Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận cẩm lệ, thành phố đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (568.89 KB, 80 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

NGÔ TRƢỜNG LONG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

NGÔ TRƢỜNG LONG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
60.38.01.02



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƢƠNG

HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương. Mọi trích dẫn từ các tài
liệu đều được ghi xuất xứ rõ ràng; các sự kiện, tư liệu trong luận văn này là
trung thực. Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả luận văn

Ngô Trƣờng Long


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn ..................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ..................................... 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .............................................. 7
7. Cơ cấu của luận văn ................................................................................ 7
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA ....................................................... 8

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa ................ 8
1.2. Nguyên tắc, nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về
văn hóa ............................................................................................................ 13
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa ........................ 19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA
TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ...................................... 28
2.1. Các yếu tố đặc thù của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có ảnh
hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa......................................................... 28
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 32
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng .................................................................. 44
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA TẠI QUẬN CẨM LỆ ............... 51
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ ............................................................................................................ 51


3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ ............................................................................................................ 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMNN

: Bộ máy nhà nước

CCHC


: Cải cách hành chính

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

QLNN

: Quản lý nhà nước

QLVH

: Quản lý văn hóa

UBND

: Ủy ban nhân dân

VHTT

: Văn hóa thông tin

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập sự giao lưu và tiếp biến về văn hóa sẽ diễn ra
như một quy luật vận động của tự nhiên. Ngày nay điều phân biệt giữa quốc
gia này với quốc gia khác không chỉ còn là đường biên giới, mà đó là nền văn
hóa mang đậm tính dân tộc với những sắc ấn riêng biệt. Để bắt nhịp vào quá
trình phát triển chung của toàn cầu, để hòa nhập mà không bị hòa tan vào
cộng đồng chung đó đòi hỏi những nét văn hóa đặc sắc tiêu biểu của dân tộc
Việt Nam phải luôn được giữ gìn và không ngừng phát triển để tạo dấu ấn,
bản sắc riêng trong thời đại mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước đã tiếp cận và đề cập theo nghĩa rộng và bao
quát. Đồng thời chỉ ra các lĩnh vực cụ thể của văn hóa trong đời sống và trong
cấu trúc xã hội. Từ đó xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát
triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - m , thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển
bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của các nền văn minh thế giới.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đang diễn ra ngày
sâu rộng, góp phần củng cố thêm bản sắc văn hóa dân tộc, mang lại những
thành tựu nhất định, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển
1


của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực cũng xuất hiện
những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa như: sự suy thoái về đạo

đức, lối sống, tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa truyền thống;
các hoạt động văn hóa có lúc, có nơi còn chạy theo xu hướng “thương mại
hóa”, thiếu định hướng tư tưởng và thẩm m , tính giáo dục suy giảm... Một
trong những nguyên nhân của thực trạng nói trên là do công tác quản lý nhà
nước về văn hóa ở các cấp, trong đó có cấp quận, một cấp trung gian giữa
phường và thành phố còn nhiều yếu kém. Sự yếu kém này sẽ có sự tác động
hai chiều lên và xuống làm cho việc quản lý nhà nước về văn hóa vốn đã
phức tạp lại càng phức tạp hơn.
Cẩm Lệ là một quận có vị trí địa lý chiến lược quan trọng trong phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Đà Nẵng. Trong những năm qua
công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ đạt được
nhiều kết quả quan trọng, có vai trò to lớn, có ý nghĩa sâu sắc đối với định
hướng phát triển văn hóa, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng
được đáp ứng, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng
lên, công tác quản lý đã đi vào nề nếp. Nhiều văn bản được ban hành từ lĩnh
vực văn hóa được áp dụng có hiệu quả trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên trên
địa bàn quận Cẩm Lệ công tác quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập đặt ra
so với nhu cầu thực tiễn, đòi hỏi công tác quản lý cần có sự đổi mới. Những
hạn chế trong công tác quản lý là một trong những nguyên nhân dẫn đến môi
trường văn hóa bị ô nhiễm bởi các sản phẩm, dịch vụ văn hóa độc hại, thấp
kém lai căng phần nào làm giảm sút, hạ thấp các chức năng văn hóa. Việc xây
dựng thể chế văn hóa, các văn bản pháp luật, các chính sách trên lĩnh vực văn
hóa còn chậm, thiếu đồng bộ làm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về
văn hóa.
Vì vậy nghiên cứu, tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao vai trò
quản lý nhà nước trên địa bàn quận Cẩm Lệ giúp cho Đảng bộ, chính quyền
2


các cấp ở quận Cẩm Lệ định hướng đúng, quản lý tốt các hoạt động văn hóa

để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
Là một học viên học ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính hiện
đang công tác tại cơ quan Đảng nên tôi rất muốn đưa pháp luật và các văn bản
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng tác động sâu rộng hơn đến công tác quản lý nhà
nước về văn hóa trên địa bàn quận, qua đó đóng góp một phần công sức, trí tuệ,
tháo gỡ những khó khăn và nâng tầm quan trọng của lĩnh vực văn hóa trong
tổng thể các điều kiện phát triển của địa phương. Vì vậy tôi đã chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”
làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Quản lý nhà nước về văn hóa là đề tài thu hút nhiều cơ quan nghiên cứu
khoa học và các nhà khoa học nghiên cứu, thể hiện ở các đề tài khoa học, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các bài viết. Kết quả nghiên cứu của nhiều công
trình khoa học về vấn đề này đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí, luận
văn, luận án, tạp chí và các ấn phẩm khoa học… Sau đây là những công trình
khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn:
GS. TS Hồ Tôn Trinh, chủ nhiệm đề tài “Hệ quan điểm về mối quan hệ
giữa văn hóa và phát triển”. Tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận và phương pháp
luận nghiên cứu vấn đề văn hóa và phát triển trên cơ sở nghiên cứu kinh
nghiệm của thế giới và dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. GS. TS Hồ Sĩ Quý chủ nhiệm đề tài “Cơ sở phương
pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn
nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhâp kinh
tế”. Tác giả đã nêu lên hàng loạt vấn đề do cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, do nền kinh tế thị trường, do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế,
giao lưu văn hóa đang đặt ra những vấn đề mới trong nghiên cứu và phát triển
văn hóa, con người và nguồn nhân lực thế giới ở Việt Nam.
3



Các cuốn sách “phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát
triển” đã đề cập đến phương pháp luận nghiên cứu văn hóa dưới góc nhìn
khác nhau với sự tham gia của các tác giả Trần Văn Giàu với bài “Phương
pháp luận về vấn đề văn hóa và phát triển”, tác giả Trường Lưu có bài “Mấy
vấn đề phương pháp luận về văn hóa và con người trong sự phát triển văn
hóa”; cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam và tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”
của GS.TS. Trần Ngọc Thêm (1999); “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS.
Phan Ngọc (1998).
Các bài viết “Cơ sở khoa học, thực tiễn của chính sách văn hóa trong
kinh tế” của GS.TS. Trần Ngọc Hiên tạp chí Cộng sản, số 20/2006; “Phát huy
vai trò động lực của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội” của PGS.
TS. Tô Huy Rứa, tạp chí Cộng sản số 15/2006; “Đẩy mạnh xây dựng và nâng
cao chất lượng đời sống văn hóa cơ sở” của tác giả Lê Doãn Hợp, tạp chí
Cộng sản, số 773/2007; “Về vấn đề hoàn thiện hành lang pháp lý để tăng
cường sự tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội” của tác
giả Lễ Quốc Hùng, tạp chí Cộng sản, số 778/2007; “Chính quyền địa phương
với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” của Nguyễn Đức Mạnh, tạp chí
Cộng sản chuyên đề cơ sở, số 4/2008; “Để văn hóa thực sự là nền tảng phát
triển” của GS. Nguyễn Đức Bình, tạp chí Xây dựng đời sống văn hóa, số
7/2008; “Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập kinh tế
thế giới” của tác giả Nguyễn Thu Hiền, tạp chí Xây dựng đời sống văn hóa,
số 68/2008; “Văn hóa Việt Nam, đã đến lúc bừng nở sức mạnh tiềm ẩn” của
GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, trên www.vietimes.com.vn (03/4/2008); “Văn
hóa và phát triển – vấn đề chiến lược cấp bách ở nước ta hiện nay” của
GS.TS Trần Ngọc Hiên đăng trên tạp chí cộng sản ngày 09/8/2016; “xây
dựng văn hóa gia đình – cái gốc của việc xây dựng con người và xây dựng xã
hội văn hóa, đạo đức, văn minh” của Ths Nguyễn Đức Mạnh đăng trên tạp
chí cộng sản ngày 07/12/2016; luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa của
4



chính quyền từ thực tiễn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” của tác giả
Nguyễn Văn Phụng; luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương... và nhiều
công trình khác.
Tuy nhiên, đề tài quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu. Vì vậy, luận
văn này tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng quản lý của quận Cẩm Lệ về lĩnh vực văn hóa giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên
quan đến quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước về văn
hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng,
trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm về văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
- Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về văn
hóa ở Việt Nam.
5



- Thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
- Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hóa tại tại một số địa phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng và
quản lý nhà nước về văn hóa ở một số lĩnh vực như: quản lý hoạt động thông
tin tuyên truyền cổ động, quản lý hoạt động thư viện, quản lý các thiết chế
văn hóa, quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, quản lý
các dịch vụ văn hóa, di sản văn hóa.
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà
nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Luận văn có nghiên
cứu so sánh với một số địa phương khác có những nét tương đồng với quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa
trên địa bàn quận Cẩm Lệ trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học
thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa
kiến trúc thượng tầng và hạ tầng kinh tế; các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về đường lối đổi mới lĩnh vực văn hóa, các Nghị quyết Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương cũng như
các văn bản pháp luật đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa. Đồng
thời, tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học liên quan đến lĩnh vực này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được tác giả sử dụng trong luận văn là: Các
phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp phân tích,

6


tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu luận văn đã làm bổ sung và làm phong phú thêm lý
luận về sự lãnh đạo và quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa; thực
tiễn kinh nghiệm quản lý văn hóa ở quận Cẩm Lệ một quận thuộc thành phố
lớn trong khu vực miền Trung – Tây nguyên.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác lãnh đạo
thực tiễn của quận và cấp cơ sở đối với lĩnh vực văn hóa; đồng thời có thể sử
dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường chính trị thành phố,
các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về
văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

7


CHƢƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nƣớc về văn hóa
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa
Để định nghĩa được tổng thể khái niệm “quản lý nhà nước về văn hóa”,
ta tìm hiểu hai yếu tố: như thế nào là quản lý nhà nước? và văn hóa là gì?
Thứ nhất, quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt
động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm
thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt
động quản lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện mà Hiến pháp và pháp
luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nước, còn gọi là hoạt động
chấp hành và điều hành nhà nước, hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp
hành và điều hành [21, tr.11-13].
Thứ hai, khái niệm văn hóa theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1997 thì “văn hóa bao gồm các thành
tố về những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần; sự
hiểu biết về sự vật hay cách xử thế tích lũy bằng việc học tập có hệ thống
hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự, văn minh” [39, tr.1154] .
Nghĩa là nó bao hàm các giá trị truyền thống, hướng con người trong hiện tại
và tương lai đến chân, thiện, m . Theo định nghĩa của UNESCO: Văn hóa là
tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong
quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên
hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu - những đặc tính của dân tộc. Theo
định nghĩa này, không chỉ thể hiện các giá trị truyền thống do con người sáng
tạo trong quá khứ mà cả trong hiện tại nhưng mang đặc tính riêng của từng
quốc gia, dân tộc.
8


Từ những quan niệm khác nhau, các cơ sở lý luận khác nhau về văn

hóa, có thể đúc kết lại: “Văn hóa là toàn bộ các giá tri vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn cải tạo tự
nhiên, cải tạo xã hội và phát triển con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu của
con người và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” [6, tr.81-81].
Như vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là “sự quản lý của nhà nước đối
với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước
thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự
phát triển của nền văn hóa” [39, tr.1157].
Quản lý nhà nước về văn hóa có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao quát các
hoạt động quản lý của cả bộ máy nhà nước, bao gồm hoạt động lập pháp của
Quốc hội, hoạt động hành pháp của Chính phủ và các tổ chức hành chính địa
phương và hoạt động tư pháp của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.
Thông thường, quản lý nhà nước về văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là
hoạt động quản lý của các cơ quan hành pháp, của các tổ chức hành chính nhà
nước từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực văn hóa.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa
Cũng như sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự
định hướng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá...,
quản lý nhà nước (QLNN) về văn hóa còn có một số đặc điểm đặc sắc, riêng
biệt sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý bằng pháp luật từ
Trung ương đến địa phương với mục đích cuối cùng là quản lý tất cả các mặt
của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất.
Thứ hai, QLNN về văn hóa cũng không thể đơn tuyến. Bởi vì văn hóa
có cơ sở là KT-XH, luôn luôn gắn liền với KT-XH, mà kinh tế xã hội ta có
nhiều thành phần thì văn hóa tất yếu cũng có nhiều thành phần. Kinh tế xã hội
của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trước những biến
9



động không nhỏ từ ngay trong nội tại văn hóa dân tộc đó, cũng như những làn
sóng tác động từ văn hóa nước ngoài. Chính vì vậy bắt buộc QLNN về văn
hóa mang đặc điểm biến thiên theo tùy theo nền kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, văn hóa là phản ánh của sự phát triển xã hội, nhưng
không phải lúc nào giữa kinh tế và văn hóa cũng phát triển theo cùng một
pha. Bởi vậy, QLNN về văn hóa không thể là sự dịch chuyển của mô hình
quản lý KT-XH.
Thứ ba, QLNN về văn hóa khác với QLNN về hoạt động kinh tế k
thuật khi giá trị các hoạt động văn hóa không chỉ căn cứ ở số lượng thành
phẩm, mà chủ yếu ở tính sáng tạo, ở cái mới bồi đắp cho tâm hồn con người,
giúp cho con người (trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định) lớn lên, vươn
lên trước những đòi hỏi mới của xã hội. Bên cạnh những giá trị vật chất hữu
hình, QLNN về văn hóa còn quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị phi vật
chất mang lại cho đời sống xã hội.
Thứ tư, QLNN về văn hóa không theo lối tư duy cứng nhắc, dập khuôn,
mà dựa trên những hoàn cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét.
Bởi vì văn hóa là sự sáng tạo của quần chúng nhân dân được thực hiện thông
qua các đại biểu của mình là văn nghệ sĩ. Vì vậy, QLNN về văn hóa là sự
định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không
ngừng theo hướng chân, thiện, m nhằm giúp ích cho con người, giúp cho xã
hội loài người không ngừng đi lên.
Thứ năm, QLNN về văn hóa theo nghĩa hẹp là quản lý cái phần tĩnh,
cái bề nổi còn quản lý phát triển văn hóa là quản lý cái phần động, phần chìm,
cái phần nảy sinh, tương tác trong sự vận động của đời sống văn hóa. Theo
nghĩa rộng, nếu xem xét văn hóa là tổng thể những giá trị mà con người đã
sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn nhằm cải biến tự
nhiên, xã hội và bản thân thì quản lý phát triển văn hóa mới là chức năng đích
thực của QLNN về văn hóa. QLNN về văn hóa về thực chất là sự tác động
10



vào quá trình hình thành và vận động của hệ giá trị theo những mục tiêu định
sẵn. Hệ giá trị vốn ổn định nhưng vẫn có sự chuyển đổi dưới tác động của
không gian, thời gian và chủ thể.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là năng
lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, là trụ cột phát triển bền
vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại. Một quốc gia có nền tảng văn
hóa hòa nhập và phát triển thì nhân dân phát huy được sức mạnh khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn và bản sắc văn hóa. Ngày nay, trong
bối cảnh toàn cầu hóa thì vai trò của văn hóa càng được khẳng định, nhất là
trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển
nhanh, nóng, dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa, xã hội,
v.v. Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai
trò rất quan trọng.
Thứ nhất, trên phương diện vĩ mô, QLNN về văn hóa sẽ góp phần định
hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các
chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục
tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc.
Thứ hai, trên phương diện vi mô, QLNN về văn hóa giúp tạo ra sự ổn
định và đồng thuận trong xã hội thông qua hoạt động quản lý văn hóa trong
các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai
lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn
hóa. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa ngày càng được kiện toàn
theo hướng thiết thực, hiệu quả. Xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật đồng bộ, có giá trị pháp lý cao trên lĩnh vực văn hóa, tạo điều
kiện để hoạt động quản lý ngày càng thuận lợi. Qua đó, đã tạo điều kiện cho
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong kinh doanh và hoạt động văn

11



hóa, khuyến khích sự mở cửa, giải phóng các nguồn lực, huy động được sự
tham gia của toàn xã hội chung tay xây dựng và phát triển văn hóa.
Thứ ba, QLNN về văn hóa hình thành nên các chuẩn giá trị xã hội, lành
mạnh hóa các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân. Thể hiện qua, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được bảo tồn và
phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc không bị mai một, hòa tan trong quá trình
hội nhập và toàn cầu hóa. Nhiều giá trị văn hóa mới, tiến bộ đã được xác lập,
củng cố trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa
nhân loại; ngày càng ra đời nhiều trung tâm văn hoá - thông tin - thể thao, nhà
hát, câu lạc bộ, rạp chiếu phim, khu di tích lịch sử - văn hoá, bảo tàng, thư
viện, nhà triển lãm, cửa hàng sách, báo, khu vui chơi giải trí,… nhằm đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của người dân. Cơ chế
quản lý văn hóa đã bám sát thực tiễn đời sống văn hóa đất nước, đáp ứng nhu
cầu của người dân, khuyến khích được sức sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của
các chủ thể văn hóa, tạo điều kiện gia tăng và đa dạng hóa các sinh hoạt văn
hóa và loại hình giải trí. Chính sách xã hội hóa trong văn hóa đã khuyến khích
được nhiều nguồn lực tham gia xây dựng và phát triển văn hóa đất nước, v.v.
Thứ tư, QLNN về văn hóa cũng làm cho văn hóa trở thành một tác
nhân kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương. Có thể
nói, công tác quản lý nhà nước về văn hóa đã thể hiện “Văn hóa… vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Từ một lĩnh vực
bị xem là chủ yếu mang chức năng giáo dục, tuyên truyền, văn hóa đã dần trở
thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế, mang lại lợi nhuận, góp phần nâng cao
đời sống người dân, ổn định an ninh xã hội. Chủ trương sáp nhập lĩnh vực văn
hóa với thể thao và đặc biệt là với du lịch là đúng đắn, thể hiện tầm nhìn vĩ
mô về văn hóa trong tiến trình phát triển bền vững đất nước.

12



1.2. Nguyên tắc, nội dung, hình thức và phƣơng pháp quản lý nhà
nƣớc về văn hóa
1.2.1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa
Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa là những tư tưởng, quan điểm
chỉ đạo tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa theo một
thể thống nhất. QLNN về văn hóa phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân
làm chủ. Đảng lãnh đạo thông qua các quan điểm, chủ trương, chính sách thể
hiện trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị; thông qua việc xây dựng bộ máy,
đội ngũ cán bộ của Đảng tham gia vào bộ máy chính quyền nhà nước.
Thứ hai, nguyên tắc nhà nước quản lý là thực hiện quyền lực chính trị
của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thể hiện qua Hiến pháp, luật và các văn
bản dưới luật để quản lý, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương
đến địa phương, ủy ban văn hóa xã hội của Quốc hội, xây dựng cơ chế chính
sách, bộ máy cán bộ công chức, viên chức nhà nước để thực thi các nhiệm vụ
về văn hóa.
Thứ ba, nguyên tắc nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội…từ đó nhân dân tham gia xây
dựng, đóng góp và giám sát việc thực hiện công tác quản lý văn hóa của nhà
nước.
Thứ tư, nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý sự nghiệp
văn hóa. Cần phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước về văn hóa
thông tin bộ, vụ, cục, UBND tỉnh, sở, phòng…quản lý bằng luật pháp, phi lợi
nhuận và chức năng hoạt động sự nghiệp văn hóa của các đơn vị nghiệp văn
hóa từ trung ương đến địa phương như: nhà hát, các đoàn nghệ thuật, bảo
tàng, thư viện, trung tâm văn hóa thông tin, viện nghiên cứu

13



1.2.2. Nội dung của quản lý nhà nước về văn hóa
1.2.2.1. Xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về
văn hoá
Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư
tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát
triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự
nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của
đất nước.
Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kể đến:
sáng tạo các giá trị văn hoá; bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá; phát triển văn
hoá cơ sở; giao lưu văn hoá quốc tế; hiện đại hoá k thuật và phương thức sản
xuất, phân phối sản phẩm văn hoá; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn
nghệ s ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hoá; nâng
cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hoá...
Chính sách văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà
nước về văn hoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật. Nhà
nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hoá nhằm phát huy tác dụng của
văn hoá tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần
của con người.
Chẳng hạn:
- Trong quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật, nhà nước ban hành
các chính sách phát triển văn hoá sâu rộng trong quần chúng nhân dân, phát
huy khả năng sáng tạo. Hay, nhà nước còn thực hiện chính sách bảo trợ vật
chất ở mức độ khác nhau cho những loại hình văn hoá nghệ thuật không tự
tồn tại và phát triển trong quan hệ kinh tế thị trường như sân khấu tuồng cổ,
nghệ thuật chèo… Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho mọi công dân có quyền
bình đẳng trong nghiên cứu khoa học k thuật và sáng tạo nghệ thuật thì phải
được quy định rõ trong luật.

14


- Trong quản lý nhà nước về văn hoá – xã hội, nhà nước ban hành các
chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp của văn hoá
truyền thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới… Bên cạnh đó cũng ban hành
nhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong xã hội như
Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình; hay Quy chế thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành
ngày 25/11/2005…
- Trong quản lý nhà nước về di sản văn hoá: nhà nước ban hành các
chính sách và pháp luật để phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hoá. Luật Di sản văn hoá năm 2001 là một văn bản pháp lý quan
trọng.
1.2.2.2. Xây dựng bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện quản lý nhà
nước về văn hoá
Trước tiên, xây dựng bộ máy quản lý chính là việc lập ra bộ máy hoạt
động và tuyển dụng nhân sự cho bộ máy này. Bộ máy quản lý bao gồm: Cơ
quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá là Chính phủ; Bộ văn hoá,
thể thao và du lịch (cấp trung ương); UBND là cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong địa
phương mình theo quy định của pháp luật. Hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy
quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa ngày càng được kiện toàn và củng cố.
Công tác “chuẩn hóa” cán bộ bước đầu phát huy tác dụng; đội ngũ cán bộ
quản lý ngành văn hóa được đảm bảo về phẩm chất chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học,…
Việc tổ chức thực hiện QLNN về văn hóa bao gồm một khối lượng
công việc rất lớn trong đó quan trọng là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;
xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các

văn bản pháp quy; hướng dẫn, tuyên truyền; thẩm định; cấp giấy phép, giấy
15


chứng nhận… Đây là những hoạt động trên thực tế để thực hiện các chức
năng quản lý nhà nước về văn hoá theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra.
Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài chính cho văn hoá cũng đóng vai trò đặc
biệt quan trọng. Trong đầu tư tài chính cho văn hoá, xuất phát từ vấn đề quan
tâm đến phát triển nguồn nhân lực nên nhà nước chú trọng đầu tư ngân sách
cho giáo dục. Đẩu tư cho hoạt động văn hoá với tư cách là đầu tư cho hoạt
động sản xuất cần được tính toán đến hiệu quả, cần xem văn hoá cũng làm ra
lợi nhuận cho nhà nước, cho nhân dân, đồng thời cũng cần tận dụng cơ chế thị
trường cho sự phát triển văn hoá đúng hướng.
1.2.2.3. Thanh tra, kiểm tra hoạt động trong lĩnh vực văn hoá
Có thể nói hoạt động thanh tra, kiểm tra đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong quá trình QLNN về văn hóa, đây là bước thể hiện quyền lực nhà
nước đối với các cá nhân, tập thể có các hoạt động chịu sự áp dụng của pháp
luật liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Qua công tác thanh tra, kiểm tra các cơ
quan chức năng thực hiện các nhiệm vụ hướng dẫn, nhắc nhở, xử phạt kịp
thời những trường hợp vi phạm các quy định về hoạt động văn hóa.
Chủ thể thanh tra, kiểm tra ở đây chính là nhà nước mà cụ thể là các cơ
quan chức năng có thẩm quyền, áp dụng bằng phương thức “quyền uy – phục
tùng”, hậu quả pháp lý sẽ áp dụng theo các quy định pháp luật đối với lĩnh
vực được thanh tra. Chẳng hạn như kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ
karaoke cấp quận, huyện hiện nay theo quy định hiện nay thuộc về tổ liên
ngành do địa phương thành lập bao gồm: phòng Văn hóa – thông tin, Công
an, đội quản lý thị trường, cảnh sát pccc và các đơn vị liên quan.
1.2.2.4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn
hóa
Theo quy định pháp luật nước ta hiện nay, có rất nhiều văn bản luật,

dưới luật được ban hành để giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
trong lĩnh vực văn hóa, bởi lẽ hoạt động văn hóa là rất rộng, liên quan hầu hết
16


đến các vấn đề trong đời sống xã hội nên tùy vào từng lĩnh vực mà có những
văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể, đối với lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố
cáo: Luật tiếp công dân năm 2013, Luật khiếu nại Luật tố cáo và các văn bản
hướng dẫn thi hành, Luật xử lý vi phạm hành chính…; đối với xử lý vi phạm
trong lĩnh vực văn hóa áp dụng: Luật Di sản vǎn hóa, Luật Điện ảnh, Luật
Thể dục thể thao, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Du lịch, Luật Bình đẳng giới, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện,…Từ đó,
các cơ quan QLNN về văn hóa tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
khi có sai phạm xảy ra, ví dụ như tại điều 71, chương VI, luật di sản văn hóa
2001 quy định: “Người nào vi phạm các quy định của pháp luật về di sản văn
hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.”
Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy
sinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải
được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức
hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác. Như vậy mới có khả
năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về
văn hoá đã đề ra.
1.2.3. Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về văn hóa
Hình thức quản lý nhà nước về văn hóa là sự biểu hiện ra bên ngoài của
hoạt động quản lý, cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức tác động
của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực
của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm
đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa.

Trong khái niệm này, chúng ta cần chú ý các nội dung sau đây:
- Hình thức quản lý hành chính nhà nước về văn hóa do chủ thể
QLHCNN mà chủ yếu là do các cơ quan QLHCNN và những người có thẩm
17


quyền trong các cơ quan này sử dụng để tác động đến đối tượng quản lý là các
cá nhân và tổ chức trong lĩnh vực văn hóa nhằm đạt được những hành vi xử
sự cần thiết.
- QLNN về văn hóa được thể hiện ra bên ngoài dưới nhiều hoạt động
cụ thể khác nhau, tuy nhiên hình thức quản lý nhà nước chỉ là những nhóm
hoạt động có cùng nội dung, tính chất và phương thức tác động của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quản lý lên các cá nhân, tập thể, đơn vị… hoạt động
trong lĩnh vực văn hóa, chẳng hạn như ban hành VBQPPL, ban hành
VBADQPPL, tiến hành những hoạt động tổ chức trực tiếp tác động đến lĩnh
vực văn hóa…
- Hình thức quản lý nhà nước về văn hóa do pháp luật quy định về thẩm
quyền, trình tự thủ tục. Chính vì thế mà việc quyết định sử dụng hình thức
QLNN nào, các chủ thể quản lý phải căn cứ vào pháp luật.
Phương pháp QLNN về văn hóa là cách thức thực hiện quyền lực nhà
nước trong quản lý lĩnh vực văn hóa.
Khác với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội khi thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình các chủ thể QLNN về văn hóa đại diện nhà nước, mang
quyền lực nhà nước. Nên khác với phương pháp quản lý của các tổ chức xã
hội chủ yếu là thuyết phục, phương pháp QLNN về văn hóa không chỉ là
thuyết phục đối tượng quản lý mà còn được thực hiện bằng các mệnh lệnh
hành chính, bằng sự cưỡng bức thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế
do pháp luật quy định.
Những phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước
được thể hiện dưới những hình thức QLNN nhất định và được tiến hành trong

giới hạn do pháp luật quy định.
Phương pháp QLNN được thể hiện dưới những hình thức như: ban
hành VBQPPL, ban hành văn bản ADQPPL, thực hiện các hoạt động khác
mang tính pháp lý.
18


Ngoài ra, phương pháp QLNN về văn hóa phải được tiến hành trong
khuôn khổ của pháp luật, nhất là những phương pháp có tính chất hạn chế
quyền của đối tượng quản lý. Các phương pháp này được pháp luật quy định
chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về văn hóa
1.3.1. Chính sách và pháp luật
1.3.1.1. Chính sách
Chính sách văn hóa là những cơ chế ưu tiên của nhà nước để phát triển
một lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã hội, chẳng
hạn như chính sách phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, chính sách ưu tiên cho văn nghệ sĩ, chính sách bảo tồn các giá
trị văn hóa truyền thống... Chính vì vậy, trong một giai đoạn thời gian nhất
định, một địa phương cụ thể chính sách quản lý ảnh hưởng to lớn đến sự phát
triển hay suy thoái của văn hóa.
Thứ nhất, chính sách văn hóa giúp xây dựng và định hướng hoạt động
QLNN về văn hóa. Những cơ chế, mục đích trong chính sách văn hóa là cái
đích thực hiện của công tác quản lý; các cơ quan chức năng liên quan phải
thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành những chỉ tiêu, cơ chế ưu
tiên trong chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước.
Thứ hai, chính sách văn hóa tạo ra những cơ chế đặc thù giúp phát triển
văn hóa một cách lộ trình và hợp lý. Tùy theo tình hình thực tế của địa bàn mà
ở đó sẽ có những chính sách cụ thể nhằm áp dụng để phát triển văn hóa một
cách tốt nhất, bởi lẽ để có một chính sách đúng đắn thì các cơ quan lãnh đạo

phải nghiên cứu k về văn hóa, kinh tế, xã hội, con người... tại mỗi địa
phương.
Thứ ba, chính sách văn hóa thông qua pháp luật tác động một cách cụ
thể đến QLNN về văn hóa. Chính sách văn hóa được thể hiện qua ba hình
thức: hình thức pháp luật, hình thức quy hoạch, kế hoạch, hình thức văn kiện.
19


×