Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục GIÁ TRỊ SỐNG CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG, THỊ xã PHÚC yên, TỈNH VĨNH PHÚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (567.53 KB, 117 trang )

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban chấp hành

BCH

Ban giám hiệu

BGH

Cán bộ giáo viên

CBGV

Cán bộ quản lý

CBQL

Cha mẹ học sinh

CMHS

Cơ sở vật chất

CSVC

Đoàn viên thanh niên


ĐVTN

Giáo dục và đào tạo

GD & ĐT

Giáo viên

GV

Giáo viên chủ nhiệm

GVCN

Giáo dục giá trị sống

GD GTS

Giá trị sống

GTS

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

HĐGDNGLL

Trung học phổ thông

THPT


Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

TNCSHCM


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1

1.1
1.2
1.3
Chương 2

2.1
2.2
2.3
Chương 3

3.1

3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
Các khái niệm cơ bản
Nội dung quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh
trung học phổ thông
Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị sống và

quản lý giáo dục giá trị sống
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Khái quát tình hình kinh tế- xã hội, văn hoá, giáo dục
của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh trung
học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh
trung học phổ thông ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊ
XÃ PHÚC YÊN,TỈNH VĨNH PHÚC
Yêu cầu xây dựng các biện pháp

3.2 Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh
trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

15
15
28
35

42

42
45
50

62
62
65
85
92
95
99


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục quyết định tương lai của mỗi con người và của cả đất nước,
dân tộc, do vậy, giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội và là
mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo, của mỗi gia đình và của cả cộng
đồng xã hội.
Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến phát triển
giáo dục. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) khẳng định: “Giáo
dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội”[17,
tr. 2] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế…” [18, tr. 2] Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào
tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;

hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm gần đây, để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của
người học, giáo dục phổ thông nước ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn
trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là tiếp cận giáo dục giá trị sống,
hình thành kĩ năng sống cho người học đó là: “Học để biết, Học để làm, Học
để khẳng định mình và Học để cùng chung sống”.
Giá trị sống là đòi hỏi khách quan của xã hội, của sự phát triển kinh tếxã hội. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, nhất là trong giai đoạn hiện nay, do tính đa dạng
của sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế, do nhận thức, quyền lợi,


4
nguyện vọng, khả năng... của mỗi người khác nhau nên tự xác định những giá
trị để sống và vì nó mỗi người hành động để đạt tới những giá trị đó đã trở
thành một vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu. Song, ở thời đại nào cũng có
những giá trị chung của cộng đồng, của dân tộc, của thời đại. Nếu mỗi cá
nhân giải quyết hợp lý những giá trị sống phù hợp với giá trị của dân tộc, của
thời đại thì sẽ tạo ra sự đồng thuận trong hành động của cá nhân với dân tộc
và khi ấy mỗi người là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, góp phần tích
cực vào sự phát triển xã hội. Có thể khẳng định giá trị sống vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của quá trình phát triển nhân cách.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới, giá
trị sống trong giới trẻ đang có nhiều biến động, đã xuất hiện các xu hướng
mâu thuẫn giữa giá trị vật chất với giá trị tinh thần, giữa lợi ích xã hội với lợi
ích cá nhân..., thế hệ trẻ Việt Nam đang chịu nhiều tác động đa chiều phức
tạp, giá trị sống có những biểu hiện lệch lạc. Các nghiên cứu về lứa tuổi học
sinh hiện nay cho thấy học sinh ngày càng có nhiều khoảng trống về giá trị
sống, thiếu kĩ năng sống. Trong nhà trường phổ thông nói chung và trong các

trường THPT ở thị xã Phúc Yên nói riêng, một bộ phận không nhỏ thanh,
thiếu niên học sinh hiện nay chưa được định hướng đúng đắn về các giá trị
sống của bản thân, không xác định được vai trò trách nhiệm của mình đến gia
đình, xã hội, và cuộc sống bản thân. Nhiều thanh niên, học sinh có những biểu
hiện hành vi, đạo đức xa rời lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc.
Tình trạng bạo lực, lạm dụng, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, thiếu tôn
trọng người khác cũng như thiếu ý thức bảo vệ môi sinh ngày càng đáng báo
động …nguyên nhân chính cũng từ sự thiếu hụt các giá trị sống của học sinh.
Mặt khác, ở nước ta hiện nay nhận thức về giá trị sống và kỹ năng
sống, cũng như việc thể chế hóa giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống trong
giáo dục phổ thông chưa thật cụ thể. Hoạt động giáo dục trong nhà trường còn
nặng về dạy “chữ”, chủ yếu dạy kiến thức, thi cử, nhẹ về “dạy người”, chưa
thực sự đầu tư cho việc giáo dục thái độ, hành vi, hình thành nhân cách, định


5
hướng các giá trị, kĩ năng cần thiết cho học sinh. Các nhà trường luôn bị giới
hạn bởi sự quá tải của chương trình chính khóa, sức ép của các con số đánh
giá về trí dục, …Trang bị cho học sinh “ Học để làm” là chính, chưa chuẩn bị
để các em “ Học làm người”, nên các chương trình giáo dục giá trị sống và kĩ
năng sống chưa được thực hiện triệt để.
Học sinh trường THPT trên địa bàn Phúc Yên cũng không ngoài thực
trạng trên. Các em đang rất cần được trang bị những giá trị sống căn bản, một
nền tảng đạo đức cốt lõi, có lối sống lành mạnh, văn hóa, tiến bộ và nhân bản.
Trở thành công dân có nhân cách hoàn thiện, vững vàng bước vào cuộc sống.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài “Quản lý giáo
dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh
Phúc” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Những nghiên cứu ở nước ngoài

Từ những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, hai khái niệm thường được
nhắc trong giáo dục nhân cách cho trẻ em là giáo dục giá trị sống ( living
values) và kĩ năng sống (life skills). Đó chính là cách gọi khác của giáo dục
nhân cách con người. Giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã
thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông
qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc
giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh. Tổ chức Hợp
tác phát triển và hỗ trợ kĩ thuật vùng Flamăng,Vương quốc Bỉ đã tổ chức hội
thảo và xây dựng chương trình, tài liệu tập huấn với chủ đề “Hiệu trưởng
trường trung học cơ sở với vấn đề giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống và giao
tiếp ứng xử trong quản lí”. Hội thảo đã gợi mở ra con đường giáo dục giá trị
sống, kĩ năng sống cho học sinh chính là con đường hiệu quả giải quyết vấn


6
đề khủng hoảng phát triển nhân cách học sinh, đồng thời góp phần làm giảm
“sự biến động phức tạp của một số giá trị trong nhân cách con người dẫn đến
sự xuống cấp của đạo đức xã hội”
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, chương trình giáo dục các giá trị
sống được UNESCO, Ủy ban UNICEF của Tây Ban Nha và Hiệp hội Hành
tinh hỗ trợ với sự tham khảo ý kiến từ Ban Giáo dục của UNICEF (New
York) đã cho ra đời cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (2010) của
DIANE TILLMAN. Nội dung chính là những hoạt động giá trị dành cho
thanh niên 15-18 tuổi. Tác giả đưa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa
trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo viên và
các huấn luyện viên đối với trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu, phát
triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: “Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc,
Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị,
Khoan dung và Đoàn kết”.

Ủy ban Giáo dục quốc tế thế kỉ XXI (Viết tắt là ICDE) xuất bản cuốn
sách “Tôi tin tôi có thể làm được” (I Believe I Could Do It) giới thiệu cho các
trường học trong thế kỉ XXI. ICDE có trọng trách đưa ra những xu hướng lớn
ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục trên toàn cầu. Nội dung chính đề
cập đến “Học cách làm người, Học cách ứng xử”
Những nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, giáo dục nhân cách con
người với những giá trị sống căn bản và nền tảng đạo đức cốt lõi được xem là
vấn đề quan trọng, luôn được các nhà giáo dục trên thế giới đặc biệt quan tâm.
* Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trên nền tảng của văn hoá bản địa, Việt Nam còn tiếp thu được những
tinh hoa văn hoá nhân loại. Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã
hội Việt Nam đã làm cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong
suốt chiều dài lịch sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và
được lưu truyền qua ca dao, tục ngữ và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc
của nhân cách con người Việt Nam. Lòng thương người của dân tộc Việt Nam


7
xuất phát từ tình cảm trân trọng, yêu quý con người, coi "người là hoa của
đất"; "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử
hàng ngày, người Việt Nam coi trọng tình nghĩa "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi
đầy". Tình cảm vợ chồng "đầu gối tay ấp"; tình anh em "như thể tay chân";
tình cảm đối với bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra"; tình cảm, trách nhiệm đối với làng xóm: "Sớm khuya tối
lửa tắt đèn có nhau”; tình yêu đất nước, tinh thần đoàn kết: "Nhiễu điều phủ
lấy giá gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng"... [ 47, tr.15]
Tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị
đạo đức nhân văn” (1998) đã nghiên cứu, đề xuất trang bị cho học sinh, sinh
viên hệ thống giá trị cốt lõi, cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ
trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi,

phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại.
Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về
giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh
Bình. Trong giáo trình Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông (2013),
tác giả đã triển khai nghiên cứu tổng quan về giá trị sống, kỹ năng sống, các
phương pháp tiếp cận giá trị sống, kỹ năng sống trong giáo dục ở nhà trường
phổ thông, đồng thời đề xuất một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh phổ thông.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa,Trần Văn Tính,
Vũ Phương Liên trong cuốn sách “Phương pháp giáo dục giá trị sống và kỹ
năng sống cho học sinh trung học phổ thông” (2012) đã luận giải vấn đề lồng
ghép giữa giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống, trong đó giáo dục giá trị sống
luôn là nền tảng, kĩ năng sống là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể
hiện giá trị sống. Nghiên cứu của các tác giả đã giúp cho giáo viên trung học
định hướng tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống trong nhà
trường, chỉ ra rằng giáo viên có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt động giáo


8
dục giá trị sống và kĩ năng sống một cách riêng biệt hoặc lồng ghép trong dạy
học các môn học mà giáo viên đảm nhận.
Tác giả Nguyễn Công Khanh trong cuốn “Phương pháp giáo dục giá
trị sống, kĩ năng sống” (2012) đã nghiên cứu về đổi mới, đa dạng hóa phương
pháp giáo dục giá trị sống và phát triển kĩ năng sống đáp ứng nhu cầu, hứng
thú, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, sưu tầm các câu chuyện ẩn
chứa trong đó các triết lí, các bài học giáo dục giá trị sống…
Các tác giả Bùi Văn Trực, Phạm Thế Hưng - Trung tâm huấn luyện Kĩ
năng sống Phù Sa Đỏ, đã tập hợp các chuyên đề, bài giảng, phương pháp,
truyện ngụ ngôn…về giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống
Chương trình phát triển giáo dục trung học cho lưu hành “Tài liệu tập

huấn giáo viên chủ nhiệm với công tác tư vấn tâm lí - giáo dục cho học sinh
trung học”. Nhằm trang bị cho giáo viên quy trình, công cụ tư vấn và các loại
hình tư vấn học sinh một số vấn đề tâm lí mà học sinh có thể gặp phải, cách
giúp đỡ các em phòng ngừa, đối mặt và giải quyết trong các quan hệ xã hội.
Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu tập huấn
“Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống
và giao tiếp ứng xử trong quản lí” do các tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn
Thanh Bình biên soạn để triển khai trong ngành giáo dục.
Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến
quản lí giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục.
Tác giả Nguyễn Hữu Đức, với đề tài luận văn quản lý giáo dục:“Quản
lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông Trần Hưng
Đạo - Nam Định trong giai đoạn hiện nay” (2010), đã luận giải những vấn đề
lý luận về kỹ năng sống và đề xuất những giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trung học phổ thông Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định.
Tác giả Lương Thị Hằng với đề tài luận văn quản lý giáo dục:“Biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống ở trường trung


9
học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” (2010) đã đề cập khá rộng, cả
những hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, trên cơ sở đó đề xuất
những biện pháp khả thi để quản lý hoạt động này phù hợp với những đặc
điểm, thực tiễn của học sinh và nhà trường Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Tác giả Trần Thị Hải Yến với đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
“Những biện pháp quản lý nhằm "xây dựng trường học thân thiện" tại trường
trung học phổ thông Việt Bắc - thành phố Lạng Sơn” (2010), tác giả Lê Anh
Tuấn với đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý giáo dục
giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Thạch Thất, Hà

Nội” (2011) và tác giả Nguyễn Văn Song với đề tài luận văn thạc sĩ quản lý
giáo dục “Quản lý hoạt động giáo dục học sinh có hành vi lệch chuẩn ở
trường trung học phổ thông Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” (2012) đã luận giải
những khía cạnh khác nhau của giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá
trị sống để đề xuất những biện pháp đảm bảo cho hoạt động giá trị sống thực
hiện tốt mục tiêu, nội dung, xây dựng những chuẩn mực, giá trị sống cốt lõi
nhằm phát triển toàn diện nhân cách học sinh trung học phổ thông.
Tóm lại, trong những năm qua, giáo dục giá trị sống trong nhà trường
đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Các công trình trên rất đa dạng,
phong phú, đã phân tích vấn đề giáo dục giá trị sống dưới nhiều góc độ khác
nhau và có chiều sâu. Đã làm rõ được nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thực
tiễn của giáo dục kỹ năng sống.
Qua việc nghiên cứu, tham khảo các công trình nghiên cứu nêu trên, có
thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Một là, vấn đề giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống
đã được đề cập và nghiên cứu từ rất lâu ở nước ngoài và ở nước ta. Các công
trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu đều nhấn mạnh tầm quan trọng, tính cấp
thiết của giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống trong giáo dục, hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay. Chính
vì vậy, giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống luôn là một


10
trong những mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý
giáo dục, các nhà khoa học.
Hai là, vấn đề giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống
được nhiều tác giả nghiên cứu ở góc độ lý luận, cá biệt, có những công trình
mang tính kinh viện, chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất, mổ xẻ những
cách hiểu khác nhau về kỹ năng sống và những nội dung chung nhất của kỹ
năng sống. Chưa có nhiều công trình quan tâm giải quyết những đòi hỏi cấp

bách của thực tiễn là làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo
dục kỹ năng sống một cách có hiệu quả, hình thành kĩ năng sống tốt, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, xây dựng học sinh trở thành
con ngoan trò giỏi.
Ba là, đã có một số công trình nghiên cứu, hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý giáo dục giá trị
sống, kỹ năng sống cho các cấp học nói chung của ngành giáo dục. Tuy nhiên
còn có rất ít những công trình quan tâm giải quyết vấn đề giáo dục giá trị
sống và quản lý giáo dục giá trị sống ở một bậc học cụ thể, trên một địa bàn
cụ thể. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo
dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ
thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Do vậy, đề tài: “Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học
phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là một nội dung mới, đáp ứng
những đòi hỏi cấp thiết từ thực tế giáo dục đào tạo của các nhà trường trung
học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục giá trị sống cho
học sinh trung học phổ thông, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục giá trị
sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu


11
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục giá trị sống cho
học sinh trung học phổ thông.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục giá trị sống và quản lý giáo
dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc
- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung

học phổ thông thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
*Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ
thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
*Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống là
một phạm trù rộng, phức tạp liên quan đến các chủ thể quản lý giáo dục, lực
lượng giáo viên, học sinh, các tổ chức chính trị xã hội địa phương, gia đình
học sinh…, luận văn chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu các biện pháp quản lý
giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông.
- Về không gian và thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quản lý
giáo dục giá trị sống của 4 trường trung học phổ thông: Trường trung học phổ
thông Bến Tre; Trường trung học phổ thông Phúc Yên; Trường trung học cơ
sở và trung học phổ thông Hai Bà Trưng; Trường trung học phổ thông Xuân
Hòa ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Các số liệu điều tra, khảo sát sử dụng để nghiên cứu trong phạm vi 5
năm từ năm 2010 đến 2014.
5. Giả thuyết khoa học


12
Giáo dục giá trị sống là một vấn đề rộng lớn và phức tạp. Chất lượng
giáo dục giá trị sống bị chi phối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có vai
trò của quản lý. Nếu trong quá trình quản lý giáo dục giá trị sống, các chủ thể
quản lý thực hiện đồng bộ và hiệu quả những vấn đề như: kế hoạch hóa quá
trình quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống; tổ chức bồi dưỡng nâng cao

nhận thức, kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho các
lực lượng giáo dục và đội ngũ học sinh; tổ chức các lực lượng giáo dục thực
hiện hoạt động giáo dục giá trị sống; hoàn thiện cơ chế quản lý, xây dựng và
ban hành các văn bản pháp quy quản lý giáo dục giá trị sống; quản lý việc
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội trong giáo dục giá trị
sống cho học sinh; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giá trị
sống thì sẽ quản lý có hiệu quả giáo dục giá trị sống của nhà trường, góp phần
phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo
dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ
Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, quản lý giáo
dục; dựa trên các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp của khoa học quản lý
giáo dục, lý luận về giáo dục giá trị sống cho học sinh trong các nhà trường.
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng kết hợp
các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cụ thể là:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Hệ thống hoá, khái quát hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng về giáo dục giá trị sống và quản lý
giáo dục giá trị sống cho học sinh.


13
Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp các số
liệu, các báo cáo về giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống
của nhà trường.
Nghiên cứu các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý

và quản lý giáo dục; các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học có liên
quan đến đề tài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí, báo, kỷ yếu hội
thảo khoa học...
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Điều tra xã hội học đối với 10 cán bộ quản lý,
120 giáo viên, 20 cán bộ thuộc các lực lượng giáo dục khác và 60 CMHS để
làm cơ sở đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các biện pháp
trong quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh.
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động lãnh đạo, hoạt động dạy
học của giáo viên; hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh để rút ra những
kết luận về nội dung nghiên cứu.
Phương pháp toạ đàm, trao đổi: Toạ đàm, trao đổi với cán bộ quản lý,
giáo viên và học sinh từ đó rút ra những kết luận cho nhiệm vụ nghiên cứu.
Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu từ những vấn đề đã và
đang diễn ra nhằm đúc rút thành những kinh nghiệm về quản lý giáo dục giá
trị sống cho học sinh trung học phổ thông ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản
lý về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan trong quá trình nghiên
cứu đề tài.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để xử lý, phân tích, tổng hợp kết quả điều tra.
7. Ý nghĩa của luận văn


14
Luận văn nghiên cứu thành công sẽ góp phần phát triển và làm phong
phú thêm cơ sở lý luận về giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị
sống cho học sinh trung học phổ thông.
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn của quá trình
giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học

phổ thông, đóng góp những luận cứ khoa học cho lãnh đạo, giáo viên, các lực
lượng tham gia giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học
sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong giáo dục giá trị
sống và quản lý giáo dục giá trị sống ở các trường trung học phổ thông nói
chung và ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục ở các nhà trường.
8. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (9 tiết); kết luận và kiến
nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.


15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Khái niệm giá trị sống
Để nghiên cứu khái niệm giá trị sống cần phải làm rõ khái niệm giá trị.
Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết đến những giá trị chân, thiện,
mỹ. Các dấu ấn của nền văn hóa phương Đông cũng như phương Tây đã xuất
hiện nhiều tác phẩm của các nhà triết học, các nhà khoa học, trong đó đề cập
đến những giá trị văn hóa và tinh thần. Mỗi một xã hội, một dân tộc, một thời
đại đều có những giá trị khác nhau, phổ cập nhất là 2 hệ giá trị: giá trị vật
chất, giá trị tinh thần. Từ hai hệ giá trị này được phát triển thành nhiều giá trị
quy định, định hướng cho sự phát triển của xã hội và của cả nhân loại trong
cuộc sống. Mỗi dân tộc, đất nước, giai cấp có những giá trị riêng, đồng thời
tiếp thu các giá trị chung của nhân loại làm cho hệ giá trị phong phú, đa dạng
theo thời gian.
Theo quan niệm chung nhất thì giá trị là những thành tựu mà con người

có được trong sự phát triển của bản thân mỗi con người và các quan hệ xã hội
của mỗi con người. Giá trị xuất hiện trong mối quan hệ xã hội, từ thực tiễn
đấu tranh, lao động và sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia dân tộc. Mỗi
thời đại lịch sử, xã hội dân tộc và từng cá nhân đều có sự lựa chọn giá trị phục
vụ cho lợi ích của giai cấp dân tộc và cá nhân mình, song xu hướng chung là
hướng tới sự phát triển toàn diện của nhân cách, phấn đấu vì các giá trị chân,
thiện, mỹ.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết thì: “Giá trị là sự khẳng định
hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với
con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn xã hội nói chung. Giá trị được xác định


16
không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút
(lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người,
phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và
phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc
chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [46, tr.1462]
Theo Từ điển Tiếng Việt thì giá trị là “cái mà người ta dùng làm cơ sở
để xem xét một vật có lợi ích tới mức nào đối với con người” [45, tr. 354]
Tiếp cận các quan điểm về giá trị nói trên, khi đề cập đến khái niệm giá
trị cần tính đến những điểm dưới đây:
Một là, bất cứ sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị, dù là vật thể hay phi
vật thể được con người thừa nhận, cần đến nó như một nhu cầu trong đời sống.
Hai là, giá trị của một sự vật, hiện tượng chỉ tồn tại trong mối liên hệ
với nhu cầu của con người. Tùy thuộc vào con người có hay không có nhu
cầu mà sự vật, hiện tượng ấy có hay không có giá trị.
Ba là, giá trị luôn có tính xã hội, tính lịch sử, tính thực tiễn, được hình
thành trong hoạt động của con người.
Bốn là, trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình

cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị
được thể hiện ở sự lựa chọn, đánh giá của chủ thể.
Trong hệ thống giá trị thì giá trị sống được đánh giá là giá trị cốt lõi,
định hướng và quyết định sự phát triển của nhân cách.
Khi đề cập giá trị sống là muốn nói đến những giá trị thiết thực cho cuộc
sống của từng cá nhân con người đang sống, hoạt động, gắn liền với kỹ năng
sống, giúp người ta sống và làm việc hiệu quả hơn cho cá nhân và xã hội.
Giá trị sống cũng có nguồn gốc hình thành, biến đổi, duy trì... theo
những quy luật xã hội như các giá trị nói chung. Nhưng khi giáo dục hay đánh
giá giá trị sống người ta chủ yếu hướng vào bình diện cá nhân.


17
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Phạm trù giá trị sống được tạo nên
bởi kĩ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn. Đất nước
nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá trị bản thân đúng
đắn và hợp thời, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống
giáo dục và nền giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại”
Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý
giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống
trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống
mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Có
người cho rằng tài sản vật chất là trên hết. Có người cho rằng tình yêu thương
mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung thực, hay sự
bình yên…
Tác giả cho rằng: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con
người với con người. Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn
mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống,
được cả xã hội thừa nhận.

Giá trị sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định
hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với
chuẩn mực của xã hội.
Giá trị sống là cái gốc, định hướng thúc đẩy cá nhân có thái độ, suy
nghĩ, cảm xúc và hành động. Kĩ năng sống là hành vi biểu hiện, cách thức
hành động của mỗi cá nhân. Cụ thể là chất lượng các mối quan hệ, tình trạng
sức khỏe, trạng thái tâm trí, sử sụng thời gian, sử dụng các kĩ năng.


18
Có thể khái quát qua sơ đồ sau:

Hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tiếp thu được
những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ
với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật
giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm.
Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở hiền gặp lành, Phật giáo khuyến khích con
người ăn ở nhân đức để có được cuộc sống tốt đẹp trong thế giới mai sau.
Phật giáo cũng củng cố cách sống nhân nghĩa, chân tình của người Việt Nam.


19
Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam đã làm
cho các giá trị truyền thống được bồi đắp thường xuyên trong suốt chiều dài
lịch sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản
sắc của nhân cách con người Việt Nam.
Trong các giá trị, nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Tinh thần yêu
nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của
nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của

Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc. Ở Việt Nam, chúng ta có
thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc
Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị
truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểm của mọi
tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích
cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát
triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc.
Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu
quý con người "Một mặt người bằng mười mặt của” Tinh thần thương yêu
con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau "lá lành đùm
lá rách", "chị ngã em nâng", "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ"... Ở tình
cảm bao dung, vị tha: "đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại".[ 47, tr.15]
Tóm lại, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của dân tộc ta,
một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương đồng loại và là
"cái gốc của đạo đức. Không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước,
thương nhân dân được".
Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên
khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Đây là một trong những
nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam “Một cây
làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”


20
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật trong
hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng, "năng
nhặt chặt bị", "kiến tha lâu đầy tổ”. Lao động cần cù của người Việt Nam luôn gắn
với tiết kiệm, bởi lẽ, "buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện" [47, tr. 16]
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị đạo
đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm tốn, lòng
thuỷ chung, tính trung thực... Những đức tính này liên quan đến nhau, đức

tính này là điều kiện, là biểu hiện của đức tính kia. Người ta không thể nói
yêu Tổ quốc mà không yêu thương con người, không có lòng nhân ái, bao
dung. Thương người cũng là ý thức về tính cộng đồng, về lý tưởng phục vụ
cộng đồng, về việc biết đặt cái chung lên trên cái riêng. Con người lao động
cần cù, tiết kiệm để kiến tạo cuộc sống của mình cũng như cuộc sống của con
cháu mình cũng là thể hiện lòng yêu nước.
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ vang
của dân tộc Việt Nam. Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư tưởng, tình
cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của
mình. Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân vì nghĩa, vì đồng
bào, dân tộc bất kể con người đó thuộc tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội.
Bên cạnh các giá trị mang tính bản sắc, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng
miền, có những giá trị mang tính nhân loại, có nghĩa là không phân biệt màu
da, quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị
đó. Hơn nữa, sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm
được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả
khôn lường do chọn phải những thang giá trị lạc hậu làm chuẩn cho xã hội.
Năm 1995, một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên
hơn 100 nước, và các nhà nghiên đã đưa ra kết quả với 12 giá trị được đề
cập sau đây:


21
* Giá trị Hòa bình
* Giá trị Tôn trọng
* Giá trị Yêu thương
* Giá trị Khoan dung
* Giá trị Trung thực
* Giá trị Khiêm tốn
* Giá trị Hợp tác

* Giá trị Hạnh phúc
* Giá trị Trách nhiệm
* Giá trị Giản dị
* Giá trị Tự do
* Giá trị Đoàn kết
Những giá trị sống trên đây là những giá trị tinh thần không đề cập đến
giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khoẻ... và chủ yếu hướng vào các bình diện:
- Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân (khoan dung,
khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc)
- Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng
đồng... (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm)
- Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (hoà bình, tự do ...)
Những giá trị trên là giá trị phổ quát nhất, tuy nhiên, mỗi một lứa tuổi ở
mỗi quốc gia, dân tộc lại có những giá trị sống khác nhau. Ở tuổi vị thành
niên (9 - 10 tuổi đến 17 - 18 tuổi) là giai đoạn quan trọng nhất trong sự hình
thành, phát triển nhân cách. Những giá trị sống được tiếp nhận và hình thành
ở lứa tuổi này quyết định thiên hướng nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của
họ. Nhà trường cần giúp cho học sinh phát triển hệ giá trị của từng người.
Những giá trị sống cần thiết không thể thiếu đối với học sinh trung học
phổ thông là:


22
- Ham học hỏi
- Trung thực
- Giàu tình yêu thương
- Biết quan tâm đến người khác
- Cần cù, siêng năng
- Chủ động, tự tin
- Chấp nhận thử thách, sẵn sàng vượt mọi khó khăn

- Khoan dung, biết nhận lỗi và biết tha thứ
- Yêu Tổ quốc và lịch sử dân tộc
- Yêu hòa bình
- Tôn trọng bạn bè
- Sống có kỷ luật
- Đoàn kết
- Khiêm tốn
- Giản dị
- Cần kiệm
- Dũng cảm….
Những giá trị trên chỉ là những giá trị cơ bản nhất. Những học sinh
càng có nhiều những giá trị sống thì sẽ phát triển và hoàn thiện phẩm chất,
nhân cách, đạt được kết quả cao trong học tập và rèn luyện. Ngược lại, những
học sinh thiếu hụt những giá trị sống cơ bản sẽ có những biểu hiện suy thoái
về đạo đức, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, vi phạm kỷ luật, có những
hành vi bao lực, thậm chí vi phạm pháp luật gây ra những hậu quả đáng tiếc.
Những vấn đề trên đặt ra cho các nhà trường nhiệm vụ cấp thiết phải coi trọng
đúng mức giáo dục giá trị sống, góp phần nuôi dưỡng cho học sinh những giá
trị sống tích cực, giúp cho các em trải nghiệm thực tiễn, phát triển toàn diện
nhân cách người học.


23
Giá trị sống có tính khách quan tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của mỗi
người, cuốn hút con người, làm con người sống, tồn tại, phát triển với tư cách
là chủ thể tích cực của tự nhiên, xã hội, của sự phát triển nhân cách. Giá trị
sống không phải là chuẩn mực, giá trị do con người tự đặt ra, mà là do yêu
cầu khách quan của cuộc sống quy định các giá trị, giá trị sống ở các thời kỳ
lịch sử khác nhau.
Giá trị sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng tạo ra động lực thúc đẩy

con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham
muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân
với cộng đồng, với tự nhiên ...
1.1.2. Khái niệm giáo dục giá trị sống
Giáo dục giá trị sống là một quá trình tổ chức tác động có chủ đích của
các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, để
tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn
luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động
xã hội, để học sinh học tập, làm việc hiệu quả hơn có lối sống nếp sống tốt đẹp
mang lại lợi ích cho chính học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội.
Giáo dục giá trị sống cho học sinh là quá trình giúp học sinh tiếp thu,
lĩnh hội những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị phổ quát của
nhân loại, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp
cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với
bản thân và đáp ứng mong đợi của gia đình, nhà trường và xã hội.
Từ những cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm: Giáo dục giá trị
sống cho học sinh trung học phổ thông là quá trình tác động có mục đích, có
tổ chức, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục đến học sinh trung học phổ
thông nhằm giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống phổ quát của


24
nhân loại, xã hội, biến thành những giá trị của cá nhân để có suy nghĩ, thái
độ và hành vi ứng xử đúng mực, tích cực trong cuộc sống, không ngừng phát
triển và hoàn thiện nhân cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và rèn luyện
ở nhà trường.
Mục tiêu giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông là trang bị
cho học sinh những tri thức về giá trị sống, giúp học sinh tự giác, tích cực rèn
luyện, học tập tiếp nhận những giá trị chung của nhân loại, của dân tộc thành

giá trị của bản thân mỗi cá nhân để có thái độ, tình cảm đúng đắn trong cuộc
sống và học tập, đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi học sinh nói riêng và cho
gia đình, xã hội nói chung.
Lực lượng giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông là ban giám
hiệu nhà trường, các giáo viên, các tổ chức chính trị xã hội trong nhà trường
và ngoài xã hội đặc biệt là vai trò quan trọng của Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, phụ huynh học sinh.
Đối tượng giáo dục là học sinh trung học phổ thông. Họ vừa là đối
tượng tiếp nhận giáo dục giá trị sống của nhà trường đồng thời cũng là chủ
thể của quá trình tự giáo dục giá trị sống cho bản thân.
*Nội dung giáo dục giá trị sống
Đối với học sinh trung học phổ thông, nội dung giáo dục giá trị sống là
hệ thống những giá trị sống phổ quát của nhân loại như: Hòa bình, tôn
trọng, yêu thương, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, trách nhiệm, giản dị,
khoan dung, hợp tác, tự do cùng với các giá trị truyền thống của con người
Việt nam đó là: Tinh thần yêu nước, yêu thương con người, tinh thần đoàn
kết, tinh thần lao động cần cù tiết kiệm. Nhưng những nội dung trên được mở
rộng và nâng lên một tầm cao mới đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đương đại.
Nội dung của những giá trị sống đối với học sinh trung học phổ thông cần
hướng các em đến hoàn thiện nhân cách một người thanh niên, một công dân,


25
hướng đến một nhân cách nghề nghiệp, một thanh niên thời đại mang những
giá trị tinh hoa bản sắc dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân loại, hướng
đến một lối sống hài hoà giữa đời sống cá nhân - bạn bè - tình yêu - sự nghiệp
- trách nhiệm xã hội.
*Vai trò của giáo dục giá trị sống
Giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông cung cấp những
nguyên tắc và những công cụ cho sự phát triển của các cá nhân, với sự hiểu

biết rằng mỗi cá nhân bao gồm những khía cạnh về thể chất, tinh thần, tình
cảm và trí tuệ.
Giúp các em suy nghĩ, xem xét về các giá trị khác nhau, thể hiện những
giá trị này khi liên hệ với chính mình, với người khác, với cộng đồng và với
một thế giới rộng lớn hơn.
Học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên
quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực.
Giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông cũng giúp gây hứng
thú cho các cá nhân để lựa chọn những giá trị của riêng mình về xã hội, đạo
đức và tinh thần và hiểu biết những phương pháp thực hành để phát triển và
khắc sâu những giá trị này.
Tóm lại, giáo dục giá trị sống là giáo dục từ gốc, là dạy cho học sinh
cách sống với các giá trị và cảm nhận được các giá trị ấy. Nhà trường có vai
trò quyết định sự hình thành và phát triển giá trị sống của học sinh. Vì giá trị
sống là nguyên tắc định hướng đường đi cho mỗi người. Giá trị sống trở
thành động lực giúp con người nỗ lực đạt tới, là điều kiện để con người có
bản lĩnh hành động. Giá trị sống tích cực giúp học sinh tự ổn định, cân bằng
và thích ứng trước biến động của xã hội. Không có giá trị sống đúng, học
sinh sẽ khó thích ứng trước biến đổi của xã hội, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực,
suy giảm nhân cách.


×