lao động của Việt Nam bao gồm
cả những người lao động đã từng đi làm và cả những người chưa từng đi
làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm.
1.1.1.2. Ảnh hưởng của thất nghiệp đến người lao động
Thất nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân người lao
động và gia đình họ mà còn tác động mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.

-

Đối với bản thân người lao động và gia đình : Thất nghiệp làm giảm
hoặc cắt đứt nguồn thu nhập của người lao động, đồng thời cắt đứt
phương tiện sinh sống của họ và gia đình họ. Do đó, đời sống bản thân
người lao động vả gia đình họ sẽ khó khăn, nghèo túng họ không có khả
năng thanh toán cho các chi phí thường ngày như: tiền nhà, tiền điện, tiền


15

nước. Do thất nghiệp mà có khi bỗng chốc có người trở thành vô gia cư (bị
đuổi ra khỏi nhà đang thuê). Ngoài những ảnh hưởng về kinh tế thất
nghiệp còn gây ra những tổn hại về mặt tinh thần của người lao động như
đời sống, sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm

sóc y tế. Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống
tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì
phải vay nợ và nếu kéo dài sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất. Sự tác động vào
thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản thân họ nhận
được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn
việc làm.
Nạn thất nghiệp cũng không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu
quả về khả năng nghề nghiệp. Thất nghiệp làm cho người lao động mất đi
cơ hội làm việc đúng với trình độ chuyên môn, năng lực của mình. Khi thất
nghiệp kéo họ sẽ mất đi khả năng nâng cao trình độ chuyên môn và tay
nghề của mình. Mất đi cơ hội học tập, làm việc để nâng cao kỹ năng nghề
nghiệp của bản thân người lao động.
Thất nghiệp còn không tự động xóa bỏ những rào cản đối với những
người có việc làm trở lại, hòa nhập với đời sống xã hội chung. Điều này
diễn ra đối với những người lao động, đặc biệt đối với người sau khi thất
nghiệp, phải xác lập mối quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện
làm việc và điều kiện tài về tài chính kém hơn việc làm trước đó.
- Đối với nền kinh tế : Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã
hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình
đốn, chậm phát triển. Vì khi đó có một bộ phận người lao động trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì lý do khách quan không có
việc làm nên làm sức sản xuất trong nước và thu nhập quốc dân thấp hơn
so với khi mọi người đều có việc làm.


16

Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ tác động
qua lại chặt chẽ với nhau, đôi khi tạo thành vòng luẩn quẩn không thoát
được, Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể làm cho xã hội bất ổn. Đến lượt nó làm

cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hơn và có khả năng phục
hồi chậm.
-

Đối với chính trị, xã hội : khi bị thất nghiệp, người lao động luôn ở
trong tình trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng. Đặc biệt
nếu người lao động là trụ cột, nuôi sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng
đè nặng lên người lao động. Từng cá nhân là tế bào của gia đình, mỗi gia
đình là tế bào của xã hội, như vậy thất nghiệp tác động đến cá nhân người
lao động có nghĩa là đã tác động đến toàn xã hội. Bởi vì, thất nghiệp sẽ dẫn
đến nhiều hiện tượng tiêu cực của xã hội, đẩy người thất nghiệp đến chỗ
bất chấp kỷ cương, vi phạm pháp luật, hủy hoại đạo đức để kiếm kế sinh
nhai, kiếm tiền trang trải cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như trộm cắp,
cờ bạc, mại dâm, ma túy.
Thất nghiệp là sự phí phạm nguồn nhân lực, không thúc đẩy kinh tế
phát triển, đồng thời dễ dẫn đến những xáo trộn về xã hội, tình hình chính
trị trở nên bất ổn, rối loạn nếu không được can thiệp kịp thời. Thất nghiệp
gây ra các cuộc biểu tình, đình công, là cơ hội cho các thế lực thù địch tiến
hành các hoạt động chống phá nhà nước, chống phá Đảng cầm quyền. Hiện
tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc,
nghiện hút...
Thất nghiệp còn làm cho người lao động giảm lòng tin vào chế độ,
giảm lòng tin vào khả năng lãnh đạo của chính phủ cầm quyền... Từ đó, có
thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.


17

1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp và vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế.

1.1.2.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Khái niệm BHTN được tiếp cận dưới rất nhiều góc độ khác nhau nhưng
được khái quát một cách rõ ràng, đầy đủ nhất trong Luật việc làm về BHTN:
“BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi
bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc
làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp” [1].
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất
việc không do lỗi của cá nhân họ. Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm,
sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất
nghiệp. Những người này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất
định so với khoản thu nhập cũ nhận trong những thời kì cụ thể.
Bảo hiểm thất nghiệp không áp dụng cho những người thất nghiệp vì
tự ý bỏ việc hay những ngưòi vừa mới ra trường và chưa tìm được công ăn
vịêc làm,những người thuộc vào diện thất nghiệp tự nhiên.
Nhận thức được tầm ảnh hưởng của thất nghiệp trong nền kinh tế xã
hội, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ra đời và có tác dụng nhằm:
- Giúp ổn định thu nhập đời sống cho những người thất nghiệp không
tự nguyện, đáp ứng cho họ những chi tiêu cần thiết mà không gây ra tình
trạng nợ nần
- Giúp những người thất nghiệp sớm có cơ hội tìm được việc làm,
những người có kĩ năng sẽ tìm đựơc công việc pù hợp thay vì phải làm
những công việc khác với mức lương không tương xứng
- Giúp ổn định nền kinh tế, góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc độ
cá thể và kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tìm việc làm hiệu quả - tạo điều kiện kết
nối tốt hơn giữa cung và cầu trong thị trường lao động.


18

- Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp

1.1.2.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Một trong các giải pháp để bảo vệ người lao động tránh được những
hụt hẫng khi bị mất việc làm là xã hội cần tạo cho họ một khoản thu nhập
bù đắp khoản thu nhập bị mất đó là BHTN. Đây là một trong những biện
pháp được nhiều nước quan tâm, vì nó không chỉ đảm bảo cuộc sống cho cá
nhân người bị thất nghiệp mà còn góp phần ổn định xã hội.
BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc
đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà
nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị
mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường
lao động. Như vậy, có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất
nghiệp vừa là một chính sách xã hội rất quan trọng. Với cách tiếp cận này,
BHTN có hai chức năng chủ yếu: Chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích.
- Với chức năng bảo vệ: BHTN tổ chức bù đắp thu nhập cho người thất
nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao
động.
- Với chức năng khuyến khích: BHTN hạn chế sự ỷ lại của người lao động,
kích thích người thất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc. Qua
hai chức năng này có thể thấy BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với người lao
động mà còn có ý nghĩa đối với cả người sử dụng lao động và nhà nước.
Đối với người sử dụng lao động, do có BHTN nên khi thất nghiệp xảy
ra đối với người lao động, người sử dụng lao động không phải tăng thêm
chi phí để trả trợ cấp mất việc làm cho họ. Điều này sẽ khuyến khích doanh
nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
phát triển sản xuất.
Đối với nhà nước, nhờ có BHTN nên gánh nặng ngân sách sẽ giảm hơn


19


khi thất nghiệp xảy ra (thường vào thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách nhà
nước eo hẹp lại phải chi nhiều cho các vấn đề xã hội khác). Mặt khác, khi có
trợ cấp thất nghiệp, những vấn đề xã hội sẽ bớt căng thẳng hơn, nhà nước
không còn phải lo đối phó với các cuộc biểu tình, giảm thiểu được chi phí
ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm do nguyên nhân thất
nghiệp gây ra.
Tóm lại, BHTN có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân người lao
động và doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò thăng bằng nền kinh tế, là liều
thuốc làm “hạ nhiệt” sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra, là
một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc
gia.
1.1.3. Khái niệm chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
BHTN ra đời mang tính tất yếu khách quan, gắn liền với nền kinh tế
thị trường, khi sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Mối
quan hệ giữa các bên tham gia BHTN chỉ tồn tại và phát huy vai trò khi có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý
phải sử dụng các công cụ quản lý nhằm đặt được các mục tiêu, chiến lược
phát triển của đất nước, trong đó có chính sách BHTN.
Chính sách BHTN là sự tác động của Nhà nước tới các đối tượng tham
gia BHTN thông qua các biện pháp,công cụ chính sách nhằm đảm bảo mục
tiêu an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế.
- Chính sách BHTN là một chính sách công. Do vậy, chủ thể chính sách
là Nhà nước.
- Đối tượng tham gia BHTN là những người lao động tham gia đóng
BHTN và chủ sử dụng lao động. Chỉ những người lao động tham gia đóng
BHTN bị thất nghiệp mới được hưởng lợi từ chính sách BHTN. Chủ sử dụng
lao động được coi là đối tượng của chính sách BHTN khi họ phải tuân thủ


20


những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ cho
người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp.
- Đối tượng hưởng BHTN là những người lao động tham gia đóng
BHTN khi bị thất nghiệp có đủ điều kiện hưởng BHTN theo quy định của
pháp luật. Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu
học nghề được hỗ trợ kinh phí để học một nghề và học một lần. Bên cạnh
đó, họ còn được hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua
Trung tâm Giới thiệu việc làm. Được hưởng đầy đủ chế độ BHYT theo quy
định của pháp luật trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
1.2. Những vấn đề cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
1.2.1. Tính tất yếu khách quan của chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường, thu nhập chủ yếu của người lao
động thường gắn với việc làm; khi không còn việc làm, thu nhập đương
nhiên cũng không còn. Khi đó người lao động và gia đình họ có nguy cơ rơi
vào cảnh túng quẫn, bị bần cùng hoá. Để khắc phục tình cảnh này, bản thân
người lao động phải tích cực tìm chỗ làm việc mới. Đây là biện pháp khá
năng động, có tính cá nhân. Tuy nhiên, không phải ai và lúc nào cũng có thể
tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệp thường song hành với thời kỳ nền
kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất
kinh doanh, nên khó tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động. Một biện
pháp khác có tính xã hội cao, là nhà nước tổ chức bảo hiểm thất nghiệp
(BHTN) cho người lao động. BHTN xét về mặt xã hội là biện pháp có tính
thụ động, nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân người lao
động khi bị thất nghiệp, giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại
mức thu nhập đã bị mất do bị mất việc làm; tạo điều kiện cho họ sớm quay
trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vào tình cảnh túng quẫn.



21

Vấn đề đặt ra là BHTN được thực hiện như thế nào? Ai là người thuộc đối
tượng được hưởng BHTN… Đây là vấn đề không mới đối với các nước có
truyền thống kinh tế thị trường, nhưng đối với nước ta, mặc dù pháp luật
BHTN đã có hiệu lực, nhưng thực tế thực hiện còn nhiều vấn đề phải bàn
luận.
BHTN nằm trong hệ thống BHXH nói chung. Tuy nhiên, do tính đặc
thù, BHTN không chỉ đơn thuần là trợ cấp thất nghiệp và còn có những hỗ
trợ khác để người lao động nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động,
như hỗ trợ dạy nghề; hỗ trợ tìm kiếm việc làm,…Vì vậy, có những nước tách
BHTN ra thành hệ thống riêng.
Hơn nữa từ các khái niệm nêu trên, thất nghiệp là một trong những
nguyên nhân làm ngừng thu nhập của người lao động làm công ăn lương
và vì vậy, người thất nghiệp là một trong những đối tượng cần được xã hội
bảo vệ thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHTN từ sự huy động, sự
đóng góp của số đông người lao động và người sử dụng lao động, để có
nguồn chi trả cho số ít người bị thất nghiệp trong xã hội. Sự huy động này
và cách thức chi trả này chính là một trong những hoạt động của BHTN.
Nói cách khác, BHTN có mối quan hệ hữu cơ của hệ thống BHXH của mỗi
quốc gia.
Thất nghiệp phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế (trong nước
và quốc tế), nên có sự biến động rất lớn. Người lao động có thể hôm nay
thất nghiệp, nhưng ngày mai đã có việc làm và ngược lại. Thất nghiệp vừa
có tính thời vụ, vừa có tính chu kỳ, phụ thuộc nhiều vào chu kỳ của nền kinh
tế. Thất nghiệp còn là tín hiệu, là thước đo tính ổn định của thị trường lao
động. Quy mô và cơ cấu của thất nghiệp thay đổi phản ảnh sự thay đổi của
thị trường lao động. Qua cơ cấu thất nghiệp có thể thấy được những diễn
biến, sự thay đổi trong cơ cấu của thị trường lao động nói riêng và cơ cấu



22

của nền kinh tế nói chung. Vì thế, việc tổ chức thực hiện BHTN rất khác so
với các cấu trúc khác trong BHXH (thuần túy chỉ là chi trả các trợ cấp bảo
hiểm). Như nêu trên, trong kết cấu chi của BHTN, ngoài trợ cấp thất nghiệp
còn có trợ cấp học nghề và các hỗ trợ để tìm kiếm việc làm mới…
Ở một số quốc gia khác, trong đó có Việt nam, dù không tách riêng,
nhưng quỹ BHTN là một quỹ thành phần thuộc quỹ BHXH. Trong quá trình
thực hiện có sự gắn kết giữa các cơ quan BHXH và cơ quan lao động. Các
cơ quan lao động tổ chức đăng ký, theo dõi thất nghiệp và tổ chức dạy
nghề, chuyển nghề cho người lao động; các cơ quan BHXH tổ chức chi trả
trợ cấp BHXH. Điều này càng cho thấy tính phong phú, tính đa dạng và tính
phức tạp của hệ thống BHXH trong nền kinh tế thị trường.
1.2.2. Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
1.2.2.1. Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
- Chính sách BHTN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người lao
động khi họ bị mất việc làm
Chính sách BHTN đã góp phần tích cực giải quyết an sinh xã hội cho
NLĐ. Khi tham gia BHTN lao động mất việc không chỉ được hỗ trợ một
phần kinh phí để trang trải cuộc sống mà còn giúp đỡ họ và gia đình họ về
mặt tinh thần có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khổ, giúp
người lao động có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp và để
tìm việc làm mới.
Chính sách BHTN hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm và cơ hội có
việc làm thông qua việc tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để giúp họ
có điều kiện sớm quay trở lại thị trường lao động. Ngoài ra, người lao động
bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ chính sách BHTN
như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ cho người lao động thất nghiệp, chính



23

sách BHTN còn khuyến khích người lao động tích cực tham gia tìm kiếm
việc làm mới và sẵn sàng đi làm, tránh sự ỉ lại, phá bỏ rào cản mặc cảm của
người lao động đang trong tình trạng thất nghiệp.
- Chính sách BHTN hỗ trợ người sử dụng lao động trong việc giải
quyết vấn đề thất nghiệp của người lao động
Chính sách BHTN hỗ trợ tài chính cho người lao động bị thất nghiệp,
điều đó gián tiếp hỗ trợ cho người sử dụng lao động, giảm áp lực cho họ
trong vấn đề hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp. Điều này sẽ khuyến
khích doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp phát triển sản xuất.
Mặt khác, chính sách cung cấp thông tin, tư vấn đào tạo cho người lao
động bị thất nghiệp tìm việc làm, giúp cho người sử dụng lao động, những
người có nhu cầu lao động và những người thất nghiệp, đang có nhu cầu
tìm việc làm, có nhiều cơ hội gặp nhau hơn. Theo đó, người sử dụng lao
động được đáp ứng nhu cầu lao động phù hợp hơn.
- Chính sách BHTN góp phần vào sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội
của đất nước
Thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng mất thu nhập đột ngột và đương
nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng, người
thất nghiệp sống dưới mức tiêu chuẩn chung của xã hội. Điều đó có thể
phát sinh các tệ nạn xã hội, gây bất ổn cho xã hôi. Chính sách BHTN ra đời
nhằm góp phần giảm thiểu tình trang thất nghiệp, giúp người thất nghiệp
và gia đình họ có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp, góp
phần ổn định cho xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.
Mục tiêu chính của BHTN là giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại
thị trưởng lao động thông qua việc hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đạo

tạo nghề, làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Thất nghiệp giảm, có


24

nghĩa là nhiều người lao động tìm được việc làm. Nguồn nhân lực không bị
lãng phí và được sử dụng vào các hoạt động tạo ra của cải cho xã hội, thúc
đẩy kinh tế phát triển.
1.2.2.2. Một số nguyên tắc cơ bản của chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Chính sách BHTN được xây dựng và thực thi dựa trên những
nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chính sách BHTN dựa trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro.
BHTN là "hạt nhân" của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ
thống chính sách kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên
trong quan hệ lao động. Do vậy, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá
nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít. Nếu nguyên tắc này không được
đảm bảo thì các khoản trợ cấp thất nghiệp sẽ chỉ đơn thuần là một khoản
"tiền tiết kiệm trả muộn" và ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi.
Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với người
lao động và người sử dụng lao động. Những chủ thể này đều có trách
nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong hợp đồng lao
động. Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết.
Thứ hai, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của người
lao động
Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do
Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN là tiền
lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên
nghề ( nếu có ). Tiền lương này tính trên cơ sở mức tiền lương tối thiểu
chung do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng.

NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền
lương, tiền công tháng đóng BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trên


25

HĐLDD. Tiền lương này không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà
nước quy định tại thời điểm đóng.
Trường hợp NLĐ là người quản lý doanh nghiệp, tiền lương, tiền công
tháng đóng BHTN là mức tiền lương do điều lệ của doanh nghiệp quy định;
người quản lý hợp tác xã mức tiền lương, tiền công được Đại hội xã viên thông
qua.
Thứ ba, mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng BHTN.
Trong cơ chế thị trường, đối với các hoạt động kinh doanh, Nhà nước
chỉ thực hiện chức năng quản lý nên khi xây dựng chính sách BHTN cần có
tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp với thụ hưởng của người lao động, hạn chế
tới mức thấp nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN.
Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho
người lao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên. Do đó, tỷ lệ
hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN hàng tháng được quy định trên
nguyên tắc đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và được cân
đối với mức đóng góp BHTN trước đó của người lao động. Khi xác định
mức hưởng trợ cấp BHTN một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ
BHTN, mặt khác còn đảm bảo khuyến khích người lao động chủ động tìm
kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp.
Thứ tư, Quỹ BHTN được quản lý tập trung,thống nhất, dân chủ, công
khai, minh bạch, đảm bảo an toàn và được Nhà nước bảo hộ.
Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là:
người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước nên hoạt động của quỹ

phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán
độc lập. Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa
phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử dụng vào các mục


×