Tải bản đầy đủ (.doc) (130 trang)

GIÁO dục HƯỚNG NGHIỆP CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN HOÀI đức THÀNH PHỐ hà nội THEO ĐỊNH HƯƠNG đổi mới GIÁO dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (856.54 KB, 130 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào.

Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả

Trịnh Thị Thanh Hằng

i


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lời biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau
đại học, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo, cùng các em học sinh
các trường THPT huyện Hoài Đức - Hà Nội đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tác
giả trong quá trình làm luận văn này.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Viết
Vượng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hồn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,
bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ cùng tác giả.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả

Trịnh Thị Thanh Hằng

ii



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CBQL

: Cán bộ quản lý

CMHS

: Cha mẹ học sinh

CNH - HĐH

: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

CNTT

: Cơng nghệ thơng tin

CSVC

: Cơ sở vật chất

DH

: Dạy học

ĐH, CĐ

: Đại học, Cao đẳng


GD

: Giáo dục

GD&ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

GDHN

: Giáo dục hướng nghiệp

GDPT

: Giáo dục phổ thông

GV

: Giáo viên

GVCN

: Giáo viên chủ nhiệm

HĐGD

: Hoạt động giáo dục

HĐGDHN


: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp

HN

: Hướng nghiệp

HS

: Học sinh

NGLL

: Ngoài giờ lên lớp

PPDH

: Phương pháp dạy học

QTDH

: Quá trình dạy học

QTGD

: Quá trình giáo dục

SGK

: Sách giáo khoa


TBDH

: Thiết bị dạy học

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

iii


MỤC LỤC
Trang
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp..........................................................................94
3.4. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp...................................95

Kết luận chương 3.........................................................................100
1. Kết luận..................................................................................................................101
2. Khuyến nghị...........................................................................................................102

iv


DANH MỤC BẢNG BIỂU
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp..........................................................................94
3.4. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp...................................95


Kết luận chương 3.........................................................................100
1. Kết luận..................................................................................................................101
2. Khuyến nghị...........................................................................................................102

v


DANH MỤC BIỂU
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp..........................................................................94
3.4. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp...................................95

Kết luận chương 3.........................................................................100
1. Kết luận..................................................................................................................101
2. Khuyến nghị...........................................................................................................102

vi


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Vào giữa thế kỷ XIX ở Pháp q trình cơng nghiệp hóa phát triển rất
nhanh, hệ thống nghề nghiệp trở nên đa dạng, cùng với xu hướng chun
mơn hóa sâu trong sản xuất đã tạo nên sự khác biệt so với các giai đoạn sản
xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp trước đây. Người ta đã nhận thấy tính
cấp thiết của việc hướng dẫn học sinh đi vào “thế giới nghề nghiệp” nhằm sử
dụng lực lượng lao động có hiệu quả hơn, từ đây đã xuất hiện cuốn sách
“Hướng nghiệp chọn nghề” [1] cho học sinh.
Năm 1883, ở Mỹ nhà tâm lý học Ganton Ph. đã cho ra đời cơng trình

nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp, đã đề xuất sử dụng phương pháp trắc
nghiệm (TEST) với mục đích giúp học sinh chọn nghề.
Đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở
dịch vụ hướng nghiệp. Đặc biệt vào năm 1908 Pason F. giảng viên trường
Đại học Tổng hợp Garvared (Mỹ) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“Hướng nghiệp” và đã thành lập ở Boston Hội đồng nghề nghiệp giúp cho
người lao động chọn được nghề phù hợp [14].
Năm 1897 ở Nga ra mắt cuốn sách về hướng nghiệp: “Lựa chọn khoa
qua chương trình đại học tổng hợp” của Kpeev B. F. trong đó nêu rõ ý nghĩa
của việc chọn nghề trước khi quyết định dự thi vào trường đại học.
Trong những năm 1960 - 1970 ở Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức)
các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, Gehart,
Duismamn đã có những cơng trình nghiên cứu về: “phương thức tổ chức cho
học sinh phổ thông thực hành ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh
doanh dịch vụ” [14].
Cũng vào thời gian này ở Cộng hịa Dân chủ Đức (Đơng Đức) các nhà
khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Giáo dục, như: Heiz Frankiewiez,
1


Bernd Rothe, Ulrich Viets, Germer B., Jaritr K., Marschneider D. đã có các
cơng trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động
dạy nghề cho HS. Các tác giả đưa ra phương thức: “phối hợp chặt chẽ giữa
trung tâm giáo dục KTTH và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch
thực hành cho HSPT” [14, tr. 197], đã phân tích nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp cho học sinh.
Allan Walker người Australia trong cơng trình: “Một số vấn đề quản
lý giáo dục ở Australia” đã nhận thấy: “Nhà trường không chỉ là nơi dạy lý
thuyết mà phải là nơi hình thành cho học sinh kỹ năng lao động” [24], tác
giả đã trình bày vấn đề quản lý hoạt động dạy nghề phổ thơng cho học sinh

dưới góc độ quản lý và tổ chức quá trình dạy học.
Tác giả Magumi Nishino người Nhật Bản đã yêu cầu “phải bồi dưỡng
tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có
thái độ tơn trọng đối với lao động và khả năng chọn ngành nghề tương lai
phù hợp với mỗi cá nhân” [24].
Năm 1996 Jacques Delos Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế về khoa học và
giáo dục (UNESCO) đã khẳng định giáo dục thế kỷ XXI là: “Học để biết,
học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định” đó là bốn cột trụ
của giáo dục, ông nhấn mạnh: “Học sinh phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ
hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia hoạt động nghề nghiệp
song song với việc học văn hóa, khoa học” [1].
1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, GDHN cho học sinh
phổ thông cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau, có thể kể đến các tác giả như: Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc,
Nguyễn Văn Hộ, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi,
Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Đức Trí...

2


Tác giả Phạm Minh Hạc trong các tác phẩm của mình đã phân tích
tình hình giáo dục - đào tạo nước ta và phương hướng đổi mới giáo dục - đào
tạo, đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là “Nền giáo
dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ” [17], trong
đó chú ý: “Ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp” [17].
Tác giả Phạm Tất Dong đã có các cơng trình nghiên cứu như: Cơ sở lý
luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp; Hứng thú nghề nghiệp; Những
vấn đề về nội dung, phương pháp hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên…
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với cơng trình “Thiết lập và phát triển hệ

thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [20] đã xây dựng luận chứng
phát triển hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ
sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh
phổ thông.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền trong cơng
trình: “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” [21]
đã đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của GDHN, việc tổ chức các hoạt
động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong nhà trường THPT và xây dựng
hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức giáo dục kỹ thuật
trong trường THPT.
Một hướng nghiên cứu khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn
Viết Sự cùng cộng sự thực hiện về: Động cơ chọn nghề; Hứng thú chọn
nghề; Khả năng thích ứng nghề của học sinh học nghề; Tuổi trẻ và nghề
nghiệp [1]; Đặc điểm tâm sinh lý người lao động của một số nghề dùng làm
tài liệu hướng nghiệp cho học sinh các trường phổ thông.
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “GDHN vừa là một vấn đề cơ bản,
vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông”, “GDHN phải được
quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường. Đó khơng chỉ là nhiệm vụ
3


của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các
cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội” [3, tr. 35].
Tác giả Nguyễn Như Ất đã nghiên cứu: “Vấn đề phương pháp luận
xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam” [3], xác định
lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN.
Các tác giả Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Quang Huỳnh đã đề cập một
loạt vấn đề bức xúc của GDHN, vấn đề phân luồng học sinh phổ thông sau
trung học, sự cần thiết phải có GDHN, cơ sở tâm lý học của GDHN. Các tác

giả đã nêu bật vai trò của GDHN với chức năng định hướng vào việc rèn
luyện năng lực thực hiện cho người lao động [1], [2].
Các tác giả Hà Thế Truyền, Nguyễn Văn Lê, Bùi Văn Quân đã nghiên
cứu sâu và trên bình diện rộng vào nội dung: ”Hướng nghiệp qua hoạt động
dạy học các môn học cơ bản ở trường phổ thơng” trong Chương trình khoa
học công nghệ cấp Nhà nước KX05 - Đề tài KX - 05 -09. Theo đó, các tác
giả đã khẳng định: “Biết quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong các mơn
học thì chất lượng giảng dạy và học tập sẽ được nâng cao” [26].
Cơng trình “GDHN ở trường phổ thơng trong giai đoạn hiện nay” của
tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã đi sâu nghiên cứu về việc cần thiết phải đổi
mới GDHN trong trường phổ thông và đã nhấn mạnh: “GDHN là q trình
dạy học có chủ đích, phục vụ mục tiêu làm thay đổi một cách lâu bền vị thế
của người học để họ có thể hồn thành các yêu cầu nghề nghiệp”. [9]
Tóm lại, trên thế giới và trong nước đã có nhiều cơng trình nghiên cứu
về GDHN cho HS, dưới các hình thức và cách gọi khác nhau các cơng trình
nghiên cứu đều nhằm chuẩn bị cho học sinh trung học chọn nghề để dễ dàng
hòa nhập với cuộc sống lao động trong tương lai.
Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu về GDHN cho học
sinh theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay.

4


2. Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiệp là quá trình giáo dục, định hướng chọn nghề
cho học sinh, nhằm giúp các em có những hiểu biết về thị trường lao động,
về đặc điểm của các ngành, nghề chuyên mơn trong xã hội và từ đó quyết
định lựa chọn một nghề phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản
thân. Chọn được một nghề phù hợp sẽ đem lại nguồn sống hạnh phúc cho
mỗi cá nhân và đồng thời giúp cho xã hội hình thành một nguồn nhân lực có

chất lượng, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và
cơng nghệ.
Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa, trong bối cảnh khoa học - cơng nghệ thế giới phát triển nhanh như vũ
bão. Sự phát triển của kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu mới cho
nền giáo dục Việt Nam phải đào tạo một lớp người có khả năng làm chủ
được khoa học – kỹ thuật hiện đại, do vậy phải hướng vào “phát triển năng
lực cho người lao động”, nhằm “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”
cho đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khố XI về
đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh phân
luồng sau trung học cơ sở, định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thơng”,
“Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có kiến thức
phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở,
trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học
sau phổ thơng có chất lượng”[24].
Tuy vậy, hiện nay vấn đề giáo dục hướng nghiệp chưa được các
trường THPT quan tâm đúng mức, hoặc nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức
triển khai, phổ biến tuyên truyền bằng văn bản, chưa đi sâu nhiều vào tìm
hiểu tình hình thực tế, nhu cầu của xã hội để đưa ra các biện pháp cụ thể
trong việc hướng nghiệp cho học sinh. Thực tế này xuất phát từ nhiều

5


nguyên nhân: nhận thức của cán bộ quản lý các cấp và giáo viên về giáo dục
hướng nghiệp còn hạn chế, học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn
nghề nghiệp... Điều đó ảnh hưởng khơng nhỏ đến tỉ lệ học sinh sau tốt
nghiệp THPT không xác định được năng lực cá nhân để học tiếp trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học hay trực tiếp đi vào cuộc sống dẫn đến hậu

quả lãng phí thời gian, tiền của và các cơ hội lập nghiệp của bản thân, gia
đình và xã hội.
Đặc biệt trong năm qua, kỳ thi THPT quốc gia đã mang lại hiệu quả
nhất định trong công tác tuyển chọn nguồn nhân lực chất lượng cao, bên
cạnh đó đã có khơng ít bất cập, nhất là công tác tư vấn tuyển sinh, hướng
nghiệp cho HS gặp khó khăn, thậm chí cịn bị sao nhãng gây ảnh hưởng đến
dự định nghề nghiệp tương lai của các em. Rất nhiều HS hoang mang và lo
sợ khi chính ngành nghề mà các em định chọn lại có thể bị trượt bởi trong
hoàn cảnh các em phải chạy đua theo các trường để nộp hồ sơ tuyển sinh,
dẫn đến nghề mình muốn thì khơng đỗ. Khơng kể đến các em còn nhận thức
sai về nghề nghiệp tương lai, một số chỉ biết phải đỗ vào đại học, còn học
trường nào cũng được dẫn đến hồ sơ nộp vào bất kỳ trường nào miễn là đủ
điểm tuyển. Tình trạng như vậy nếu vẫn tiếp diễn xảy ra sẽ dẫn đến mục đích
và động cơ học tập khơng đúng, mơ hồ về tương lai, làm tốn công sức và tiền
của của gia đình và xã hội. Vì vậy, trước kỳ thi THPT quốc gia như hiện nay,
hoạt động giáo dục, hướng nghiệp được xem là vấn đề cấp thiết giúp cho các
em có cơ sở lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực, sở trường, tránh
lãng phí về nguồn nhân lực sau đào tạo.
Hoài Đức là huyện ngoại thành Hà Nội, có tiềm năng kinh tế, đời sống
của người dân ngày một nâng cao. Chất lượng giáo dục trong các nhà trường
luôn giành được kết quả cao. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong các trường THPT trên địa bàn huyện còn nhiều hạn chế, bất cập. Để
thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, Hồi Đức
cần có nguồn nhân lực dồi dào, đồng bộ và có chất lượng. Vì vậy, giáo dục
6


hướng nghiệp cho HS theo định hướng đổi mới giáo dục là một nhiệm vụ
quan trọng trong các trường THPT.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh THPT Huyện Hoài Đức – Hà Nội theo định hướng
đổi mới giáo dục” làm ln văn cao học của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng GDHN cho học
sinh ở các trường THPT, luận văn có mục đích đề xuất các biện pháp GDHN
cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Hoài Đức – Hà Nội theo
định hướng đổi mới giáo dục.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN cho học sinh ở các trường THPT theo định hướng
đổi mới giáo dục.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDHN cho học sinh các trường THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục.
5. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động GDHN cho học sinh THPT ở 4
trường: Trường THPT Hoài Đức A, Trường THPT Hoài Đức B, Trường
THPT Vạn Xn, Trường THPT Bình Minh của huyện Hồi Đức – Hà Nội.
Các số liệu được khảo sát trong thời gian 3 năm trở lại đây (năm học
2012 – 2013 đến năm học 2014 – 2015).
6. Giả thuyết khoa học
Việc chọn nghề của đa số học sinh ở các trường THPT huyện Hoài
Đức – Hà Nội chủ yếu dựa vào cảm tính, theo phong trào, do nhà trường
chưa làm tốt cơng tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Nếu các trường
7


THPT trên địa bàn huyện Hoài Đức áp dụng các biện pháp giáo dục theo
định hướng đổi mới giáo dục do tác giả đề xuất một cách đồng bộ, phù hợp
với tình hình thực tế hiện nay thì sẽ nâng cao được hiệu quả của công tác

giáo dục hướng nghiệp, góp phần chuẩn bị tốt nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của địa phương và xã hội.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT theo định
hướng đổi mới giáo dục
7.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN cho học sinh THPT huyện
Hoài Đức – Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục
7.3. Đề xuất và khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi của các biện
pháp GDHN cho học sinh THPT huyện Hoài Đức – Hà Nội theo định hướng
đổi mới giáo dục
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ
thống hố các tài liệu văn bản khoa học để làm lịch sử nghiên cứu vấn đề và
xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động giáo dục hướng
nghiệp của giáo viên và học sinh ở các trường THPT.
- Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thực trạng
GDHN cho học sinh THPT.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: thơng qua phân tích đánh giá kết
quả GDHN cho học sinh THPT.

8


- Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến các chuyên gia, các nhà giáo có
kinh nghiệm về GDHN để đề xuất các biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh THPT theo định hướng đổi mới giáo dục.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GDHN qua các năm trước đây.

8.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ
Đề tài sử dụng các cơng thức tốn thống kê và phần mềm máy tính để
xử lý số liệu điều tra và kết quả nghiên cứu.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT theo định
hướng đổi mới giáo dục
Chương 2: Thực trạng GDHN cho học sinh THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục
Chương 3: Biện pháp GDHN cho học sinh THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục

9


Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1.1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Nghề nghiệp
Theo từ điển tiếng Việt, nghề nghiệp là:“công việc chuyên môn làm
theo sự phân công lao động của xã hội” [30].
Theo ngôn ngữ chung, nghề nghiệp được hình thành bởi hai từ ghép:
nghề và nghiệp. Nghề là khái niệm nói về các dạng (loại, kiểu, hình thức) lao
động, bằng kiến thức và kỹ năng đặc trưng, người lao động có thể làm ra các
loại sản phẩm tương ứng, để phục vụ cho cuộc sống cá nhân và nhu cầu tiêu
dùng xã hội. Nghiệp là khái niệm nói về sự nghiệp, là nền tảng của cuộc

sống, đảm bảo cho sự thành đạt, hạnh phúc của mỗi cá nhân. Nghề luôn gắn
với nghiệp, nên được gọi là nghề nghiệp. Người lao động có nghề nghiệp là
người đã được đào tạo chu đáo về chun mơn, nghiệp vụ, có việc làm và
làm tốt các công việc được phân công.
Nghề xuất hiện từ khi xã hội có sự phân cơng lao động, xã hội phát
triển nghề cũng luôn ở trong trạng thái biến động. Xã hội càng phát triển
nhiều nghề cũ mất đi, nhiều nghề mới xuất hiện, trong xã hội hiện đại nghề
nghiệp rất đa dạng, các mức độ chuyên sâu và tính kỹ thuật ngày càng cao.
Theo Klimov E. A.: “Nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức lao động
vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã
hội. Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để tạo ra
sản phẩm cần thiết cho việc tồn tại và phát triển cá nhân và xã hội” [22].
Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu: nghề nghiệp là một dạng lao
động xã hội, nhờ được đào tạo, người lao động có kiến thức, kỹ năng chuyên
10


mơn và thái độ tích cực với nghề, có thể tạo ra (sản xuất) các loại sản phẩm
vật chất hay tinh thần tương ứng, nhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân
và xã hội.
1.1.2. Hướng nghiệp
Thuật ngữ “Hướng nghiệp - Profession Orientation” do Parson F. đề
xướng vào năm 1908, theo đó ơng cho rằng hướng nghiệp là: “q trình
định hướng cho cá nhân tìm hiểu nghề, đối chiếu với phẩm chất cá nhân, rồi
lựa chọn lấy một nghề phù hợp” [22].
Hay nói một cách chung nhất: “Hướng nghiệp là quá trình thực hiện
những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu nguồn lực con người
(năng khiếu, năng lực, thể lực) theo ngành và loại lao động” hoặc “giúp đỡ
lựa chọn ngành nghề một cách hợp lý” [22].
+ Theo quan điểm kinh tế:

“Hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh tế - đào tạo, giúp cho từng
thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực
hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bố lực lượng lao động xã hội” [22].
+ Theo quan điểm giáo dục:
Tác giả Đặng Danh Ánh cho rằng: “Hướng nghiệp là một hệ thống các
biện pháp tác động của nhà nước, nhà trường, gia đình và toàn xã hội nhằm
giúp cho học sinh lựa chọn và xác định được vị trí nghề nghiệp của mình
trong cuộc sống trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường, năng lực, của cá
nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế” [1, tr. 128].
Nhà nghiên cứu Phạm Tất Dong cho rằng: “Hướng nghiệp là một hệ
thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế
hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở
trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân” [10].

11


Theo các tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền:
“Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy
sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, giúp
cho các em quen biết với số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra
trường, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp
tương lai” [22].
Hoặc “hướng nghiệp là hoạt động của các tập thể sư phạm, của cán
bộ các cơ quan, xí nghiệp tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề
phù hợp với năng lực, thể chất và tâm lý của cá nhân, với nhu cầu kinh tế
xã hội.” [22].
Phân tích các quan điểm trên cho thấy hướng nghiệp là hoạt động của
nhiều cơ quan, tổ chức phối hợp với nhau, giúp cho học sinh chọn được nghề

phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân.
Với những phân tích trên, có thể hiểu rằng: Hướng nghiệp là các hoạt
động của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trị
chủ đạo, nhằm hướng dẫn học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp và chọn
một nghề phù hợp với năng lực và nguyện vọng của bản thân để sẵn sàng
bước vào lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực của địa phương và đất nước.
1.1.3. Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp (Professional Education) là khái niệm ghép:
Giáo dục và hướng nghiệp, được hiểu là một hoạt động được tiến hành trong
nhà trường, do các nhà giáo đóng vai trị chủ đạo thực hiện, do đó có thể nói
“Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống những tác động sư phạm nhằm làm cho
học sinh chọn được một nghề hợp lý” [22].
Trong các trường phổ thông, GDHN là một bộ phận của giáo dục toàn
diện, là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó tập
thể sư phạm nhà trường giữ vai trị chủ đạo và được tiến hành bằng nhiều hình

12


thức giúp cho học sinh lựa chọn được một nghề, vừa đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, vừa phù hợp với nguyện vọng, năng lực của cá nhân.
Tập thể sư phạm sử dụng các biện pháp mang tính chất hướng dẫn,
khơng áp đặt, dựa trên hứng thú, năng lực, sở trường của học sinh để điều
chỉnh động cơ chọn nghề sao cho có sự nhất trí giữa nguyện vọng của cá
nhân với yêu cầu nhân lực xã hội.
Trên cơ sở kế thừa những quan niệm trên, tác giả cho rằng: Giáo dục
hướng nghiệp là hoạt động sư phạm có mục đích, có nội dung chương trình
do nhà trường tiến hành, nhằm giúp học sinh định hướng chọn nghề phù
hợp với năng lực, sở trường của bản thân và đáp ứng yêu cầu của xã hội,
của nghề nghiệp.

1.1.4. Phân luồng học sinh
Phân luồng học sinh là việc xác định các mục tiêu và tổ chức hệ thống
giáo dục đào tạo phù hợp với yêu cầu, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội
nhằm đáp ứng chiến lược phát triển cân đối, bền vững của mỗi quốc gia, trên
cơ sở đó định hướng cho sự phát triển giáo dục các ngành các cấp học.
Phân luồng học sinh sau mỗi cấp học là giúp cho các em chủ động lựa
chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó
phù hợp với hồn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội.
Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục
trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh
tốt nghiệp trung học cơ sở, THPT tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao
hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực và điều
kiện cụ thể của mỗi các nhân và nhu cầu xã hội góp phần điều tiết ngành
nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước.

13


1.1.5. Biện pháp giáo dục hướng nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt: “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể”[30]. Trong lĩnh vực giáo dục, biện pháp là cách thức tiến
hành một hoạt động giáo dục, là yếu tố hợp thành của phương pháp giáo dục
và đồng thời phụ thuộc vào phương pháp và mục tiêu giáo dục.
Mỗi phương pháp giáo dục có thể bao gồm nhiều biện pháp giáo dục.
Biện pháp giáo dục bao hàm hai tầng bậc: biện pháp lớn là cách giải quyết
các vấn đề có tính khái qt, phạm vi rộng (vĩ mơ); biện pháp nhỏ nằm trong
biện pháp lớn, là cách giải quyết, cách làm cụ thể (vi mô). Nhiều biện pháp
khác nhau nhưng cùng loại và để giải quyết một vấn đề chung thường được
gọi là nhóm biện pháp.

Biện pháp GDHN là một biện pháp giáo dục, là cách làm, cách giải
quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực GDHN. Trong Luận văn này biện pháp
GDHN theo định hướng đổi mới giáo dục là đề cập đến mục tiêu, nội
dung, cách tổ chức thực hiện và điều kiện thực hiện GDHN theo định
hướng đổi mới giáo dục ở trường THPT.
1.2. Giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
1.2.1. Đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT thuộc lứa tuổi đầu thanh niên, là thời kỳ đang trưởng
thành về mặt tâm, sinh lý, thể lực. Các hệ cơ, xương, thần kinh, sinh dục phát
triển nhanh tạo cho các em có cơ thể cân đối, khỏe và đẹp. Sức mạnh cơ thể
gần đạt được như người lớn, giúp các em có điều kiện tham gia vào nhiều
hoạt động xã hội, lao động, học tập… Qua đó, kiến tạo nên cấu trúc tâm lý
mới, chất lượng mới trong hoạt động trí tuệ và các mặt tâm lý khác.
Sự phát triển trí tuệ, ý thức, tình cảm… của lứa tuổi này cũng đạt được
chất lượng mới. Các em có khả năng tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng
tạo. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, nhất quán hơn. Những đặc điểm đó đã tạo
cho phần lớn học sinh thực hiện được các thao tác tư duy toán học phức tạp.
14


Học tập là hoạt động chủ đạo được điều khiển bởi mục đích tự giác để
lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, hình thành những hành vi,
những dạng hoạt động, những giá trị nhân cách.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng có nhiều thay đổi. Chính vì
vậy, hoạt động học tập địi hỏi các em phải có tính năng động, độc lập và
sáng tạo ở mức độ cao hơn.
Thái độ và ý thức đối với học tập ngày càng phát triển, các em đã hiểu
vốn kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để các em bước vào
cuộc sống tương lai. Do đó, nhu cầu kiến thức của các em tăng lên một cách
rõ rệt, đối với việc học đã có lựa chọn hơn.

Ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng
chọn nghề cho tương lai. Tuy nhiên, khơng ít các em chỉ tích cực đối với các
mơn học mà các em cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với nghề đã chọn và
sao nhãng môn học khác hoặc chỉ cần học ở mức trung bình. Cũng có một số
học sinh tự ti cho rằng, mình không thể vào học đại học được nên chỉ cần
học đạt yêu cầu là đủ.
Ở lứa tuổi THPT, học sinh có nét tâm lí đặc biệt đó là thường băn
khoăn suy nghĩ xác định phương hướng cho tương lai. Các em hay tự hỏi:
“mình sẽ làm gì ?”, “mình là người như thế nào ?”. Một vấn đề quan trọng
của học sinh THPT là việc chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân mà
trước hết là chọn nghề.
Nhiều em đã biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lí, khả năng
của bản thân với yêu cầu của nghề nghiệp. Tuy nhiên, một bộ phận học sinh
còn định hướng chưa đúng vào học ở trường đại học. Xu hướng nghề
nghiệp có tác dụng quan trọng trong việc điều chỉnh, thúc đẩy các hoạt
động của các em.
Nghề nghiệp tương lai chi phối đối với hứng thú môn học. Nhận thức
yêu cầu về nghề nghiệp càng cụ thể đầy đủ, sâu sắc bao nhiêu thì sự chuẩn bị
15


đối với nghề nghiệp tương lai càng tốt bấy nhiêu. Việc lựa chọn nghề nghiệp
đã trở thành công việc khẩn thiết của các em. Càng cuối cấp học thì sự lựa
chọn càng nổi bật. Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai là phụ thuộc vào
chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không. Dù có
vơ tâm đến đâu thì thanh niên mới lớn cũng phải quan tâm, cũng có suy nghĩ
trong chọn nghề. Các em đã biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý,
khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, dù sự hiểu biết về nghề
nghiệp của các em chưa đầy đủ. Do đó, cơng tác GDHN đối với học sinh
THPT rất quan trọng.

Nhìn chung hiện nay, các em còn định hướng một cách phiến diện, đa
số các em muốn vào được trường đại học hơn là chọn được nghề phù hợp.
Tâm thế chuẩn bị bước vào đại học như thế có ảnh hưởng tiêu cực đến các
em, nếu dự định của các em không thực hiện được. Điều đó cũng cho thấy
các em (dù vơ tình hay cố ý) đã không chú ý nhiều đến yêu cầu của xã hội
đối với các ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo của các nghề trong khi
quyết định đường đời.
Chọn nghề là một công việc hết sức quan trọng và cũng hết sức khó
khăn trong cuộc đời một con người. Trong giai đoạn hiện nay, nghề nghiệp
phát triển rất phong phú, làm sao có thể định hướng đúng được nghề phù hợp
thật sự với mình, có thể gắn bó suốt cuộc đời. Nhiều thanh niên học sinh, do
thiếu hiểu biết về nghề nghiệp nên đã mắc sai lầm trong việc chọn nghề. Kết
quả sự chọn nghề không phù hợp dẫn đến tình trạng chán nghề, muốn đổi
nghề hoặc bỏ nghề, vừa gây thiệt hại cho cá nhân, vừa gây khó khăn và tổn
phí cho gia đình và cho nhà nước.
1.2.2. Mục đích GDHN ở trường THPT
Mục đích của GDHN là giúp các em có ý thức làm chủ trong việc chọn
nghề, trên cơ sở những hiểu biết về nghề nghiệp và thị trường lao động, về năng
lực, sở trường, hứng thú của bản thân.

16


Cụ thể là: cung cấp cho các em những thông tin về một số nghề, hoặc
một số nhóm nghề cụ thể, phù hợp với thực tế địa phương, khu vực và trong
nước, phù hợp với xu thế thế giới, trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Giúp học sinh có đủ thơng tin về các trường đại học, trường chuyên nghiệp,
dạy nghề, để tự mình chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hồn
cảnh gia đình và nhu cầu xã hội, để dự thi vào các trường, để được đào tạo,
đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa q

hương, đất nước.
1.2.3. Nội dung GDHN ở trường THPT
Nội dung GDHN ở trường THPT bao gồm những định hướng nhận
thức, thái độ, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với năng lực sở trường
của cá nhân và đáp ứng yêu cầu của xã hội và yêu cầu nghề nghiệp.
- Định hướng nhận thức về nghề nghiệp: là thành phần cốt lõi mang tính
định hướng cho việc chọn nghề của học sinh. Nhận thức nghề nghiệp bao gồm:
nhận thức về những yêu cầu xã hội đối với nghề nghiệp, nhận thức về thế
giới nghề nghiệp, yêu cầu của nghề về phẩm chất, năng lực đối với người lao
động và những đặc điểm cá nhân phù hợp với nghề dự định lựa chọn để ra
quyết định lựa chọn.
- Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp: đặc trưng cơ bản nhất của
thái độ nghề nghiệp được biểu hiện trước hết thông qua động cơ chọn nghề.
Động cơ chọn nghề là những yếu tố tâm lý bên trong thôi thúc, chi phối học
sinh xác định cho mình một nghề nghiệp nào đó. Biểu hiện cao nhất của thái
độ nghề nghiệp là nguyện vọng nghề nghiệp. Đó là sự xác định vị trí xã hội
mà các em mong muốn vươn tới trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của bản
thân. Có thể coi nguyện vọng nghề nghiệp như một hình ảnh của nhu cầu trở
thành hiện thực. Chính nhờ đặc điểm này, mà về bản chất nguyện vọng là
luôn hướng tới tương lai chứ không phải hướng về quá khứ.

17


- Tư vấn, hướng dẫn chọn nghề cho học sinh: dựa trên cơ sở năng lực
học tập của học sinh, hồn cảnh và cá tính của học sinh, nguyện vọng, xu
hướng nghề nghiệp của học sinh, hệ thống thông tin về thế giới việc làm,
giáo viên tư vấn giúp học sinh lựa chọn nghề cho phù hợp với năng lực cá
nhân, đáp ứng yêu cầu xã hội và yêu cầu phát triển nghề nghiệp sau này.
- Cung cấp thông tin về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực cho

các lĩnh vực ngành nghề, về đặc điểm nghề và các yêu cầu về kiến thức, kỹ
năng, thái độ, sức khỏe của người lao động với từng nghề.
- Giúp học sinh nhận biết sở trường, hứng thú, nguyện vọng, năng lực
của mình.
Ở các nước phát triển trong mỗi trường phổ thơng đều có một
trung tâm tư vấn hướng nghiệp với sự phối hợp hoạt động của ba thành
viên: nhà tư vấn Tâm lý - Giáo dục, nhà tư vấn Y học, nhà tư vấn Kinh tế
lao động. Các nhà tư vấn dựa trên thông tin về thị trường lao động, về
đặc điểm nghề và đặc điểm tâm lý cá nhân học sinh để giúp các em chọn
được nghề phù hợp.
1.2.4. Nhiệm vụ GDHN ở trường THPT
Nhiệm vụ chung của GDHN là:
- Giúp học sinh được làm quen với thế giới nghề nghiệp, hiểu được
những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh
tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình.
- Tư vấn hướng dẫn học sinh biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề
đặt ra, những điều kiện vào nghề và học nghề, các hiểu biết về GDHN.
- Nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho học sinh phù hợp với
trình độ phát triển tâm lý và lứa tuổi các cấp học.
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt
động xã hội nhằm bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề cho học sinh.

18


- Thực hiện xã hội hoá GDHN phối hợp, liên kết với các tổ chức các
cơ sở sản xuất trong các thành phần kinh tế xã hội.
1.3. Giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT theo định hướng đổi
mới GD
1.3.1. Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục

Trong Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần
VIII Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, chỉ rõ quan điểm chỉ đạo [23]:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi
mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản
trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
- Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát
triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế
giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải
bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và
cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ
trình, bước đi phù hợp.
- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi
với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và giáo dục xã hội.
19


×