Tải bản đầy đủ (.doc) (124 trang)

luận văn thạc sĩ kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần quốc tế sơn hà

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 124 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---------------------------

NGUYỄN THỊ CHUNG

KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU, KẾT QUẢ
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUỐC TẾ
SƠN HÀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---------------------------

NGUYỄN THỊ CHUNG

KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU, KẾT QUẢ
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUỐC TẾ
SƠN HÀ

CHUYÊN NGÀNH : KẾ TOÁN
MÃ SỐ

: 60 34 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

HÀ NỘI, NĂM 2017


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ
yêu cầu phát sinh trong công việc thực tế.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trình bày trong luận văn được thu
thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác trước đây.
Hà Nội ngày 20 tháng 04 năm
2016
Học viên


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và nghiên cứu thành công luận văn này,
tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô và đồng nghiệp.
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong trường Đại học
Thương Mại đã dạy bảo chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. Và lời cảm
ơn đặc biệt xin gửi tới PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nga người đã dành nhiều thời gian
hướng dẫn tác giả tận tình để hoàn thành luận văn của mình.
Tác giả luận văn cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp trong Công ty

Cổ phần Quốc tế Sơn Hà, nhất là các anh chị trong Phòng Kế toán đã tạo điều kiện
cho tôi tìm hiểu tỉ mỉ về công ty cũng như về việc thực hiện kế toán doanh thu, chi
phí và kết quả kinh doanh tại công ty hiện nay để tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về kế
toán tài chính giúp tôi hoàn thành tốt bài luận văn này.
Mặc dù được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của đồng
nghiệp và sự cố gắng, nỗ lực hết mình cho bài luận văn nhưng cũng không thể tránh
được sai sót, tác giả mong rằng sẽ tiếp tục đón nhận được sự đóng góp quý báu của
thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp.
Tác Giả Luận Văn

Nguyễn Thị Chung


iii

MỤC LỤC
1.1.2 Yêu cầu quản lý doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh ..............................................14
1.4.2 Thu thập, hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về chi phí, doanh thu và kết
quả kinh doanh....................................................................................................................... 33
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Quốc Tế Sơn Hà..............................41
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Quốc Tế Sơn Hà...............43
2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần Quốc Tế Sơn Hà...........................47
Sơ đồ bộ máy kế toán tại công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà (Phụ lục 2.2)....................................49
2.2.1 Thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần Quốc Tế
Sơn Hà dưới góc độ kế toán tài chính......................................................................................53
2.2.2. Kế toán chi phí..............................................................................................................57
2.2.3. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ............................................................63
* Thu nhận thông tin và hạch toán ban đầu về doanh thu........................................................63
Quy trình luân chuyển chứng từ: Kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho lập hóa đơn GTGT, tuy
nhiên có những đơn hàng giá trị lớn nên khách hàng phải thanh toán đặt cọc trước khi nhận

hàng, sau khi nhận hàng làm thủ tục thanh toán hết, do đó ngoài phiếu xuất kho, kế toán còn
căn cứ vào hợp đồng mua bán , phiếu thu hoặc giấy báo Có để lập hóa đơn............................63
Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh..............74
Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần Quốc Tế Sơn
Hà dưới góc độ kế toán quản trị chiếm dụng vốn về kế toán, hiểu sâu sắc từng phần hành công
việc, đồng thời khi quay trở lại công việc cũ họ hính. Từ đó, kế toán quản trị phát huy hết tác
dụng của mình phục vụ hiệu quả cho nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, hoàn thiện kế toán
quản trị doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động bán hàng là vấn đề cần thiết khách quan.......80
Hoàn thiện kế toán chi phí......................................................................................................80
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp phân loại chi phí theo nội dung kinh tế và theo công dụng
kinh tế của chi phí mà không phân loại theo quan điểm về kế toán quản trị. Do đó, nhà quản trị
gặp khó khan trong việc ra quyết định kinh tế.Để có được tông tin là cơ sở tổng hợp, lập các
báo cáo sử dụng cho hoạt động quản trị đòi hỏi công ty phải phân biệt rõ ràng và nhận diện
được cách phân loại chi phí. Trên mỗi góc độ nhà quản trị cần có thông tin khác nhau về chi phí.
Việc đa dạng hóa phân loại chi phí là cần thiết đáp ứng yêu cầu của kế toán chi phí phục vụ nhà
quản trị doanh nghiệp.............................................................................................................80
3.43.1. Đối với Nhà nước và các ngành chủ quản.....................................................................87
3.43.2. Đối với công ty ...........................................................................................................88
--------------*---------------..........................................................................................................104


iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5

6
7
8
9
10
11
12
13

Ký hiệu viết tắt
CP
CPBH, CPQLDN
CC DV
GTGT
TC – HC
KH – KD
KH TSCĐ
KQKD
KT – TC
SXKD
TDN
Thuế TNDN
UBND

Diễn giải
Cổ phần thương mại
Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Cung cấp dịch vụ
Giá trị gia tăng
Tổ chức – Hành chính

Kế hoạch – Kinh doanh
Khấu hao tài sản cố định
Kết quả kinh doanh
Kế toán – Tài chính
Sản xuất kinh doanh
Thái Dương Năng
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Ủy ban nhân dân


v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ ghi sổ kế toán trê n phần mềm kế toán Effect( Phụ lục 2.3)............................................49
Bảng 2.1 : Dự toán tiêu thụ cho các sản phẩm.........................................................................67
Bảng 2.2: Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh...................................................................69
Biểu số 2.3. Bảng Kết quả kinh doanh của từng mặt hàng:.......................................................79
Bảng 2.4. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí........................................................83
Bảng 2.5 : Bảng dự toán chi phí kinh doanh.............................................................................85
Bảng 2.6: Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh....................................................................86


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hôi nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam được xem là một trong
những nước đang phát triển còn gặp nhiều khó khăn về cả nguồn nhân lực và nguồn
tài chính. Các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức rất
lớn trên thị trường cạnh tranh khốc liệt, đặc biêt khi nước ta trở thành thành viên

của WTO và đang trên đà gia nhập tổ chức TPP. Điều này, đòi hỏi sự cố gắng vươn
mình rất lớn của các doanh nghiệp Việt Nam thì mới có thể cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Chính vì thế, kế toán lại càng trở thành công cụ
quan trọng trong việc quản lý nói chung và công tác quản lý kinh tế tài chính nói
riêng. Để kế toán phát huy tốt chức năng thông tin và kiểm tra đòi hỏi phải xây
dựng một hệ thống kế toán hoànchỉnh, phù hợp với ngành, nghề, lĩnh vực kinh
doanh của từng đơn vị. Thông tin kế toán đòi hỏi phải cung cấp một cách chính xác,
cụ thể và kịp thời không chỉ hướng tới các sự kiện đã xảy ra mà còn hướng tới
những diễn biến trong tương lai. Trong các doanh nghiệp thì doanh thu, chi phí và
xác định kết quả kinh doanh là một trong những yếu tố quan trọng để xác định kết
quả kinh doanh. Dù kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào thì doanh thu và chi phí luôn
là vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Trong xu thế cạnh tranh, doanh nghiệp nào có
phương thức bán hàng tốt, sản phẩm chất lượng cao, tối đa hóa lợi nhuận và giảm
chi phí xuống mức thấp nhất thì doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển.
Doanh thu và chi phí hình thành nên lợi nhuận – là mục tiêu mà các doanh nghiệp
hướng tới, thể hiên kết quả kinh doanh sau mỗi chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp.
Mức lới nhuận đạt được như mong muốn giúp doanh nghiệp tái đầu tư hoặc mở
rộng đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phát triển doanh nghiệp của mình
đồng thời có thể thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước. Mặt khác, thông qua kết quả
hoạt động kinh doanh góp phần phản ánh, đánh giá tầm quản lý cũng như năng lực
của Ban Giám Đốc, cũng như hiệu quả sử dụng vốn.


2

Qua nghiên cứu thực tế tại công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà cao học viên nhận
thấy đây là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô lớn, sản phẩm sản
xuất kinh doanh đa dạng, thị trường hoạt động rộng trên phạm vi cả nước. Trong
những năm vừa qua, công cụ kế toán nói chung và kế toán doanh thu, chi phí và
xác định kết quả kinh doanh nói riêng tại Công ty Cổ phần Quốc Tế Sơn Hà đã

không ngừng hoàn thiện, đạt được nhiều kết quả, song còn có những bất cập cần
tiếp tục hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng cho yêu cầu quản lý của công ty. Xuất
phát từ yêu cầu mang tính khách quan cả về lý luận và thực tiễn nên cao học viên
chọn đề tài: “ Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty cổ
phần quốc tế Sơn Hà”.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu lý luận chung về kế toán chi phí, doanh thu và kết quả
kinh doanh, thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty
cổ phần quốc tế Sơn Hà, luận văn đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế và
chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế để làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn nữa kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh (lý luận chung và thực tiễn
tại công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà).Tuy nhiên, luận văn dừng lại ở hoạt động bán
hàng, không nghiên cứu chi phí, doanh thu/thu nhập và kết quả phát sinh từ các hoạt
động tài chính và hoạt động khác của công ty.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
của công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà.
- Về thời gian: Kỳ kế toán năm 2016.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận văn chỉ đi nghiên cứu chi phí giá vốn,
chi phí quản lý và chi phí bán hàng ở hoạt động bán hàng mà không nghiên cứu chi
phí, doanh thu/thu nhập và kết quả phát sinh từ các hoạt động tài chính và hoạt động
khác của công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu


3


Đề tài sử dụng kết hợp hai nhóm phương pháp là phương pháp thu thập dữ
liệu và phân tích, xử lý dữ liệu (nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tế, phỏng vấn,
tham khảo ý kiến chuyên gia, thống kê số liệu, phân tích, so sánh) để nghiên cứu và
trình bày kết quả nghiên cứu. Đề tài vận dụng kết hợp các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Thu thập tài liệu thứ cấp: Đề tài thực hiện nghiên cứu vấn đề lý luận thông
qua việc tham khảo các giáo trình, sách tham khảo, bài báo, tạp chí, các luận văn,
luận án… viết về đề tài hoàn thiện tổ chức kế toán. Thu thập tài liệu thứ cấp về thực
trạng bằng phương pháp quan sát, nghiên cứu chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài
chính của Công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà trong năm 2015 và các thông tin trên các
phương tiện thông tin đại chúng, các tài liệu khác.
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Thực hiện hỏi, xin ý kiến trực tiếp của các cán bộ kế
toán và các nhân viên khác tại Công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà. Đồng thời, đề tài
cũng được tìm hiểu nghiên cứu thông qua việc xin ý kiến của giáo viên hướng dẫn
và các chuyên gia về lĩnh vực kế toán.
Phương pháp xử lý dữ liệu: Tổng hợp xử lý tài liệu thu thập được làm luận
chứng cho kết quả nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân
tích định tính và so sánh giữa thực trạng và cơ sở lý luận để suy diễn, quy nạp và
trình bày kết quả nghiên cứu.
5, Các đóng góp dự kiến của luận văn
- Những đóng góp về mặt lý luận
+ Luận văn nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kế toán
chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp sản xuất nói chung.
- Những đóng góp về mặt thực tiễn
+ Góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức kế toán của công ty, giúp cho
nhà lãnh đạo có thể quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị tốt hơn.
+ Giúp cho việc theo dõi, xác định chính xác thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế
mà vẫn đảm bảo kết cấu sổ gọn nhẹ, giảm bớt khối lượng công việc ghi chép, vẫn đảm
bảo cung cấp đầy đủ các thông tin kinh tế cần thiết cho các đối tượng sử dụng.
6, Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam về kế toán chi phí, doanh thu,

kết quả kinh doanh và các nghiên cứu có liên quan


4

Trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu, tôi đã tìm hiểu một số công trình
nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Một trong số những công
trình nghiên cứu nổi bật liên quan đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết
quả kinh doanh là:
- Tác giả Mai Vũ Hà (năm 2007) với luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu về
“Tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh
Gạch”, với công trình nghiên cứu này, tác giả làm rõ đặc thù hoạt động kinh doanh
Gạch và những ảnh hưởng đến cơ chế quản lý kinh tế tài chính và công tác kế toán
của các doanh nghiệp trong ngành, làm sáng tỏ nội dung tổ chức công tác kế toán
doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trên góc độ lý luận và thực tiễn cho các
DN Gạch trên các mặt như: tổ chức vận dụng chứng từ, tổ chức vận dụng tài khoản
kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống sổ sách kế toán để ghi chép, tổ chức vận dụng
các báo cáo kế toán trong việc cung cấp thông tin kế toán trên cả hai góc độ lý luận
và thực tiễn. Tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí,
doanh thu và kết quả kinh doanh Gạch, đề xuất xây dựng mô hình KTQT chi phí,
doanh thu cho các DN Gạch.
- Đề tài “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công
ty TNHH một thành viên cấp nước Yên Bái” của tác giả Trần Thị Thu Hương. Luân
vặn đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh của Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Yên Bái. Phần kế toán doanh
thu, tác giả tập trung khảo sát thực trạng về nội dung doanh thu tại công ty, chứng
từ, sổ sách và qui trình ghi sổ của hai hoạt động kinh doanh chính của đơn vị là kinh
doanh nước sạch và kinh doanh hoạt động xây lắp. Phần chi phí, tác giả khảo sát
theo từng nội dung kế toán giá vốn hàng bán, kế toán chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp và chi phí hoạt động tài chính. Mặc dù, tác giả đã đưa ra các giải

pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty, các
giải pháp đó được cụ thể hóa bằng sơ đồ công việc nhưng hoạt động kinh doanh thì
luôn luôn biến động, thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế vì vậy các giải pháp
đó không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay. Ngoài ra, do lĩnh vực kinh doanh


5

tại các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch hoàn toàn khác biệt với doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ logistic của Công ty TNHH M&P Quốc tế - chi nhánh Hà Nội.
Cũng như trong luận văn của tác giả Phạm Thị Bích Duyên với đề tài “ Hoàn
thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại các đơn vị kinh doanh
dịch vụ thuộc Tổng công ty truyền thông đa phương tiện Việt Nam (VTC)”. Đề tài
đã có quá trình khảo sát và nghiên cứu về thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và
kết quả kinh doanh ở một số nước trên thế giới đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng hoàn thiện và các giải pháp
hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại VTC. Khi nghiên
cứu luận văn này tác giả mới chỉ dựa vào các công trình nghiên cứu khác chứ chưa
khảo sát thực tế đối với kế toán nước ngoài. Mặt khác, do lĩnh vực kinh doanh của
đơn vị khác biệt với lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH M&P Quốc tế - chi
nhánh Hà Nội nên nội dung nghiên cứu của đề tài không áp dụng tại công ty TNHH
M&P Quốc tế - Chi nhánh Hà Nội.
Hiện nay, vẫn chưa có đề tài nào đề cập đến Kế toán doanh thu, chi phí và kết
quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần quốc tế Sơn Hà. Công ty Cổ phần quốc tế Sơn
Hà sản xuất bồn nước và các sản phẩm kim khí gia dụng nên kế toán doanh thu, chi
phí và kết quả kinh doanh có nhiều điểm khác biệt với doanh nghiệp sản xuất hay
kinh doanh các dịch vụ khác.
7, Kết cấu của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp sản xuất

Chương 2: Thực trạng kế toán chi phú, doanh thu và kết quả kinh doanh tại
công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại
công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà.


6

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ
KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Những vấn đề chung về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp sản xuất.
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của của doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán số 14 , trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam:
“ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu ”.
Doanh thu của các doanh nghiệp bao gồm doanh thu bán hàng, doanh thu cung
cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ
thu được từ các giao dịch như bán hàng hoá…bao gồm cả các khoản phụ thu và phí
thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của nhà
nước đối với một số hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ được nhà nước cho phép
và giá trị của các sản phẩm hàng hoá đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng trong nội bộ
doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là chỉ tiêu gộp của doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu nội bộ khi thể hiện trên báo cáo kết quả

hoạt động kinh doanh.
Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) định nghĩa: “Doanh thu là giá trị các
lợi ích kinh tế doanh nghiệp trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất,
kinh doanh thông thường góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản
góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
• Các

khoản giảm trừ doanh thu:


7

+/Chiết khấu thương mai: Là khoản dịch vụ bán hạ giá niêm yết cho khách
hàng mua với số lượng lớn.;
+/Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do những hàng hoá
kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc thị hiếu.
+/Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
• Doanh

thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh số

doanh thu bán hàng, thành phẩm và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản giảm trừ
( chiết khấu thương mai, giảm giá hàng bán…) trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính
kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
• Doanh

thu hoạt động tài chính: Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu hoạt động

tài chính thuần phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.

Doanh thu bán hàng (Doanh thu tiêu thụ hàng hoá - dịch vụ) là toàn bộ số tiền
bán sản phẩm, hàng hoá cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ đi các
khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Trong doanh thu cũng bao gồm phần
trợ giá của nhà nước khi thực hiện việc cung ứng các hàng hoá và dịch vụ yêu cầu
của Nhà nước.
Doanh thu bán hàng phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác thanh
toán. Có được doanh thu bán hàng, chứng tỏ doanh nghiệp đã sản xuất sản phẩm hàng
hoá và đã cung cấp hàng hoá dịch vụ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
Doanh thu bán hàng là nguồn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản
chi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất
kinh doanh, trang trải cho số vốn đã ứng ra cho sản xuất kinh doanh, có tiền để
thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động trích bảo hiểm xã
hội, BHYT, KPCĐ, làm các nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
Thực hiện được doanh thu bán hàng đầy đủ và kịp thời góp phần thúc đẩy tăng
tốc độ chi chuyển vốn lưu động tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái sản xuất này.


8

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố, như khối lượng sản xuất tiêu thụ sản phẩm, chất lượng sản
phẩm, kết cấu mặt hàng, giá bán sản phẩm và vấn đề thanh toán tiền hàng.
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản
phẩm tiêu thụ. Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì khả năng về doanh thu càng lớn.
Khối lượng sản xuất và tiêu thụ còn phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp hình
thức tổ chức công tác bán hàng; Việc ký kết hợp đồng tiêu thụ đối với khách hàng,
việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng. Tất cả những việc đó đều có ý
nghĩa quan trọng nhằm nâng cao doanh thu bán hàng.
Mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, giá cả của

chúng cũng khác nhau. Do đó, việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất cũng ảnh
hưởng tới doanh thu. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng mỗi loại sản phẩm đều có
tác dụng nhất định trong việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, cho nên phấn đấu
tăng doanh thu, các doanh nghiệp cũng phải cần chú ý đến việc thực hiện đảm bảo kế
hoạch sản xuất những mặt hàng mà doanh nghiệp đó ký hợp đồng. Trong trường hợp
các nhân tố khác không thay đổi thì việc thay đổi giá bán cũng có ảnh hưởng trực tiếp
tới doanh thu. Việc thay đối giá bán (giá bán cao hay thấp) một phần quan trọng do
quan hệ cung - cầu trên thị trường quyết định. Để đảm bảo được doanh thu, doanh
nghiệp phải có những quyết định về giá cả, giá cả phải bù đắp được chi phí đã tiêu hao
và tạo nên lợi nhuận thoả đáng để thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Mục đích của quá trình sản xuất kinh doanh là làm thế nào để thu hút được
nhiều lợi nhuận. Muốn vậy doanh nghiệp phải có chế độ quản lý tốt quá trình sản
xuất sản phẩm, có chiến lược bán hàng đối với sản phẩm của mình, phải quan tâm
đến chu kỳ sống của sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Đây là một vấn để khó khăn và phức tạp đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra các kế
hoạch, chỉ tiêu quản lý doanh thu bán hàng.
* Xác định doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác ” việc
xác định doanh thu phải tuân theo các quy định sau:


9

Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu
được. Doanh thu được xác định = giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ
thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị
hàng bán bị trả lại.
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì
doanh thu được xét bằng các quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được
theo tỉ lệ lãi suất hiện hành, giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể

nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy các thứ tương đương về bản
chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
và không được ghi nhận là doanh thu.
Doanh thu và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận
đồng thời theo nguyên tắc phù hợp và phải theo năm tài chính.
Doanh thu (kể cả doanh thu nội bộ) phải được theo dõi riêng biệt theo từng
loại doanh thu nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ chính xác kết quả kinh
doanh theo yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và lập báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu trong kỳ kế toán phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại
thì được hạch toán riêng biệt. Các khoản giảm trừ doanh thu được trừ vào doanh thu
ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ xác định kết quả kinh
doanh của kỳ kế toán .
* Điều kiện ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 thì doanh thu
bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau:
• Doanh

nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quỳên sở

hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.
• Doanh

nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu

hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.



10

• Doanh

thu được xác định tương đối chắc chắn.

• Doanh thu đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
• Xác

định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Doanh thu từ các dịch vụ:Kết quả của giao dịch các dịch vụ được xác
định khi thỏa mãn 4 điều kiện sau
• Doanh
• Có

thu được xác định tương đối chắc chắn.

khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch các dịch vụ đó.

• Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán.
• Xác

định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao

dịch các dịch vụ đó.
Trường hợp giao dịch về các dịch vụ thực hiện trong kỳ kế toán thì việc xác
định doanh thu của dịch vụ trong từng thời kỳ được thực hiện theo phương pháp tỉ
lệ hoàn thành, theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán
được xét theo tỉ lệ phần công việc đã hoàn thành.

Như vậy khi hạch toán ghi nhận doanh thu phải xác định xem doanh thu từ
nghiệp vụ bán hàng đó có thoả mãn những quy định về xác định và điều kiện ghi
nhận doanh thu hay không. Chỉ khi những quy định và những điều kiện ghi nhận
doanh thu được thoả mãn thì doanh thu mới được ghi nhận.
* Ý nghĩa doanh thu
- Doanh thu lớn hay nhỏ phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất trong
doanh nghiệp. Doanh thu lớn phần nào phản ánh được kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện chi phí không đổi.
- Doanh thu là cơ sở để bù đắp chi phí sản xuất đã tiêu hao trong sản xuất và
thực hiện nộp các khoản thuế cho Nhà nước.
- Doanh thu được thực hiện là kết thúc giai đoạn cuối cùng của quá trình luân
chuyển vốn tạo điều kiện để thực hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo.
1.1.1.2 Khái niệm, ý nghĩa của chi phí
Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) định nghĩa: Chi phí là tổng giá trị
các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền
chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm
vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.


11

Tại Chuẩn mực này cũng đề cập đến cơ sở dồn tích, vậy chi phí được hiểu
theo cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền như thế nào? Theo khái niệm trên
chi phí được thể hiện là các khoản tiền chi ra (tức là: đã chi ra và được hiểu theo cơ
sở kế toán tiền), vậy các khoản chi được ghi nhận là chi phí nhưng chưa thực sự chi
tiền (ví dụ như các khoản doanh nghiệp chiếm dụng vốn của người bán khi giao
dịch mua hàng) thì lại không được đề cập tại khái niệm này. Để phản ánh một
khoản chi phí thì chi phí được phản ánh theo cơ sở kế toán dồn tích mang tính tích
cực hơn. Bởi vì, theo cơ sở kế toán dồn tích một khoản chi phí của doanh nghiệp
được phản ánh thể hiện cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Còn với cơ sở kế

toán tiền thì một khoản chi phí của doanh nghiệp được ghi nhận khi thực sự chi tiền
- điều này chỉ phản ánh được tình hình hiện tại của khoản chi phí đó. Hơn nữa, kế
toán hiện nay không còn sử dụng kế toán theo cơ sở tiền trong việc ghi nhận chi phí
cũng như tài sản, nguồn vốn và doanh thu bởi không mang lại tính tích cực trong
quá trình hạch toán. Chi phí được xem xét trên quan điểm của kế toán dồn tích.
Đối với góc độ kế toán tài chính thì Chi phí được nhìn nhận như những khoản
phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao
động sống, lao động vật hóa,… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn.
Nhìn nhận chi phí theo góc độ kế toán tài chính không bó hẹp theo cơ sở kế
toán tiền như khái niệm trình bày trong VAS01 “Chuẩn mực chung” mà chi phí bao
hàm cả những khoản chi phí thực tế đã chi và đã xác định ghi nhận là khoản chi, cụ
thể là các khoản chi đó được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động
sống, lao động vật hóa được ghi nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn.
Mặt khác, theo khái niệm này nguyên tắc phù hợp được thể hiện rất rõ, cụ thể
ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp nhau. Phù hợp được hiểu theo nghĩa
phù hợp về mặt lượng và mặt thời gian. Cụ thể:
Thứ nhất, phù hợp về mặt lượng có nghĩa khi ghi nhận một lượng doanh thu
phải phù hợp với một khoản chi phí tương ứng;
Thứ hai, phù hợp về mặt thời gian có nghĩa ghi nhận doanh thu và chi phí phải
đúng kỳ, nếu doanh thu và chi phí phát sinh liên quan đến nhiều kỳ thì phải phân bổ
tương ứng tính vào đúng kỳ hạch toán.


12

Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác. Chi phí
sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường
của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh

nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên
khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,... Những chi phí này phát sinh
dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc,
thiết bị.
Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: chi
phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi
phạm hợp đồng,...
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của DN bao gồm SXKD,HĐTC và
hoạt động khác. Kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh là số còn lại của tài sản
thuần sau khi trừ đi giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: kết quả của hoạt động sản
xuất, chế biến, kết quả hoạt động thương mại, Kết quả hoạt động lao vụ, DV.
Lãi( lỗ) = Doan thu thuần+ Doanh thu tài chính –( Giá vốn hàng bán + Chi phí
bán hàng + chi phí quản ly doanh nghiệp+ chi phí tài chính + chi phí khác)
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được trình bày chi tiết trên hai báo cáo
(Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ)
Báo cáo kết quả kinh doanh (KQKD) là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ (LCTT) là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các luồng tiền của
doanh nghiệp thu vào và chi ra trong kỳ báo cáo. Hiện nay, chế độ kế toán quy định
cả hai Báo cáo trên đều là báo cáo tài chính bắt buộc của doanh nghiệp. Các thông tin
của hai Báo cáo này bổ sung cho nhau sẽ cho phép ta nhìn nhận toàn diện hơn kết quả
hoạt động của doanh nghiệp nhưng lại hạn chế trong công tác kế toán đó là vi phạm
nguyên tắc nhất quán. Cụ thể:


13

Kết quả luồng tiền trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: được trình bày theo cơ sở

kế toán tiền - phương pháp này phổ biến trong giai đoạn đầu của lịch sử kế toán,
theo đó kết quả hoạt động trong một kỳ bằng tổng số tiền thực thu được trong kỳ trừ
đi tổng số tiền thực chi ra trong kỳ. Phương pháp này đơn giản, dễ tính toán và có
cơ sở khi ta biết rằng xuất phát điểm của hoạt động kinh doanh là tiền (vốn) và đích
của hoạt động kinh doanh cũng là tiền. Nói cách khác, hoạt động kinh doanh chính
là bỏ tiền ra để kinh doanh trong lĩnh vực nào đó với kỳ vọng thu về nhiều tiền hơn.
Tuy nhiên, phương pháp này chỉ chính xác với các giả định sau: tất cả các vật tư
hàng hóa dịch vụ mua vào và bán ra đều thanh toán ngay trong cùng kỳ (không có
mua chịu bán chịu), tất cả các thu nhập chi phí của kỳ nào đều được thực hiện ngay
trong kỳ đó.
Kết quả luồng tiền trên Báo cáo kết quả kinh doanh: được trình bày theo cơ sở
kế toán dồn tích - phương pháp kế toán này ra đời sau và thay thế cho phương pháp
kế toán trên cơ sở tiền, được công nhận trong các chuẩn mực kế toán Quốc tế và
Việt Nam hiện hành.
Trong đó, thu nhập thực hiện trong kỳ không có nghĩa là thực thu mà chỉ cần
có xác nhận đồng ý mua (tức chấp nhận thanh toán) của người mua (giá trị sản
phẩm hàng hóa dịch vụ đã được xã hội thừa nhận - thông qua người mua) là kế toán
đã ghi nhận thu nhập. Sau khi xác định xong thu nhập, kế toán mới xác định tiếp
các chi phí tạo ra thu nhập đó (hay tương ứng với thu nhập đó). Do đó, không phải
tất cả các khoản tiền chi ra trong kỳ đều được tính vào chi phí và tham gia vào tính
kết quả kinh doanh trong kỳ mà chỉ có các khoản chi phí đã hoàn thành và đã được
xã hội thừa nhận (phần đã được tính vào giá vốn hàng bán). Như vậy, phương pháp
kế toán dồn tích gắn kết quả hoạt động kinh doanh với các nỗ lực và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Báo cáo KQKD phản ánh kết quả hoạt
động trên cơ sở đối chiếu thu nhập với chi phí liên quan tới thu nhập đó theo
phương pháp kế toán dồn tích cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.


14


1.1.2 Yêu cầu quản lý doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
1.1.2.1.Yêu cầu quản lý doanh thu trong các doanh nghiệp
Xuất phát từ sự cần thiết quản lý doanh thu bán hàng vấn đề đặt ra là làm thế
nào để quản lý doanh thu bán hàng một cách chặt chẽ và khoa học, muốn như vậy
thì doanh nghiệp cần phải đặt ra các yêu cầu, và thực hiện các yêu cầu sau:
- Nắm chắc sự vận động của từng loại thành phẩm hàng hoá trong quá trình
nhập, xuất và tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị.
- Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thanh toán,
từng loại thành phẩm, từng khách hàng, đôn đốc thu hồi nhanh và đầy đủ tiền vốn.
- Thường xuyên theo dõi những khách hàng có khoản phải thu khó đòi và có
những biện pháp xử lý kịp thời.
- Tính đoán đúng đắn và đầy đủ các khoản phải thu của khách hàng. Đồng thời
phải lập kế hoạch doanh thu bán hàng cho từng tháng, quý, năm
1.1.2.2 Yêu cầu quản lý chi phí trong các doanh nghiệp
Chi phí có vai trò rất quan trọng đối với quá trình kinh doanh của một doanh
nghiệp. Chính vì vậy, các thông tn tổng hợp, chi tiết luôn được thu thập, kiểm tra,
giám sát chặth che. Yêu cầu quản lý tổng mức phí tốt sẽ có những thông tin đầy đủ
sao cho giảm tối thiểu chi phí để thu được nhiều lợi nhuận. Việc quản lý các khoản
mục chi phí giúp người quản lý theo dõi chi tiết từng khoản mục, từng nghiệp vụ,
chi phí phát sinh để từ đó có thể so sánh các khoản chi phí với dự toán, với định
mức để xem xét đánh giá và đề ra các biện pháp nhằm giảm chi phí một cách tối ưu.
Đối với các khoản chi phí phát sinh theo địa điểm như các khoản chi phí phát
sinh ở các đơn vị phụ thuộc, được theo dõi và kế toán trực tiếp, còn những khoản
chi phí liên quan đến nhiều địa điểm thì tiến hành phân bổ hợp lí, khoa học đối với
từng khoản chi phí. Để thực hiện tốt kế toán theo địa điểm phát sinh cần phải tổ
chức tốt công tác kế toán, giao chỉ tiêu cho các đơn vị phụ thuộc và kiểm tra tình
hình thực, chi tiêu chi phí một cách chặt chẽ.


15


1.1.2.3 Yêu cầu quản lý kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng. Đó là chìa khóa để giải
quyết mọi vấn đề trong doanh nghiệp. Việc quản lý tốt kết quả kinh doanh đạt kết
quả cao trước hết ta phải quản lý chặt chẽ doanh thu và chi phí.
Quản lý có hiệu quả doanh thu bán hàng đòi hỏi kế toán phải thường xuyên
theo dõi và phản ánh kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến doanh
thu bằng cách tổ chức theo dõi, hạch toán trên sổ sách một cách hợp lý và khoa
học. Vì vậy tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được phản ánh trên
chứng từ kế toán. Việc quản lý doanh thu có hiệu quả, đầy đủ, chính xác cũng là
việc quản lý tốt kết quả kinh doanh.
Quản lý tốt chi phí kinh doanh chính là chìa khóa để có lợi nhuận cao. Hiện
nay, các doanh nghiệp quan tâm làm sai để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí
nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy, vai trò của kế toán chi phí càng trở nên quan
trọng, kế toán cần phát hiện và ngăn chặn những chi phí phát sinh bất hợp lý, những
chi phí không cần thiết gây lãng phí cho doanh nghiệp. Các chi phí cần được phản
ánh kịp thời, đúng, đủ tránh tình trạng thâm hụt, chi tiêu không có cơ sở.
1.2 Vai trò, ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán chi phí, doanh thu và kết quả
kinh doanh
1.2.1 Vai trò của kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
Nhìn trên phạm vi doanh nghiệp, tiêu thụ thành phẩm hay doanh thu bán hàng
là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Doanh thu
bán hàng thể hiện sức cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Nó là
cơ sở để đánh giá trình độ tổ chức quản lý hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Mặt khác nó cũng gián tiếp phản ánh trình độ tổ chức các khâu cung ứng,
sản xuất cũng như công tác dự trữ, bảo quản thành phẩm.
Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, bán hàng có một vai trò đặc biệt, nó vừa là
điều kiện đề tiến hành tái sản xuất xã hội vừa là cầu nối giữa nhà sản xuất với người
tiêu dùng, phản ánh sự khác nhau giữa cung và cầu về hàng hóa, qua đó định hướng
cho sản xuất, tiêu dùng và khả năng thanh toán.

Với một doanh nghiệp việc tăng nhanh quá trình bán hàng tức là tăng vòng


16

quay của vốn,tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó
sẽ nâng cao đời sống, thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước.
Trong doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để quản lý sản xuất và tiêu
thụ, thông qua số liệu của kế toán nói chung, kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết
quả kinh doanh nói riêng giúp cho doanh nghiệp và cấp có thẩm quyền đánh giá được
mức độ hoàn thành của doanh nghiệp về sản xuất, giá thành, tiêu thụ và lợi nhuận.
1.2.2 Ý nghĩa của kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá được tiêu thụ nhờ hoạt động thương
mại.Trong đó, doanh nghiệp thương mại đóng vai trò trung gian là cầu nối giữa sản
xuất và tiêu thụ, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp từ đó góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Như vậy việc tiêu thụ hàng hoá không chỉ có ý
nghĩa đối với các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, công tác bán hàng đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần lớn
lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán. Quá trình bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình SXKD, nó
có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vì quá trình này chuyển hoá
vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị '' tiền tệ '', giúp cho các doanh nghiệp
thu hồi vốn để tiếp tục quá trình SXKD tiếp theo.
Trong quá trình bán hàng, doanh nghiệp phải chi ra các khoản chi phí, đó là
tổng giá trị làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ dưới hình thức các khoản tiền đã chi
ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ
sở hữu. Đồng thời doanh nghiệp cũng thu được các khoản doanh thu và thu nhập

khác : là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
1.2.3. Nhiệm vụ của kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh


17

Mọi thông tin về tình hình tiêu thụ hàng hoá và kết quả tiêu thụ đều được kế
toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả thu thập, xử lý và cung cấp cho các nhà
quản lý, giúp cho các nhà quản lý đưa ra những phương án kinh doanh phù hợp,
kịp thời nhằm đạt được hiệu quả cao. Vì vậy kế toán doanh thu, chi phí và xác
định kết quả phải thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến
động của từng loại hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá
trị.
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, các
khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp. Đồng
thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng.
- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động.
- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và
định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng và xác định
kết quả.”
1.2.4 Các nguyên tắc kế toán liên quan kế toán doanh thu, chi phí và và xác
định kết quả kinh doanh.
- Nguyên tắc phù hợp: “ Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương
ứng có liên quan đến việc tạo doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm
chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả liên
quan đến doanh thu của kỳ đó”
Chi phí tướng ứng với doanh thu bao gồm’

+ Chi phi của kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí đã phát sinh thực tế trong
kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kỳ đó.
+ Chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả liên quan đến doanh thu của
kỳ đó.
Như vậy, chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên
quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi
phí đó được chi cho kỳ nào.


18

Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh
giá đúng kết quả kinh doanh của từng thời kỳ kế toán giúp cho các nhà quản trị có
những chiến lược đúng đắn và có hiệu quả.
- Nguyên tắc thận trọng: Nội dung của nguyên tắc thận trọng là phải xem xét,
cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều
kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu
được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hưũ phải
được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra.
Theo nguyên tắc thận trọng, kế toán cần:
+ Phải lập các khoản dự Phòng đúng nguyên tắc quy định, lập dự Phòng
không phản ánh cao hơn giá trị có thể thực hiện được. Do thực tế các khoản tổn thất
có thể đã phát sinh( hoặc nhiều khả năng đã phát sinh) nên cần phải lập dự Phòng
( trích vào chi phí để đảm bảo phù hợp giữa doanh thu và chi phí, đảm bảo tính
đúng kỳ của chi phí.
Lập dự Phòng còn đảm bảo doanh nghiệp không có sự biến động lớn về vốn
kinh doanh khi có tổn thất xảy ra.
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thu nhập
+ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí/
+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn.

+ Chi phí phải được ghi nhận khi có các bằng chứng về khả năng phát sinh chi
phí. Tuân thủ nguyên tắc thận trọng sẽ giúp doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn
chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tục.
- Nguyên tắc nhất quán:” Các chính sách và phương pháp kế toán doanh
nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình
lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính”.
Theo nguyên tắc nhất quán, các chính sách và phương pháp kế toán doanh
nghiệp đã chọn phải được áp dụng nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác. Chỉ nên thay
đổi chính sách và phương pháp kế toán khi có lý do đặc biệt và ít nhất phải sang kỳ


×