Tải bản đầy đủ (.docx) (137 trang)

luận văn thạc sĩ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần nhựa châu âu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.54 MB, 137 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---——²——---

LÝ THỊ HƯƠNG

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NHỰA CHÂU ÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2
HÀ NỘI - 2019BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---——²——---

LÝ THỊ HƯƠNG

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NHỰA CHÂU ÂU

Chuyên ngành : Kế toán
Mã số

: 60 34 03 01


LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN VIẾT TIẾN

HÀ NỘI - 2019


3
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần Nhựa Châu Âu” là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tác giả, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác; các tài liệu tham
khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trong công trình này được sử
dụng đúng quy định, không vi phạm quy chế bảo mật của Nhà nước. Tác giả xin cam
đoan những vấn đề nêu trên là đúng sự thật. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước pháp luật.
Tác giả luận văn

Lý Thị Hương


4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá
nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện

thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Viết Tiến đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách trọn vẹn và
hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ, nhân viên
Công ty cổ phần Nhựa Châu Âu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2019
Tác giả

Lý Thị Hương


5

MỤC LỤC

PHỤ LỤC


6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT
TẮT

NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ

TỪ VIẾT

TẮT

NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ

BCTC

Báo cáo tài chính

KPCĐ

Kinh phí công đoàn

BHXH

Bảo hiểm xã hội

NCTT

Nhân công trực tiếp

BHYT

Bảo hiểm y tế

NVL

Nguyên vật liệu

BHTN


Bảo hiểm thất nghiệp

NVLTT

Nguyên vật liệu trực tiếp

BTP

Bán thành phẩm

NSLĐ

Năng suất lao động

CKTM

Chiết khấu thương mại

PBCP

Phân bổ chi phí

DN

Doanh nghiệp

SCSPH

Sửa chữa sản phẩm hỏng


DNSX

Doanh nghiệp sản xuất

SXC

Sản xuất chung

GGHB

Giảm giá hàng bán

SXKD

Sản xuất kinh doanh

GTGT

Giá trị gia tăng

TC-KT

Tài chính – Kế toán

GVHB

Giá vốn hàng bán

TGĐ


Tổng giám đốc

HC-NS

Hành chính – nhân sự

TK

Tài khoản

HĐQT

Hội đồng quản trị

TSCĐ

Tài sản cố định

KKTX

Kê khai thường xuyên

VAS

Chuẩn mực kế toán Việt Nam

KKĐK

Kiểm kê định kỳ



7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 01: Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Sơ đồ 02: Quy trình tính giá thành theo phương án phân bước không tính giá bán thành phẩm
Sơ đồ 03: Quy trình tính giá thành theo phương án phân bước có tính giá bán thành phẩm
Sơ đồ 04: Quy trình sản xuất của Công ty
Sơ đồ 05: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 06: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Sơ đồ 07: Kế toán chi phí sản phẩm hỏng sửa chữa được ngoài định mức
Sơ đồ 08: Kế toán chi phí sản phẩm hỏng không sửa chữa được
Hình 1: Sổ chi tiết vật tư hàng hóa (Phụ lục số 06)
Hình 2: Bảng tổng hợp chi phí sản xuất nhà máy
Hình 3: Tổng hợp nhập xuất kho theo đối tượng tập hợp chi phí (Phụ lục số 30)
Hình 4: Bảng tổng hợp chi phí theo đối tượng tập hợp chi phí (Phụ lục số 31)
Hình 5: Bảng tính giá thành (Phụ lục số 32)
Hình 6: Hệ số quy đổi sản lượng tương đương
Hình 7: Khai báo định mức phân bổ chi phí theo đối tượng tập hợp chi phí
Hình 8: Bảng phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí


8

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế ngày càng phát triển cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh giữa các
DN ngày càng trở nên gay gắt. Các DN muốn tồn tại lâu dài và phát triển bền vững
thì không chỉ cần quan tâm đến tăng cường đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao
năng suất lao động mà còn cần phải chú trọng đến công tác quản trị chi phí sản xuất,

hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Kế
toán là một trong các công cụ quản lý kinh tế quan trọng phục vụ cho công tác quản
lý kinh tế ngày càng hoàn thiện. Để phục vụ cho công tác kế toán thì kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm là đối tượng không thể thiếu được trong quá trình
SXKD của một DN, đặc biệt là DN sản xuất. Cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản
phẩm là một yếu tố quan trọng để chiến thắng cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường. Do đó, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng đóng vai trò rất
quan trọng trong công tác quản trị của DN.
Với mức tăng trưởng từ 16-18% trong 5 năm trở lại đây, ngành nhựa hiện chỉ
đứng sau viễn thông và dệt may; và là ngành khá hấp dẫn nên ngày càng có nhiều
DN tham gia thị trường đã làm cho tình hình cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Hiện
nay, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất khẩu gần 160 thị trường trên thế giới, kể
cả những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, tiêu chuẩn kỹ thuật tối ưu như Nhật
Bản, Mỹ, Đức, EU. Trong số này, có 3 thị trường là Nhật Bản, EU và Mỹ đang là thị
trường chính của ngành nhựa Việt Nam. Theo đó, xuất khẩu sản phẩm nhựa sang thị
trường EU vẫn chiếm gần 25% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt
Nam trong năm 2015. Có những mặt hàng nhựa có tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%
trong giai đoạn 2010 - 2015. Với mức tăng trưởng như vậy, ngành nhựa được đánh
giá lá một trong những ngành năng động, mũi nhọn của Việt Nam. Đối với công ty
cổ phần Nhựa Châu Âu, hiện nay doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 70% tổng doanh
thu. Do đó, sự cạnh tranh gay gắt không chỉ đến từ các DN trong nước mà còn đến
từ những DN nước ngoài. Việc cung cấp thông tin trung thực, hợp lý, chi tiết, đầy
đủ, kịp thời về chi phí sản xuất, chi phí hoạt động, giá thành sản phẩm là một trong
những cơ sở đáng tin cậy giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định phù hợp về giá


9

bán, về định hướng phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực
cạnh tranh của DN.

Xuất phát từ thực tế đó và nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nên qua quá trình nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là đối tượng nghiên cứu
của rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các công trình này
cũng đã đề cập đến mọi góc độ cần nghiên cứu.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Lan Phương bảo vệ năm 2016 tại trường
Đại học Lao động – xã hội với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty cổ phần Đại Kim”. Về mặt lý luận, tác giả đã trình bày chi tiết
các vấn đề cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
DNSX dưới cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị như: khái niệm, bản
chất, mối quan hệ cũng như cách phân loại chi phí sản xuất, đối tượng và các
phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Về thực trạng,
qua nghiên cứu và phân tích các số liệu kế toán, tác giả thấy được những ưu điểm,
hạn chế trong công tác tổ chức bộ máy kế toán, công tác tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành các sản phẩm nhựa và mút xốp tại công ty cổ phần Đại Kim. Từ đó,
tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm nhựa và mút xốp tại công ty trên hai góc độ kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Trên góc độ kế toán tài chính là các giải pháp: tuân thủ chuẩn mực kế toán
Việt Nam số 02 về phân bổ chi phí SXC cố định vào chi phí chế biến mỗi sản phẩm
dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất; công tác tổ chức và luân
chuyển chứng từ; kế toán chi phí sản xuất với khoản trích trước chi phí sửa chữa lớn
TSCĐ và hoàn thiện hệ thống sổ sách và báo cáo liên quan tới chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm. Trên góc độ kế toán quản trị là các giải pháp: bổ sung cách
phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí; lập định mức chi phí và dự
toán chi phí có sự phối kết hợp với các phòng ban; hoàn thiện hệ thống báo cáo
quản trị.



10

Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Anh Công bảo vệ năm 2016 tại trường
Đại học Thương Mại với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xi măng tại Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch”. Tác giả đã chỉ ra rất chi
tiết và chặt chẽ những lý thuyết xung quanh vấn đề tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại DNSX. Cùng với đó là phân tích, đánh giá thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xi măng tại công ty xi măng Vicem
Hoàng Thạch và đưa ra các giải pháp cụ thể dưới góc độ kế toán tài chính như: hoàn
thiện nội dung, phương pháp xác định chi phí sản xuất và phương pháp tính giá
thành theo phương pháp tỷ lệ đối với từng loại xi măng; dưới góc độ kế toán quản
trị như: phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí hay mối quan hệ của chi phí
với mức độ hoạt động và đưa ra các mẫu báo cáo phân tích thông tin kế toán quản
trị chi phí sản xuất.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Tuyết bảo vệ năm 2016 tại trường Đại
học Thương Mại với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
Công ty may xuất khẩu SSV”. Về mặt lý luận, tác giả cũng đã đề cập đến lý luận cơ
bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cả dưới góc độ kế toán
tài chính và kế toán quản trị. Về mặt thực tiễn, tác giả khái quát thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại công ty may xuất khẩu
SSV, phân tích và nêu những vấn đề tồn tại trong cách hạch toán chi phí và phương
pháp tính giá thành sản phẩm may mặc. Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện dưới
góc độ kế toán tài chính như: bổ sung hạch toán trích trước thiệt hại ngừng sản xuất,
trích trước lương nghỉ phép cho công nhân sản xuất, kế toán về định phí SXC, tính
khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần đối với hệ thống máy may và kế
toán sản phẩm hỏng; dưới góc độ kế toán quản trị như: bổ sung cách phân loại chi
phí theo cách ứng xử của chi phí, hoàn thiện xây dựng định mức và lập dự toán chi
phí sản xuất, các mẫu báo cáo kế toán quản trị - Phiếu tính giá thành theo công việc,
báo cáo giá thành sản xuất, báo cáo phân tích chi phí.

Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải bảo vệ năm 2015 tại
trường Đại học Thương Mại với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH May Tinh Lợi”. Trong luận văn này tác giả
đã đề cập đến lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm


11

trong doanh nghiệp sản xuất cả dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Trong phần thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc
tại công ty TNHH May Tinh Lợi, tác giả cũng đã đề cập dưới góc độ kế toán tài
chính và kế toán quản trị. Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty dưới góc độ kế toán tài
chính: hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất về chi phí NVLTT, về trích trước tiền
lương của công nhân nghỉ phép, chi phí thiệt hại ngừng sản xuất, về việc phân bổ
chi phí không tách được cho mỗi đơn đặt hàng; dưới góc độ kế toán quản trị: hoàn
thiện tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình kết hợp kế toán tài chính và kế toán
quản trị, bổ sung phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động và theo
thẩm quyền ra quyết định.
Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy, Lê Đào Khánh Thu đăng
trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển số đặc biệt tháng 10/2013 với đề tài “Kế toán chi
phí sản xuất tại công ty cổ phần Nhựa – Bao bì Vinh: Thực trạng và giải pháp” đã
phân tích chi tiết thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành tại công ty cổ phần
Nhựa – Bao bì Vinh trên cả hai khía cạnh kế toán tài chính và kế toán quản trị, đồng
thời đề xuất các giải pháp một cách cụ thể, chi tiết giúp hoàn thiện kế toán chi phí
sản xuất và giá thành tại công ty, đặc biệt là các giải pháp gợi ý xây dựng mô hình
tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí và hệ thống định mức chi phí, lập dự toán
chi phí sản xuất phục vụ yêu cầu quản lý chi phí.
Qua các đề tài nghiên cứu này đã đưa ra các nội dung cơ bản của kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cả dưới góc độ kế toán tài chính và góc độ

kế toán quản trị, từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện dưới cả hai góc độ để
ứng dụng vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu khác nhau của từng đề tài.
Mặc dù vậy, theo tác giả được biết chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách
chuyên sâu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hạt nhựa tại công
ty cổ phần Nhựa Châu Âu. Vì vậy, có thể nói rằng đề tài “Kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu” là một đề tài không
trùng lặp với các đề tài khác.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài


12

Mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của luận văn là đề xuất các giải pháp hoàn
thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu
Âu để có thể cung cấp thông tin chi phí hữu ích, đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ
yêu cầu quản lý và việc ra quyết định của công ty trong bối cảnh hiện nay.
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tác giả xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp.
- Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu, đối chiếu với những lý luận chung về kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp để từ đó
đánh giá, nhận xét thực trạng phần hành kế toán này.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu, đồng thời đưa ra các điều kiện để thực
hiện các giải pháp đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài không nghiên cứu toàn bộ công tác kế toán mà
chỉ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu trong
khoảng thời gian từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2018 và đề xuất giải pháp cho các
năm tiếp theo.
5. Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong DN sản xuất công
nghiệp dựa trên lý luận nào?
- Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ
phần Nhựa Châu Âu thực hiện như thế nào, có tuân theo hướng dẫn của các quy
định hiện hành không, có đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trị không,
có những vấn đề gì tồn tại cần khắc phục không?
- Cần có những giải pháp, khuyến nghị gì để hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu không?
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài


13

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp định tính với
phương pháp cụ thể là thu thập dữ liệu và xử lý, phân tích dữ liệu.
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Đối với dữ liệu thứ cấp, luận văn tìm kiếm nguồn dữ liệu dựa trên cơ sở
phương pháp nghiên cứu tài liệu, cụ thể:
+ Luận văn nghiên cứu tài liệu sẵn có về các quy định pháp lý (các chuẩn
mực kế toán Việt Nam, các thông tư hướng dẫn, chế độ kế toán Việt Nam, các văn
bản pháp lý quy định những vấn đề có liên quan tới đề tài nghiên cứu …) nhằm có
được những kiến thức lý luận chung về vấn đề cần nghiên cứu.
+ Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu những tài liệu liên quan khác như: các

luận án, luận văn, sách, báo, tạp chí, website nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan
đến đề tài nghiên cứu cũng như tìm ra khoảng trống cần nghiên cứu.
+ Ngoài ra, luận văn nghiên cứu những tài liệu liên quan đến kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu như: chứng từ kế
toán, các sổ sách kế toán liên quan và các bảng tính giá thành, báo cáo liên quan
nhằm thu thập các thông tin cần thiết.
- Đối với dữ liệu sơ cấp, luận văn tìm kiếm nguồn dữ liệu dựa trên phương
pháp phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin về kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu. Đối tượng phỏng vấn được chia
làm 3 đối tượng với mục đích thu thập thông tin khác nhau:
+ Phỏng vấn Ban lãnh đạo công ty: là những nhà quản lý của công ty để thu
thập thông tin về định hướng phát triển công ty cũng như các yêu cầu đối với thông
tin về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
+ Phỏng vấn các nhân viên kỹ thuật sản xuất của công ty: là những người
phụ trách về quy trình công nghệ sản xuất, đặc tính của sản phẩm để thu thập thông
tin về quá trình sản xuất sản phẩm thực tế.
+ Phỏng vấn nhân viên kế toán, phụ trách bộ phận kế toán, kế toán tổng hợp
– những người tạo ra thông tin kế toán để thu thập thông tin về thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty.
Tác giả đã sử dụng giấy bút để ghi chép lại cuộc phỏng vấn làm tư liệu sử
dụng trong việc viết luận văn này.
Phương pháp xử lý dữ liệu:
Với những thông tin thu thập được, để xử lý phục vụ cho quá trình nghiên
cứu, có nhiều phương pháp được sử dụng kết hợp như: phương pháp tổng hợp, phân
tích, thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu.


14

Trên cơ sở các tài liệu và những câu trả lời phỏng vấn thu thập được, luận

văn sẽ tổng hợp lại, sử dụng phương pháp phân tích để đánh giá thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty, so sánh đối chiếu giữa thực trạng
vận dụng của công ty và các quy định hiện hành có liên quan để có những nhận
định làm cơ sở cho các đề xuất.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu
thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
công ty cổ phần Nhựa Châu Âu
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu


15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT CÔNG NGHIỆP
1.1. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong DN
sản xuất công nghiệp
1.1.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Bất kỳ một DN nào, để tiến hành hoạt động SXKD đều phải có đủ ba yếu tố
cơ bản đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản
xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ.
Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình SXKD đã tạo ra các chi phí tương ứng,
đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về lao
động sống. Trên phương diện này, chi phí sản xuất được hiểu là toàn bộ các hao phí

về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã chi ra
trong quá trình sản xuất, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
Ngoài khái niệm chi phí sản xuất nêu trên, còn rất nhiều khái niệm chi phí
sản xuất theo các quan điểm khác nhau.
Trên góc độ kế toán tài chính, chí phí được coi như là một khoản phí tổn thực
tế phát sinh gắn với hoạt động của DN để đạt được một mục đích cụ thể trong kinh
doanh. Chi phí sản xuất hay chi phí chế tạo sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí
liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất. Nó
được định lượng bằng một sự giảm sút về giá trị tài sản hoặc sự gia tăng một khoản
nợ phải trả, kết quả làm cho vốn chủ sở hữu giảm xuống nhưng không phải do phân
phối vốn cho các chủ sở hữu.
Trên góc độ kế toán quản trị, với mục đích cung cấp thông tin chi phí thích
hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản lý, chi phí được hiểu
theo nhiều hướng, nhiều cách khác nhau. Theo đó, chi phí có thể là dòng phí tổn
thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết
định; cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện những dự án, những phí tổn
mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Như vậy, chi phí có thể
đã thực tế phát sinh, cũng có thể chưa phát sinh mà mới chỉ ước tính.


16

Tuy nhiên, để quản lý chi phí một cách có hiệu quả cần phải nắm vững được
bản chất của chi phí. Chi phí luôn có tính chất cá biệt, bao gồm tất cả các chi phí mà
DN đã bỏ ra để tồn tại và để tiến hành hoạt động của mình, bất kể đó là chi phí cần
thiết hay không cần thiết. Chi phí của DN luôn mang tính hai mặt, một mặt chi phí
có tính khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà DN đã bỏ ra vào giá
trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không lệ thuộc
vào ý muốn chủ quan của con người. Mặt khác, hao phí về các yếu tố trong quá
trình SXKD của DN có thể lại mang tính chủ quan, nó phụ thuộc vào phương pháp

tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của từng DN. Bản chất của chi phí
sản xuất là sự dịch chuyển các yếu tố của quá trình sản xuất trong kỳ vào giá trị sản
phẩm. Về mặt lượng, chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố: khối lượng sức lao
động và tư liệu sản xuất; giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một
đơn vị lao động đã hao phí bỏ ra trong kỳ sản xuất.
Để xác định được đầy đủ, chính xác chi phí cần phải xem xét và phân biệt
được sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu của DN. Chi tiêu của DN là sự chi ra, sự
giảm đi thuần túy của tài sản DN không kể các khoản đó dùng vào việc gì và dùng
như thế nào. Như vậy, giữa chi tiêu và chi phí của DN có mối quan hệ mật thiết với
nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh.
Sự khác nhau về lượng: Mặc dù chi tiêu là cơ sở của chi phí song chi phí của
DN sẽ không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm một tài sản này nhưng làm tăng một tài sản
khác hoặc làm giảm một khoản nợ phải trả trong DN.
- Các khoản chi tiêu làm tăng một khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm
tăng một tài sản hoặc giảm một khoản nợ phải trả khác của DN.
Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng
khoản nợ phải trả nhưng không kèm theo các biến động khác.
Sự khác nhau về thời gian: Do có sự không phù hợp giữa thời gian phát sinh
các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của DN.
- Khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ phân bổ ở kỳ sau (chi phí trả
trước)


17

- Khoản được tính vào chi phí của kỳ này (chi phí phải trả) nhưng chưa được
chi tiêu (sẽ chi ở các kỳ sau).
1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
a. Phân loại theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí

Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế mà không
xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Theo
quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào SXKD (loại trừ giá
trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình SXKD trong kỳ
(trừ số không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số
tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên;
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ: phản ánh phần BHXH,
BHYT, BHTN, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp
lương phải trả công nhân viên;
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ;
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào SXKD trong kỳ;
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ.
b. Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng chi phí và quản lý giá thành
Theo cách phân loại này thì những chi phí có công dụng như nhau sẽ được
xếp vào một yếu tố, bao gồm:
- Chi phí NVLTT là biểu hiện bằng tiền những NVL chủ yếu tạo thành thực
thể vật chất của sản phẩm và NVL có tác dụng phụ thuộc, nó kết hợp với NVL
chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc làm tăng chất lượng của sản phẩm, hoặc tạo ra
màu sắc, mùi vị cho sản phẩm, hoặc rút ngắn quy trình sản xuất sản phẩm.


18


- Chi phí NCTT là tiền lương chính, phụ cấp, các khoản trích theo lương
(BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản phải trả khác cho công nhân trực tiếp
sản xuất.
- Chi phí SXC là những chi phí để sản xuất ra sản phẩm nhưng không kể chi
phí NVLTT và chi phí NCTT. Chi phí SXC bao gồm chi phí NVL gián tiếp, chi phí
nhân công gián tiếp, chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng trong sản xuất, quản lý sản
xuất, chi phí sửa chữa, bảo trì, chi phí quản lý phân xưởng…
Trong hoạt động sản xuất, sự kết hợp các chi phí trên tạo thành những loại
chi phí khác nhau:
Kết hợp giữa chi phí NVLTT với chi phí NCTT được gọi là chi phí ban đầu,
thể hiện chi phí chủ yếu cần thiết khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.
Kết hợp giữa chi phí NCTT và chi phí SXC được gọi là chi phí chuyển đổi,
chi phí chế biến, thể hiện chi phí cần thiết chuyển NVL thành sản phẩm.
b. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoàn thành
Đây là phương pháp phân loại chi phí được sử dụng nhiều trong kế toán quản
trị chi phí sản xuất. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành:
- Chi phí biến đổi (Biến phí) là chi phí mà tổng số của nó sẽ biến động khi
mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp. Chi phí biến đổi có sự thay đổi
về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất
trong kỳ.
- Chi phí cố định (Định phí) là những chi phí mà tổng số của nó không thay
đổi hoặc rất ít thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong một phạm vi phù hợp.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố của chi
phí cố định và chi phí biến đổi. Trong một giới hạn nhất định, chi phí hỗn hợp thể
hiện đặc điểm của chi phí cố định nhưng vượt qua giới hạn đó, chi phí hỗn hợp thể
hiện đặc điểm của chi phí biến đổi.
1.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Xuất phát từ mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường, mọi sản phẩm khi được tạo ra luôn được các DN quan tâm đến hiệu quả

nó mang lại. Để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm tốn bao nhiêu chi phí, các loại


19

chi phí và tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng để giảm các loại chi phí này. Chỉ tiêu
thỏa mãn được những thông tin mang nội dung trên chính là giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, có nhiều khái niệm về giá thành sản phẩm.
Theo giáo trình kế toán tài chính (Học viện tài chính, 2013, trang 289): “Giá
thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống,
lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối
lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định”.
Theo sách kế toán chi phí (Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 2013,
trang 24): “Giá thành là toàn bộ hao phí lao động vật hóa (NVL, nhiên liệu, động
lực, khấu hao TSCĐ và công cụ nhỏ) và lao động sống trong sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, quản lý kinh doanh, được tính bằng tiền cho một sản phẩm, một đơn vị công
việc, hoặc một dịch vụ sau một thời kỳ, thường là đến ngày cuối tháng”.
Theo giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp (Đại học Kinh tế
Quốc dân, 2013, trang 95): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối
lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành”.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa
mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Trong hệ thống các chỉ
tiêu quản lý của DN, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết
quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình SXKD, cũng như tính đúng đắn của
những giải pháp quản lý mà DN đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chi phí,
tăng cao lợi nhuận.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
a. Phân loại giá thành theo thời điểm xác định giá thành
Đối với DNSX, giá thành được chia thành 3 loại:

- Giá thành kế hoạch: là giá thành được tính trước khi bắt đầu SXKD cho
tổng sản phẩm kế hoạch dựa trên chi phí định mức của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức: là giá thành được tính trước khi bắt đầu SXKD cho
một đơn vị sản phẩm dựa trên chi phí định mức của kỳ kế hoạch.
Giá thành kế hoạch và giá thành định mức có mối quan hệ với nhau như sau:
Giá thành

=

Giá thành

x

Tổng sản phẩm


20

kế hoạch

định mức

theo kế hoạch

- Giá thành thực tế: là giá thành được xác định sau khi đã hoàn thành việc
chế tạo sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh và kết quả SXKD thực tế
đạt được.
b. Phân loại giá thành theo nội dung kinh tế cấu thành giá thành
Giá thành sản phẩm được chia thành 2 loại là giá thành sản xuất và giá thành
toàn bộ.

Giá thành sản xuất là toàn bộ chi phí sản xuất có liên quan đến khối lượng
công việc, sản phẩm hoàn thành. Đối với DNSX, giá thành sản xuất gồm 3 khoản
mục chi phí: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC.
Giá thành toàn bộ là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến một khối lượng
sản phẩm hoàn thành từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ xong sản phẩm. Giá thành
toàn bộ còn gọi là giá thành đầy đủ và được tính như sau:
Giá thành toàn bộ
(Giá thành tiêu thụ)

=

Giá thành
sản xuất

+

Chi phí ngoài
sản xuất

1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện
hai mặt của quá trình SXKD. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng
tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà DN đã bỏ ra, nhưng
khác nhau về mặt lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng một
thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay
chưa, còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định một lượng chi phí
sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là
một quá trình hoạt động liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một
điểm cắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ,

dịch vụ hoàn thành. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau trong quá trình sản xuất sản phẩm và được thể hiện qua sơ đồ sau:

Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ


21

Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành

Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Sơ đồ 01: Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất
của kỳ trước chuyển sang và một phần của chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Giá thành sản xuất
sản phẩm

=

CPSX dở
dang đầu kỳ

+

CPSX phát
sinh trong kỳ




CPSX dở
dang cuối kỳ

Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí
tính vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm
tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của chế độ quản
lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm và quy định đó
đôi khi không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm,
đòi hỏi các nhà quản trị DN cần phải nhận thức rõ ràng đầy đủ dể sử dụng thông tin
cho thích hợp.
1.2. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong DN sản xuất
công nghiệp
1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của DN có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau, liên
quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm khác nhau, lao vụ khác nhau. Để
phục vụ cho tính giá thành và xác định chi phí phục vụ cho việc ra quyết định cần
phải xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Thực chất của việc xác định
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ
phận sản xuất, giai đoạn công nghệ...) hoặc đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn
đặt hàng...).
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trước hết các nhà quản trị
phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức SXKD, quản lý SXKD, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản
phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của DN. Tùy thuộc vào đặc điểm tình
hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong các DN có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.



22

- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn DN.
Các chi phí phát sinh, sau khi đã được xác định theo các đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối
tượng đã xác định.
1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập
hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng
tập hợp chi phí đã xác định. Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi
phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở
các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối
tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó.
1.2.2.1. Phương pháp tập hợp trực tiếp
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trực
tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chi phí
phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng
đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định
sẽ được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách
cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống TK, hệ thống sổ kế
toán... theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, chỉ có như vậy mới đảm
bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp
thời và đầy đủ.
1.2.2.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi
phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán
không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó.
Theo phương pháp này, trước tiên căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toán

tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm
phát sinh hoặc nội dung chi phí. Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải
lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối


23

tượng liên quan. Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành
theo hai bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
H =

C
T

Trong đó: H: hệ số PBCP
C: là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T: tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần PBCP
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti
Trong đó: Ci: phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để PBCP của đối tượng i.
Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ (còn được gọi là đơn vị công) được
lựa chọn tùy vào từng trường hợp cụ thể. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về
chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.
Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo
từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo
từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí
cần phân bổ. Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào đặc thù cụ thể của
từng DN.

1.3. Kế toán chi phí sản xuất trong DN sản xuất công nghiệp dưới góc độ kế
toán tài chính
1.3.1. Kế toán chi phí sản xuất theo hướng dẫn của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Để phản ánh trung thực chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm điều đầu tiên
DN phải thực hiện là tuân thủ các nguyên tắc theo VAS số 01 – “Chuẩn mực
chung” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31
tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Đặc biệt là các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Theo nguyên tắc này, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài
chính của DN liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí
phải được ghi nhận vào sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ
vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền và các khoản tương đương tiền.


24

Nguyên tắc hoạt động liên tục: BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là
DN đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong
tương lai gần. Nguyên tắc này đảm bảo cho việc ghi nhận chi phí và giá thành sản
phẩm được liên tục và có thể xác định được chi phí tại bất cứ thời điểm nào.
Nguyên tắc giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản
được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị
hợp lý của tài sản tại thời điểm ghi nhận. Trong chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm, giá gốc được thể hiện qua việc xác định giá gốc của hàng tồn kho xuất dùng
cho quá trình sản xuất và giá gốc của TSCĐ dùng trong quá trình sản xuất.
Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán DN đã chọn
phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Theo đó, trong chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm nguyên tắc này được biểu hiện qua việc DN lựa
chọn phương pháp xác định trị giá xuất của hàng tồn kho và phương pháp tính giá
thành sản phẩm hoàn thành.
Ngoài việc áp dụng chuẩn mực chung, kế toán chi phí sản xuất và giá thành

sản phẩm đặc biệt chú ý tuân thủ VAS số 02 – “Hàng tồn kho” (Ban hành và công
bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ
trưởng Bộ tài chính). Chuẩn mực này ảnh hưởng đến việc xác định chi phí hàng tồn
kho trong chi phí sản xuất có đúng hay không và việc phân bổ chi đó vào trong giá
thành sản phẩm có phù hợp hay không. Để đảm bảo chuẩn mực này được áp dụng
phù hợp, kế toán cần xác định các chỉ tiêu sau:
HTK được xác định theo giá gốc. Chi phí không được tính vào giá gốc hàng
tồn kho, gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản
xuất khác phát sinh trên mức bình thường; Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các
khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo.
Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo
giá trị thuần có thể thực hiện được.
Chi phí SXC cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm
được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất bình thường
là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình
thường. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình


25

thường thì chi phí SXC cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí
thực tế phát sinh. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất
bình thường thì chi phí SXC cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí SXC không phân
bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Chi phí SXC biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị
sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Ngoài ra, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần tuân thủ VAS số
03 – “TSCĐ hữu hình”, VAS số 04 – “TSCĐ vô hình” (Ban hành và công bố theo
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài

chính) và VAS số 06 – “Thuê tài sản” (Ban hành và công bố theo Quyết định số
165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Theo
đó: Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào CPSX trong kỳ, trừ khi chúng
được tính vào giá trị của các tài sản khác như: khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho
các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên
giá TSCĐ vô hình, hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây
dựng hoặc tự chế các tài sản khác.
1.3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo quy định của chế độ kế toán DN (ban hành
theo thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành ngày
22/12/2014)
1.3.2.1. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX.
a. Kế toán chi phí NVLTT
Chi phí NVLTT bao gồm các khoản chi phí về NVL chính, nửa thành phẩm
mua ngoài, vật liệu phụ ... sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm
hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Chi phí NVLTT thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm của các DN. Chi phí NVLTT thường được quản lý theo các định
mức chi phí do DN xây dựng. Chi phí NVLTT thực tế trong kỳ được xác định căn
cứ vào các yếu tố sau:
- Trị giá NVLTT xuất dùng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc
thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong kỳ. Bộ phận giá trị NVLTT xuất dùng thường


×