Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 83 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN TIỀN

VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Danh Sơn và chưa được công
bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Các thông tin, số liệu sử dụng trong
đề tài được dẫn nguồn rõ ràng, cụ thể theo quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm
hoàn toàn về mặt pháp lý và đạo đức đối với lời cam đoan này.

Hà Nội, ngày


tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Văn Tiền


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban giám đốc, các khoa, phòng và quý thầy giáo, cô giáo trong Học
viện Khoa học Xã hội đã tận tình giảng dạy tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS.
Nguyễn Danh Sơn, người thầy luôn tận tâm, trực tiếp hướng dẫn đề tài cho tôi
với tất cả lòng nhiệt tình, tâm huyết và sự quan tâm hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu viết luận văn, Thầy luôn tạo điều kiện, quan
tâm, giúp đỡ để luận văn được hoàn thành. Kiến thức, sự nhiệt huyết, tâm
huyết của thầy luôn làm cho tôi ngạc nhiên và nể phục.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình đến UBND tỉnh Bắc
Ninh, Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh, bạn bè, đồng
nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian
học tập và nghiên cứu luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của quý thầy, cô giáo và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH GIẢM

8

NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm

8

1.2. Chủ thể và vai trò, ý nghĩa của chính sách giảm nghèo bền vững

12

1.3. Quan điểm, mục tiêu và công cụ chính sách giảm nghèo bền vững ở

13

Việt Nam
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách giảm nghèo bền vững và chuẩn

19

nghèo đa chiều ở Việt Nam
1.5. Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo ở một số địa phương ở Việt Nam

24


Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM

30

NGHÈO BỀN VỮNG Ở TỈNH BẮC NINH VÀ CÁC VẤN ĐỀ
CHÍNH SÁCH ĐẶT RA
2.1. Khái quát về thực trạng nghèo ở tỉnh Bắc Ninh

30

2.2. Chính sách giảm nghèo bền vững của tỉnh Bắc Ninh

31

2.3. Kết quả và đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở

35

tỉnh Bắc Ninh
2.4. Những vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững đặt ra từ thực tiễn

48

tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN

58

VỮNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

3.1. Bối cảnh phát triển và cơ hội, thách thức về giảm nghèo bền vững ở

58

nước ta trong thời gian tới
3.2. Định hướng và mục tiêu chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn

60

2016 - 2020
3.3. Các giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững

62

KẾT LUẬN

71

TÀI LIỆU THAM KHẢO

73


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
BCĐ
BHYT
BTXH
CTMTQG
CTr - TU

ESCAP

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Ban chỉ đạo
Bảo hiểm y tế
Bảo trợ xã hội
Chương trình mục tiêu quốc gia
Chương trình - Tỉnh ủy
Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp

HĐND
ILO
KH - UBND

Quốc
Hội đồng nhân dân
Tổ chức Lao động Quốc tế
Kế hoạch - Ủy ban nhân dân

LĐ-TB&XH
MTQG
NĐ - CP
NQ - CP
NQ - TW
QĐ - TTg

Lao động - Thương binh và Xã hội
Mục tiêu quốc gia
Nghị định - Chính phủ
Nghị quyết - Chính phủ

Nghị quyết - Trung ương
Quyết định - Thủ tướng Chính phủ

QĐ - UBND
PGS.TS
ODA
Oxfam

Quyết định - Ủy ban nhân dân
Phó giáo sư. Tiến sĩ
Viện trợ phát triển chính thức
Tổ chức phi chính phủ quốc tế hàng đầu hoạt động trong
các lĩnh vực phát triển nông thôn, giảm thiểu rủi ro và ứng
phó với biến đổi khí hậu và thảm họa, phát triển xã hội
dân sự và cộng đồng thiểu số
Thông tư liên tịch - Bộ công an - Bộ tài chính - Bộ quốc
phòng - Bộ tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa
án nhân dân tối cao

TTLT-BCA-BTC-BQPBTP-VKSNDTC-TANDTC
TTLT-BNNPTNT-BTCBKHĐT
UBND
UBMTTQ
UN
WTO
XHCN

Thông tư liên tịch - Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch đầu tư
Ủy ban nhân dân
Ủy ban mặt trận tổ quốc

Liên hiệp quốc
Tổ chức thương mại thế giới
Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay vấn đề giảm nghèo bền vững ở Việt Nam luôn là một vấn đề
giành được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, từ năm 1998 cho tới nay,
việc xóa đói giảm nghèo đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia và đã
được đưa vào kế hoạch hoạt động định kỳ 5 năm của Chính phủ và ở địa
phương các cấp. Tính đến thời điểm hiện tại đã chính sách xóa đói giảm
nghèo đã thực hiện được 03 kỳ kế hoạch 5 năm (2001 - 2006, 2006 - 2010,
2011 - 2015) và đang thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2015 - 2020. Thực
hiện mục tiêu giảm nghèo là một chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà
nước ta tính đến thời điểm hiện tại thì thành tích về giảm nghèo của Việt Nam
là rất ấn tượng, được thế giới coi như một điển hình thành công. Cụ thể, tỷ lệ
hộ nghèo năm 1998 là trên 37% đói nghèo về lương thực, thực phẩm, và tỷ lệ
họ đói nghèo năm 1998 là 15%; tới năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam
còn khoảng 11%; tỷ lệ hộ nghèo cả nước cho tới năm 2005 giảm nhanh từ
22% xuống còn 9,45% năm 2010; Trong giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ hộ
nghèo của cả nước theo cuộc tổng điều tra cuối năm 2010 theo chuẩn nghèo
mới là 14,20% xuống còn 7,6% vào cuối năm 2013. Tuy vậy, chính sách giảm
nghèo ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đang được sự quan tâm
như: tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững;
công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế,
tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và cộng đồng còn phổ biến ở nhiều
địa phương, ...
Thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 2015, cùng với cả nước, tỉnh Bắc Ninh đã triển khai thực hiện Nghị quyết


1


80/NQ - CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ
2011 - 2020, Chương tình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2011-2015 và đến năm 2020; Cho tới nay tỉnh Bắc Ninh đã giảm
được số hộ nghèo đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo năm cuối 2011 là 7,27% xuống
còn 2,2% năm 2015.
Để chính sách giảm nghèo đem lại hiệu quả giảm nghèo bền vững trong
thời gian tới. Việc nghiên cứu, đánh giá vấn đề thực trạng chính sách, công cụ
giảm nghèo đối với nhà nước nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng là thật sự
cần thiết.
Vấn đề giảm nghèo ở nước ta cần được phân tích, đánh giá tích cực,
đầy đủ và phải được phân tích, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ, trong đó
có vấn đề liên quan tới chính sách. Riêng đối với giảm nghèo bền vững ở tỉnh
Bắc Ninh nhìn từ giác độ chính sách còn chưa có nghiên cứu nào đề cập tới
một cách chuyên biệt. Do vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vấn đề chính sách
giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ
ngành chính sách công. Với mong muốn để tài này sẽ góp phần nâng cao
nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương về phương pháp tiếp cận lý
luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời qua nghiên
cứu thực trạng vấn đề chính sách giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh sẽ rút
ra được những thành tựu, những mặt hạn chế, bất cập (nếu có) từ chính sách
giảm nghèo bền vững đang thực hiện tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Từ đó có thể
đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền
vững trong thời gian tới, nhằm góp phần đem lại hiệu quả thiết thực trong
công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Bắc Ninh sẽ góp phần thêm kinh nghiệm
cho các địa phương khác trong cả nước về giảm nghèo bền vững.


2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua vấn đề chính sách xóa đói giảm nghèo vẫn luôn
thu hút được sự chú ý và quan tâm của nhiều học giả với nhiều bài viết trên
các báo, tạp chí, nhiều luận văn, các đề tài khoa học và các công trình dưới
dạng tài liệu tham khảo như:
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển “Chính sách
xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum” của Nguyễn Minh Định
(2011); Đề tài này đã nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm
nghèo; phân tích được kết quả thực hiện và đánh giá được các chính sách xóa
đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đã tìm ra được những nguyên
nhân, vấn đề tồn tại của từng chính sách; và đề ra được một số giải pháp để
hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Kon Tum đến năm 2015.
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công “Chính sách
giảm nghèo bền vững từ thực tiễn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” của
Mai Tấn Tuân (2015); Đề tài này đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
chính sách giảm nghèo bền vững tại quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng,
nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, đánh giá thực
trạng, nguyên nhân, kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại
quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công “Chính sách
giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của Lê Thị Thanh Nhàn
(2014); Đề tài này đã nghiên cứu được một số vấn đề lý luận về chính sách
giảm nghèo bền vững tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu kết quả thực
hiện của từng chính sách, đánh giá được những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
trong công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công “Chính sách
giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Sơn La” của Vũ Thị Thu Hằng (2015)


3


Đề tài này đã nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chính sách giảm
nghèo bền vững ở Việt Nam, nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Sơn La, nêu rõ được ưu điểm, hạn
chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế bất cập và đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững.
- Trong sách chuyên khảo “Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực
trạng và giải pháp” của PGS.TS. Lê Quốc Lý chủ biên, xuất bản năm 2012;
Đã nêu một số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; Thực trạng
của đói, nghèo ở Việt Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai
đoạn 2001-2010; một số chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt
Nam thời gian qua; đánh giá tổng quát việc thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; định hướng và mục tiêu xóa
đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới; một số cơ chế nhằm thực
hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa
đói, giảm nghèo ở Việt nam trong thời gian tới. Đây là cuốn sách bổ sung
luận cứ cho công tác hoạch định chính sách xóa đói, giảm nghèo, bổ sung tư
liệu cho công tác đào tạo, nghiên cứu về chính sách xóa đói, giảm nghèo ở
Việt Nam.
Qua những công trình nghiên cứu trên, về phần lý luận mới chỉ có đề
cập tới vấn đề lý luận về xóa đói, giảm nghèo, các quan niệm về đói, nghèo ở
Việt Nam, mà chưa đề cập tới các vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững ở
tỉnh Bắc Ninh. Kết quả thực hiện các chính sách và đánh giá chính sách giảm
nghèo bền vững mới chỉ nghiên cứu kết quả của từng chính sách giảm nghèo
ở thời điểm những năm 2010 trở về trước. Riêng với tỉnh Bắc Ninh từ khi
thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo

bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, cho đến nay chua có công trình

4


nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện từng chính sách giảm
nghèo đang thực hiện trên địa bàn tỉnh. Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài về vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững ở Bắc Ninh,
thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh để có
thể đưa ra những vấn đề chính sách và các giải pháp để hoàn thiện chính sách
giảm nghèo bền vững.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận chính sách giảm nghèo bền vững để xem xét thực tiễn
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở tỉnh Bắc Ninh, qua đó phát hiện
những vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững và trên cơ sở đó đề xuất giải
pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững
và chính sách giảm nghèo bền vững tại Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo từ thực
tiễn tỉnh Bắc Ninh và qua đó phát hiện những vấn đề chính sách giảm nghèo
bền vững.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong
những năm tới đây.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững, công cụ chính sách giảm
nghèo bền vững của Nhà nước được xem xét qua thực hiện trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.


5


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu tại tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu tình hình thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững.
- Thời gian nghiên cứu: trong 03 năm từ năm 2013 tới năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập,
phân tích và khai thác thông tin từ những nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, gồm có các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng,
Nhà nước, Bộ ngành ở địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo,
tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững ở
nước ta hiện nay nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Đồng thời thu thập
các tài liệu của các tổ chức và học giả ở trong và ngoài nước có liên quan tới
đề tài trong thời gian qua.
- Đồng thời cùng kết hợp với các phương pháp chuyên ngành chính
sách công, thống kê, phân tích theo định tính, suy luận logic, diễn giải trong
quá trình phân tích, đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững.
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong tham vấn và kiểm tra
các vấn đề chính sách phát hiện. Các chuyên gia được tham vấn chủ yếu là
các nhà quản lý ở địa phương liên quan tới thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung
kiến thức lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời
biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích chính sách công, đánh giá


6


chính sách công để phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững ở địa phương.
- Từ kết quả nghiên cứu đề tài này minh chứng cho việc vận dụng các
lý thuyết phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết
trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn vấn đề
- Kết quả nghiên cứu của đề tài này trước hết góp phần vào việc nâng
cao nhận thức, hiểu biết đối với các vấn đề chính sách từ thực tiễn thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững tại tỉnh Bắc Ninh, qua đó phát hiện các vấn
đề chính sách, đóng gópvào công tác lãnh đạo, quản lý ở địa phương.
- Với kết quả nghiên cứu được trong đề xuất các những giải pháp hoàn
thiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thực hiện chính sách này ở
tỉnh Bắc Ninh có thể là những gợi ý hữu ích cho những nhà hoạch định chính
sách và quản lý, thực hiện chính sách ở trung ương và các địa phương khác.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội
dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và chính sách giảm nghèo bền vững
ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở
tỉnh Bắc Ninh và các vấn đề chính sách đặt ra.
Chương 3: Hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
tỉnh Bắc Ninh.

7



Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về nghèo
Nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu, không chỉ
xuất hiện ở tất cả các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà ngay cả ở
những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Mức độ của nghèo và tính chất của
nghèo xuất hiện và tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội,
điều kiện kinh tế của từng nước mà mức độ đói nghèo đói có sự khác nhau.
Vấn đề nghèo ở mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ
nghèo và có những chỉ số để xác định chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo của các
quốc gia trước đây thường được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu của
người dân để cho người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập bình quân
mà một hộ gia đình có thể mua sắm, trang bị được những đồ dùng, vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc sinh hoạt tối thiểu trong gia đình như việc ăn, ở, mặc
và các nhu cầu thiết yếu, cần thiết nhất.
Khái niệm nghèo (poverty) được hiểu theo nhiều quan niệm khác
nhau được các tổ chức kinh tế quốc tế, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính
phủ đưa ra.
Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái
niệm nghèo như sau “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này
đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển Kinh tế - Xã hội và
phong tục tập quán của địa phương”

8



Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa về nghèo đói
như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la
(USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại” có thể nói như trên đây là được coi như quan niệm
về đói nghèo tuyệt đối.
Nhưng cũng có một quan niệm khác về đói nghèo mang tính chất triết
lý hơn, kinh điển hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) ông AbapiSan, người từng được giải Nobel về lĩnh vực kinh tế năm
1998 ông cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu hụt cơ hội lựa chọn tham gia vào
quá trình phát triển của cộng đồng”.
Nghèo còn được định nghĩa như là “Sự thiếu hụt, hay sự bất lực trong
việc tiếp cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận” (Ngân hàng thế giới,
2001).
Không những vậy Nghèo còn có cách định nghĩa khác: “Nghèo là một
bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo”. Nhưng
ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng
thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa
phương hay từng quốc gia.
Ở Việt Nam chúng ta, nghèo được xác định như sau: “Nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ
bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng
đồng xét trên mọi phương diện”. [7, tr.30]
1.1.2. Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều là khái niệm mới, thể hiện quan điểm, cách tiếp cận
mới để giải quyết một cách cơ bản hơn, bền vững hơn, cụ thể không phải là
“đơn chiều”, tức là chỉ tính theo thu nhập hay lượng lương thực hay lượng

9



calo tối thiểu cho sự tồn tại của một con người, mà đa chiều, nghĩa là bên
cạnh đó còn có cả các chiều cạnh khác giúp cho con người không chỉ tồn tại
mà còn có cả các cơ hội phát triển. Đo lường nghèo theo nhiều chiều cạnh
giúp nhìn nhận và tạo dựng bức tranh nghèo đầy đủ và toàn diện hơn. Nội
hàm cốt lõi của Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở
mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Theo cách tiếp cận mới, Tổ chức Liên Hợp Quốc (UN) định nghĩa
“Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã
hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không
được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề
nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có
nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải
sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình
vệ sinh” . Tổ chức này cho rằng nghèo đa chiều cần được đo lường thông qua
các tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm
với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là
những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự
tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến
tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã
hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012).
Các tổ chức quốc tế là Oxfam và ActionAid cho rằng chuẩn nghèo đa
chiều là một chỉ số không chỉ liên quan đến mức thu nhập mà còn bao gồm
các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản
(Oxfam và ActionAid, 2010). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional
Poverty Index) có ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống,
hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường
nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.


10


Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Hiện
nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng
thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm điều chỉnh, bổ sung chính sách giảm
nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều, phù hợp và hội nhập với các chuẩn mực
quốc tế.
1.1.3. Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Theo quan điểm, tiếp cận mới về nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững
là giảm nghèo sao cho những người nghèo có được nguồn thu nhập ổn định
và các cơ hội có thể vươn lên thoát khỏi tình trạng nghèo và ổn định cuộc
sống một cách lâu dài.
1.1.4. Khái niệm về chính sách
Chính sách được khái niệm theo nhiều cách khác nhau. Từ điển tiếng
Việt định nghĩa “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt
một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực
tế mà đề ra” [18, tr.157].
Võ Khánh Vinh định nghĩa chính sách “là những đường hướng hành
động (ứng xử) cơ bản của chủ thể và các hiện tượng tồn tại trong quá trình
vận động nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [24].
Đỗ Phú Hải định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực
hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu của tổng thể đã xác
định” [9, tr.12].
Trong luận văn này sử dụng các khái niệm Chính sách công của Võ
Khánh Vinh và Đỗ Phú Hải đã nêu trên để cụ thể hóa thành khái niệm về
chính sách giảm nghèo bền vững nêu dưới đây.
1.1.5 Khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững
Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Chính


11


phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết một cách
bền vững các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người
nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn
và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục
tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước.
1.2. Chủ thể và vai trò, ý nghĩa của chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Chủ thể chính sách giảm nghèo bền vững
Trong giai đoạn hiện nay chủ thể của chính sách giảm nghèo bền vững
ở nước ta gồm có 3 chủ thể chính là: cơ quan nhà nước; người (hộ) nghèo; và
các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị.
Cơ quan nhà nước với tư cách là cơ quan hoạch định, cụ thể hóa và tổ
chức thực hiện chính sách. Ở cấp địa phương, đó là Ủy ban nhân dân các cấp,
các Ban chỉ đạo giảm nghèo của các cấp có thành viên kiêm nhiệm là các cơ
quan chức năng, chuyên môn của Nhà nước như: Lao động - Thương binh và
xã hội, Tài chính - Kế hoạch, Tài nguyên môi trường, , Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội.
Ở nước ta hiện nay Người (hộ) nghèo là một chủ thể chính sách giảm
nghèo với tư cách không chỉ là đối tượng, người hưởng thụ chính sách mà còn
là “nhân vật” chính thực hiện chính sách. Mức độ vươn lên thoát nghèo của
họ là chỉ báo quan trọng của chất lượng chính sách và hiệu quả thực hiện
chính sách giảm nghèo cũng như tính bền vững của chính sách và thực hiện
chính sách này.
Các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Hội nông dân, Hội
phụ nữ, đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, …), xã hội - nghề nghiệp (Hội
trồng trọt, Hội chăn nuôi, …) cùng với cộng đồng các doanh nghiệp có quan
tâm và có đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm

nông nghiệp đều là những chủ thể quan trọng trong tham gia thực hiện chính

12


sách phát triển nói chung và chính sách giảm nghèo bền vững nói riêng. Sự
phối hợp chặt chẽ của các tổ chức này với các cơ quan quản lý nhà nước là
yếu tố và điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi, hiệu quả chính sách
giảm nghèo bền vững.
1.2.2. Vai trò và ý nghĩa của chính sách giảm nghèo bền vững
Trong giai đoạn hiện nay chính sách giảm nghèo bền vững luôn được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta và chính sách giảm nghèo bền vững
đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc ổn định chính trị, xã hội. Kết
quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững giúp cho người nghèo có được
cuộc sống, bao gồm cả về văn hóa, tinh thần và vật chất tối thiểu cùng các cơ
hội vươn lên. Về phương diện quản lý phát triển xã hội, sự bền vững về thoát
nghèo, giảm nghèo giúp xã hội phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững
hơn. Nghèo là một tiêu chí quan trọng phản ánh tính bền vững trong phát triển
của một địa phương, một quốc gia và cả thế giới. Ở nước ta, tỷ lệ nghèo là 1
trong số 30 chỉ tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2011 - 2030.
1.3. Quan điểm, mục tiêu và công cụ chính sách giảm nghèo bền vững ở
Việt Nam
1.3.1. Quan điểm giảm nghèo bền vững
Quan điểm giảm nghèo bền vững trong Nghị quyết số 30a/2008/NQ CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và
bền vững đối với 61 huyện nghèo trong phần I về Quan điểm mục tiêu đã nêu
rõ có ba quan điểm chủ yếu sau:
1. Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà
nước và là sự nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của Nhà nước,
của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của
từng địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm

nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của

13


Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của
người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa
đói giảm nghèo.
2. Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo là
nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp
ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự
phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời,
phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến
tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình.
3. Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung
trong cả nước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Căn cứ vào tinh thần
của Nghị quyết này, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn thêm
một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào dân tộc
thiểu số sống tập trung để huy động nguồn lực của địa phương đầu tư hỗ trợ
các huyện này giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững.
1.3.2. Mục tiêu chính sách giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững trong những năm qua luôn là chủ trương, đường
lối và là mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Nó đã được cụ thể
hóa những mục tiêu được thể hiện tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 19 tháng 5 năm 2011. Không chỉ có vậy
Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ - CP về định
hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Và gần nhất
ngày 02 tháng 9 năm 2016 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình
mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Chương trình

đã đưa ra những mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể như:

14


+ Mục tiêu tổng quát: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn
chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an
sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các
địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các
dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp
cận thông tin), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn
2016 - 2020 theo Nghị quyết Quốc hội đề ra.
+ Mục tiêu cụ thể:
Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1% - 1,5%/năm
(riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu
số giảm 3% - 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai
đoạn 2016 - 2020;
Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo,
bảo đảm thu nhập bìnhquân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020
tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã
nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần);
Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải
thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của
người nghèo;
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn,
bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông
thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y
tế, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt; tạo điều kiện để người dân tham gia thực
hiện các hoạt động của Chương trình để tăng thu nhập thông qua tạo việc
làm công nhằm phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu

được đầu tư, góp phần giảm rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu,
cải thiện tiếp cận thị trường.

15


1.3.3. Công cụ chính sách giảm nghèo bền vững
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một nhiệm vụ quan trọng
chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta cần phải có nhiều giải pháp và công cụ
giảm nghèo mang tính bền vững. Hiện tại ở Việt Nam công cụ giảm nghèo
bền vững hiện nay bao gồm những chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung và
các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù được thực hiện thông qua các
chương trình, dự án giảm nghèo bền vững.
Những chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung là một nhóm các chính
sách đã được chính phủ đưa ra nhằm hỗ trợ cho người nghèo theo chuẩn
nghèo giai đoạn 2011 - 2015 trên cả nước được cụ thể hóa như sau:
Chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho
người nghèo tạo điều kiện thuận lợi, tốt nhất cho người nghèo có thể được
tiếp cận các nguồn vốn và cùng với đó là việc hướng dẫn cho hộ nghèo cách
làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào
sản xuất nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với người
nghèo, nhất là những hộ có người khuyết tật, hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ.
Để thực hiện tốt nhất chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là
lao động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trường, lớp học, thiết
bị, đào tạo giáo viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động
nghèo. Mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với
lao động trên cả nước.
Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện có hiệu quả
chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi
phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non; tiếp

tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên nhất là
học sinh nghèo. Thực hiện chính sách ưu đãi, thu hút đối với giáo viên công
tác ở đại bàn khó khăn; khuyến khích xây dựng và mở rộng “Quỹ khuyến

16


học”; ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở trường, lớp học ở xã nghèo,
thôn, bản đặc biệt khó khăn.
Chính sách hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng góp phần thực hiện có hiệu
quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo
hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ
người nghèo mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ
việc cung cấp dinh dưỡng cho phụ nữ, trẻ em nghèo ở địa bàn nghèo. Tăng
cường hơn nữa chính sách ưu đãi, thu hút đối với cán bộ y tế công tác ở địa
bàn nghèo. Ưu đãi đầu tư trước để chuẩn cơ sở bệnh viện, trạm y tế ở các
huyện, xã nghèo.
Chính sách hỗ trợ về nhà ở đã được triển khai thực hiện trong những
năm qua đã đem lại hiệu quả thiết thực, do đó trong giai đoạn 2011-2015 tiếp
tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn,
miền núi, để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết
tật. Xây dựng cơ chế, chính sách của địa phương để hỗ trợ nhà ở đối với
người nghèo ở đô thị trên cơ sở huy động nguồn lực của cộng đồng, gia đình,
dòng họ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình đầu tư xây dựng nhà ở
cho người có thu nhập thấp.
Chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý
miễn phí tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của
mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên
thoát nghèo.
Chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin, đây là

chính sách cần phải tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin
về dưới cơ sở, đa dạng hóa các hình thức, hoạt động tuyên truyền, giúp cho
người nghèo được tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến rộng rãi các

17


mô hình giảm nghèo đã mang lại hiệu quả cao, những gương điển hình về
thoát nghèo.
Những chính sách hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đặc thù là nhóm các chính
sách mà Chính phủ đã đưa ra nhằm thực hiện và hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
ưu tiên đối với hộ nghèo, người nghèo là người dân tộc thuộc vùng dân tộc
thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo và thôn, bản đặc biệt khó khăn. Chính sách
này được thể hiện một cách cụ thể như sau:
Hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số; hộ nghèo, người nghèo sinh
sống ở huyện nghèo, xã nghèo, xã an toàn khu, xã biên giới và thôn, bản đặc
biệt khó khăn được hưởng các chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng
thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008
của Chính phủ. Hộ nghèo ở các thôn, bản giáp biên giới không thuộc huyện
nghèo trong thời gian chưa tự túc được lương thực được hỗ trợ 15kg
gạo/khẩu/tháng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ; Có chính sách ưu đãi cao hơn về mức đầu tư, hỗ trợ lãi
suất đối với hộ nghèo ở các đại bàn đặc biệt khó khăn; Mở rộng chính sách cử
tuyển đối với học sinh thuộc hộ gia đình sinh sống ở các địa bàn khó khăn,
đặc biệt khó khăn; Xây dựng chính sách học bổng cho con em hộ nghèo, dân
tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn học đại học; Ưu tiên hỗ trợ nhà
văn hóa cộng đồng, đưa thông tin về cơ sở, trợ giúp pháp lý miễn phí đối với
đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Xây dựng dự án
bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người, dự án định canh, định cư để hỗ trợ
người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn.

Chính sách ưu đãi đối với huyện nghèo, xã nghèo nhằm tạo điều kiện
cho huyện nghèo được tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết số
30a/2008/NQ-CP, bao gồm: Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu

18


nhập, chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán
bộ đối với các huyện nghèo, chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả
thôn, bản, xã và huyện. Đối với xã nghèo: Ưu tiên đầu tư trước để hoàn thành,
đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới đối với cơ sở trường lớp học, trạm y tế,
nhà văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi;
Ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới ở các xã đặc
biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã an toàn khu; Mở rộng
chương trình dân quân y kết hợp; xây dựng mô hình giảm nghèo gắn với an
ninh quốc phòng để hỗ trợ sản xuất, tạo thu nhập cho người nghèo trên địa
bàn biên giới; tăng cường bộ đội biên phòng về đảm nhiệm vị trí cán bộ chủ
chốt ở các xã vừng biên giới.
Chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án sử dụng vốn
trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và các chương trình khác phải tập trung các
hoạt động và nguồn lực ưu tiên đầu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo
để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các địa bàn này.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách giảm nghèo bền vững và chuẩn
nghèo đa chiều ở Việt Nam
1.4.1. Các yếu tố chủ quan
- Thể chế, chính sách được coi là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất trong
việc hiện thực hóa các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta, trong
số rất nhiều các chính sách nhằm hướng tới giảm nghèo khu vực nông thôn có
thể kể tới đó là Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban

chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thực
hiện quan điểm chỉ đạo đó Chính phủ đã ban hành Quyết định số
800/2010/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Điều này đã
thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo ở nước ta

19


hiện nay, từ việc có mười sáu chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay chúng
ta chỉ còn hai chương trình và đều tập trung cho việc giảm nghèo và phát triển
hạ tầng nông thôn.
- Bên cạnh đó là việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức và cán bộ hướng tới
việc tinh gọn và hiệu quả. Nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý và cán bộ
có vai trò nòng cốt. Đồng thời là sự phối hợp đồng bộ của các tổ chức đoàn
thể chính trị tại địa phương trong việc triển khai các chương trình mục tiêu
quốc gia, các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Khả năng linh
hoạt lồng ghép các nội dung khác nhau trong quá trình thực hiện các chính
sách giảm nghèo bền vững và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.
- Yếu tố quan trọng tiếp theo mà chúng ta phải hết sức lưu ý đó là vai
trò tham gia của người dân trong việc thực hiện các chương trình, dự án giảm
nghèo. Nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia tích cực của người dân
luôn phải được ưu tiên hàng đầu, người dân vừa là đối tượng hưởng lợi vừa là
chủ thể của khu vực nông thôn. Tuy nhiên việc huy động sức dân phải phù
hợp với tình hình thực tế, khả năng đóng góp và tham gia của người dân,
tránh việc huy động quá sức dân.
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như đã nêu ở trên thì những nhân
tố như: Uy tín, năng lực của người lãnh đạo đứng đầu địa phương, khả năng
quản lý cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp, tôn giáo, phong tục tập quán thói
quen của người dân địa phương cũng có những ảnh hưởng nhất định tới việc

phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn nếu như không được quan tâm đúng mức.
Trong quá trình triển khai các Nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước cần hết sức linh hoạt sáng tạo trong việc áp dụng thực tế hành động.
1.4.2. Các yếu tố khách quan
1.4.2.1. Điều kiện tự nhiên, đất đai
- Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên

20


×