Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự việt nam hiện hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.42 MB, 97 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HOÀNG ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HOÀNG ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRIỀU DƢƠNG

HÀ NỘI - 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Hoàng Anh


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật Dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

TTLT

Thông tƣ liên tịch

THADS


Thi hành án dân sự

UBND

Ủy ban nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ........ 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự........................................................... 6
1.2. Nội dung về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án dân sự.......................................................................................................... 11
1.3. Cơ sở của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự ................................................................................................. 13
1.4. Các yếu tố bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án dân sự.......................................................................................................... 15

Kết luận Chƣơng 1 .......................................................................................... 19
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN ...................................... 20
2.1. Nguyên tắc của bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự ................................................................................................. 20
2.2. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án bằng các
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự ............................................................ 22
2.3. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án bằng
các biện pháp cƣỡng chế thi hành án dân sự

35

2.4. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án thông
qua các thủ tục thi hành án dân sự .................................................................. 44

1


2.5. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án từ phía
thủ trƣởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên, tòa án trong quá trình thi
hành án dân sự ................................................................................................. 51
2.6. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án từ phía cá
nhân, cơ quan, và các tổ chức khác ................................................................. 60
Kết luận Chƣơng 2 .......................................................................................... 63
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI
ĐƢỢC THI HÀNH ÁN .................................................................................. 64
3.1. Thực tiễn bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án ............... 64

3.2. Nguyên nhân của những khó khăn trong việc bảo đảm quyền và lợi ích
của ngƣời đƣợc thi hành án ............................................................................. 78
3.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời
đƣợc thi hành án dân sự .................................................................................. 81
Kết luận chƣơng 3 ........................................................................................... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 89

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà
nƣớc nhằm đƣa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành
trên thực tế. Đây cũng là một công cụ hữu hiệu để khôi phục, bù đắp quyền và
lợi ích hợp pháp bị xâm hại của công dân. Do đó, hiệu quả của hoạt động thi
hành án dân sự có tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động tố tụng cũng
nhƣ niềm tin của nhân dân đối với pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án
dân sự thời gian qua chƣa đạt hiệu quả nhƣ mong muốn. Theo báo cáo tổng
kết của Tổng cục thi hành án dân sự qua các năm, số vụ việc chƣa đƣợc thi
hành trên tổng số vụ việc phải thi hành chiếm tỷ lệ cao: năm 2012 chiếm
38.5%, năm 2013 chiếm 32.7%, năm 2014 chiếm 31,8%, năm 2015 chiếm
32.5% và trong 6 tháng đầu năm 2016 con số này là 60.7% [23]. Điều này
đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án
trong nhiều vụ việc chƣa đƣợc đảm bảo. Một trong những nguyên nhân dẫn
tới tình trạng này là do ngƣời có nghĩa vụ thi hành án thƣờng không tự
nguyện, có tâm lý chây ỳ, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết
định, dẫn đến hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm làm mất đi điều kiện thi
hành án. Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của ngƣời phải thi hành án, tạo

điều kiện cho cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ, Nhà nƣớc đã xây dựng
quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, các biện pháp cƣỡng
chế thi hành án dân sự và thể chế hóa trong các văn bản có tính pháp lý cao
nhƣ: Luật thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật thi hành án dân sự năm 2014, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày
13/7/2009 của chính phủ về việc hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thi
hành án dân sự 2008 về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định số 125/NĐ-CP
ngày 14/10/2013 sửa đổi bổ sung một số điều nghị định 58/2009/NNĐ-CP

1


quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của luật thi hành án dân
sự, và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của chính phủ quy định chi
tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
Hành lang pháp lý đã đƣợc Nhà nƣớc xây dựng, tuy nhiên việc áp dụng
các quy định pháp luật trong tổ chức thi hành án dân sự nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án vẫn gặp không ít khó khăn, vƣớng
mắc cần phải đƣợc tháo gỡ. Xuất phát từ nhận thức về những tồn tại nói trên, với
mong muốn đóng góp một phần công sức của bản thân vào việc nâng cao hiệu
quả bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án, đƣợc sự
giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và bạn bè, tác giả đã lựa chọn đề tài “Bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án theo pháp luật thi
hành án dân sự Việt Nam hiện hành” làm luận văn thạc sỹ Luật học của mình.
Đây là một vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, không chỉ bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án mà còn góp phần xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo đảm thi hành án dân sự là chế định có tác động sâu rộng đến các
quan hệ xã hội của ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án, ngƣời có

quyền và nghĩa vụ liên quan trong bản án. Do đó, có khá nhiều công trình
nghiên cứu đã đƣợc công bố về mảng đề tài này nhƣ: Bài viết “Các biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Trần Phƣơng Thảo, đăng trên Tạp
chí Luật học, số 07/2007; Bài viết “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự:
Bước ngoặt của pháp luật về thi hành án dân sự” của tác giả

Lê Thị Kim

Dung đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề thi hành án dân
sự và vấn đề xã hội hóa; Bài viết “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp thi hành
án dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Thu Hà đƣợc nhà xuất bản Chính trị quốc
gia xuất bản năm 2011; đặc biệt có các công trình đƣợc thực hiện ở cấp độ
luận án tiến sỹ, với đề tài “Hoàn thiện pháp Luật Thi hành án dân sự ở Việt

2


Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ năm 2008 của tác giả Nguyễn Thanh Thủy,
“Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự ở Việt Nam” luận án
tiến sỹ năm 2012 của tác giả Đặng Đình Quyền. Và gần đây có đề tài:
“Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên
quan đến việc thi hành án”, luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị
Mai Hiên năm 2014...
Tuy nhiên nhìn chung các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu các quy
định của pháp luật về thi hành án dân sự nói chung mà chƣa đi sâu vào nghiên
cứu vấn đề cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án. Vì vậy, với đề tài này tác giả sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu và phân
tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật cũng nhƣ nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trên thực tế.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và
nghiên cứu các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự trong vấn đề bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án, tác giả mong
muốn có thể làm rõ hơn những bất cập trong thực tiễn áp dụng ở nƣớc ta
những năm gần đây. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công
tác thi hành án dân sự nói chung và việc bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của
ngƣời đƣợc thi hành án dân sự nói riêng.
Nhiệm vụ nghiên cứu: làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận của bảo
đảm quyền lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự; Nội dung bảo
đảm quyền lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự theo pháp luật
hiện hành; Thực tiễn thực hiện và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm
bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự.
Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật thi hành án dân sự bao gồm nhiều chế định khác nhau. Quá

3


trình thi hành án dân sự có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm
ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời bị thi hành án, ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên
quan,… Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành nhằm
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đƣờng lối của
Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc về thi hành án dân sự.
Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp luận của đề tài là phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật

lịch sử, và phép biện chứng Mác - Lênin. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu
đề tài tác giả đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: phƣơng
pháp tổng hợp, thống kê nhằm tổng hợp và thống kê những số liệu từ nhiều
nguồn; phƣơng pháp phân tích, đánh giá nhằm phân tích số liệu, báo cáo tổng
kết hằng năm nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết trong việc nắm bắt
tình hình thực tế; phƣơng pháp so sánh dung cho việc so sánh đối chiếu số liệu,
thông tin thu thập, từ đó rút ra những mặt đã đạt đƣợc và chƣa đạt đƣợc để kịp
thời bổ bổ sung, đồng thời xem xét những vƣớng mắc tìm cách giải quyết.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của luận văn bao gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự.
Chương 2. Nội dung quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt
Nam hiện hành về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện pháp

4


luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền và lợi

ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm
Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì thủ tục thi hành
án dân sự đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các bƣớc để đƣa một bản án,
quyết định của Tòa án, Trọng tài thƣơng mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh ra thi hành theo quy định của pháp luật [12, tr.5]. Quy trình, thủ tục về
thi hành án dân sự đƣợc thực hiện từ khi chuyển giao bản án, quyết định, tiếp
nhận, thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án và tiến hành
các tác nghiệp cụ thể cho đến khi chấm dứt việc thi hành án; quyền và nghĩa
vụ của đƣơng sự đƣợc thực hiện trên thực tế.
Về mặt pháp lý, khái niệm "thi hành án" là hoạt động làm cho các bản
án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án đƣợc thực hiện [28, tr.15].
Nếu nhƣ kết quả của hoạt động xét xử là "đưa ra các phán quyết (bản án,
quyết định) trên cơ sở áp dụng các điều luật cụ thể để xem xét các tình tiết
đã xảy ra, thì kết quả của thi hành án là làm cho các phán quyết đó được
thực hiện trong thực tế". Khái niệm thi hành án dân sự là "hoạt động do cơ
quan thi hành án dân sự tiến hành theo những thủ tục, trình tự nhất định
nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án
ra để thi hành" [28, tr.16]. Tuy nhiên, cần hiểu rộng ra là không chỉ bản án,
quyết định của Tòa án mà còn thi hành các quyết định của Trọng tài thƣơng
mại, của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh… Trong trình tự, thủ tục thi hành

6


án dân sự, tùy theo từng vụ việc cụ thể mà Thủ trƣởng, Chấp hành viên cơ
quan thi hành án dân sự có thể thực hiện các thủ tục cần thiết khác nhau.
Về giải thích từ ngữ, theo từ điển wiki thì khái niệm “Bảo đảm” đƣợc
hiểu là việc làm cho chắc chắn thực hiện đƣợc, giữ gìn đƣợc hoặc có đầy đủ
những gì cần thiết. Quyền đƣợc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là

một trong những quyền cơ bản không thể thiếu của công dân và đã đƣợc quy
định cụ thể trong pháp luật Việt Nam [28, tr.20]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt
của Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 thì
“Bảo đảm” là: 1. Cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó; 2. Làm cho có
đƣợc điều gì.
Theo khoản 2 Điều 3 giải thích từ ngữ Luật thi hành án dân sự năm
2008 thì “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng
quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”.
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm “bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án dân sự” là tổng thể các biện
pháp của các chủ thể đƣợc thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định nhằm làm cho đầy đủ các quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án
đƣợc thực hiện trên thực tế. Và đây có thể xem là mục đích cuối cùng của
hoạt động thi hành án dân sự.
1.1.2. Đặc điểm
Trong quá trình thi hành án, vấn đề bảo đảm quyền lợi hợp pháp đƣợc
đặt ra chung cho tất cả các chủ thể nhƣ: ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải
thi hành án, ngƣời có quyền và lợi ích liên quan, … Và đối với mỗi nhóm chủ
thể, việc bảo đảm quyền và lợi ích mang những đặc điểm riêng. Việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án dân sự có những đặc
điểm sau:
- Về chủ thể đƣợc bảo đảm: Là ngƣời đƣợc thi hành án – thƣờng là

7


ngƣời có quyền và lợi ích bị xâm phạm trong các giao dịch dân sự trƣớc đó.
Việc bảo đảm quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án dân sự thực chất là sự bù
đắp những thiệt hại, tổn thất mà họ phải gánh chịu trong các giao dịch dân sự.
- Quyền, lợi ích đƣợc bảo đảm: là những quyền lợi đƣợc ghi nhận trong

bản án, quyết định của tòa án, cơ quan giải quyết vụ việc,… nó hoàn toàn
khác với quyền lợi của các chủ thể khác trong quan hệ thi hành án dân sự.
- Về biện pháp bảo đảm: Việc bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời
đƣợc thi hành án là mục đích chính của giai đoạn thi hành án và có liên quan
trực tiếp đến quá trính xét xử. Do đó chúng đƣợc bảo đảm thi hành bằng các
biện pháp cƣỡng chế Nhà nƣớc, mà cụ thể chính là các biện pháp để thực hiện
nội dung của bản án, quyết định của tòa án. Nó đƣợc áp dụng tại nhiều thời
điểm, nhiều địa điểm khác nhau trong quá trình thi hành án nhằm ngăn chặn
việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án.
- Chủ thể chịu sự tác động của bảo đảm: để bảo đảm quyền lợi cho
ngƣời đƣợc thi hành án thì cơ quan thi hành án phải thực hiện các biện pháp
nghiệp vụ để xử lý các tài sản, quyền tài sản, giấy tờ,… của ngƣời phải thi
hành án. Do đó, chủ thể chịu sự tác động rõ nét nhất của hoạt động bảo đảm
chính là ngƣời phải thi hành án. Ngoài ra, các đối tƣợng là ngƣời có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan cũng phải chịu sự tác động của hoạt động này (là các tổ
chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng tài sản của ngƣời phải thi hành án; là các
cơ quan có trách nhiệm phối hợp trong quá trình thi hành án,…).
- Về đối tƣợng bảo đảm: Đối tƣợng hƣớng tới ở đây chủ yếu là các vấn
đề về tài sản. Tranh chấp dân sự giữa các bên thƣờng phát sinh từ quan hệ
pháp luật nội dung là quan hệ tài sản. Do đó quyền lợi ích đƣợc bảo đảm chủ
yếu là vấn đề tài sản, tuy nhiên trong một vài trƣờng hợp nó bao gồm cả các
quyền lợi ích về tinh thần.

8


1.1.3. Ý nghĩa
Việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án
dân sự có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với hoạt động thi hành án nói riêng
và đời sống xã hội nói chung.

- Thứ nhất, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự có ý nghĩa là thƣớc đo đối với kết quả hoạt động thi hành án.
Khi quyền lợi của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo đảm trên thực tế đồng
nghĩa với việc các bản án, phán quyết hoặc các quyết định của Tòa án, trọng
tài hoặc thủ trƣởng cơ quan thi hành án đã đƣợc thực thi. Mặt khác, nhìn vào
kết quả bảo đảm quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án, ngoài việc đánh giá
số lƣợng các vụ việc đƣợc thi hành án chúng ta còn đánh giá đƣợc chất
lƣợng hoạt động thi hành án. Thực tiễn cho thấy, trong một số trƣờng hợp
mặc dù vụ việc đã đƣợc thi hành án xong nhƣng quyền lợi của ngƣời đƣợc
thi hành án không đƣợc đảm bảo đầy đủ do những lý do khác nhau. Về mặt
trực quan có thể thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án
càng đƣợc bảo đảm tối đa, càng chứng tỏ chất lƣợng hoạt động thi hành án
cao và ngƣợc lại.
- Thứ hai, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động xét xử.
Mặc dù quá trình xét xử vụ việc dân sự phải tuân thủ chặt chẽ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng; Chủ thể tiến hành tố tụng đều là
những ngƣời có kinh nghiệm, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp các qui định của pháp luật về nội dung
cũng nhƣ qui định về thủ tục tố tụng còn chƣa theo kịp với đặc điểm tính chất
đa dạng của vụ việc dân sự. Do đó có thể dẫn đến những sai sót trong quá
trình xét xử. Vì vậy, kết quả thi hành án dân sự chính là giai đoạn kiểm
nghiệm qua thực tiễn những phát quyết của Toà án, phản ánh chân thực chất

9


lƣợng và hiệu quả của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Từ thực tiễn bảo
đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án mà mỗi Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án đã tham gia vào quá trình xét

xử có thể rút ra kinh nghiệm để khắc phục những khuyết điểm, nâng cao chất
lƣợng và hiệu quả công tác của mình.
- Thứ ba, góp phần vào công tác giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã
hội. Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, mang
tính quyền lực, cƣỡng chế, thể hiện trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc bảo
về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [28, tr.20]. Trong giai đoạn xây
dựng đất nƣớc hiện nay, khi nền kinh tế thị trƣờng ngày một phát triển, quan
hệ xã hội đƣợc mở rộng, các giao dịch dân sự ngày càng trở nên phong phú,
đa dạng, phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tranh chấp thì việc giải
quyết tranh chấp tại tòa án đƣợc nhiều chủ thể lựa chọn nhƣ là một công cụ
hữu hiệu nhất. Việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân thông qua hoạt
động xét xử các vụ việc dân sự cũng trở thành công cụ giúp Nhà nƣớc duy trì
trật tự xã hội, bảo đảm sự công bằng, công lý trong xã hội.
- Thứ tƣ, thông qua các biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của ngƣời đƣợc thi hành án, ý thức pháp luật của ngƣời dân cũng đƣợc nâng
cao. Thi hành án nói chung hay việc bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc
thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan chức năng mà
đó còn là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phƣơng, là sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức hữu quan và
mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội. Thông qua việc thực hiện các biện
pháp bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án, ý thức chấp hành
pháp luật của ngƣời dân ngày một đƣợc nâng cao, vai trò trách nhiệm của các
cơ quan tổ chức đƣợc bảo đảm, niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật,
vào bộ máy nhà nƣớc ngày càng đƣợc củng cố.

10


1.2. Nội dung về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời
đƣợc thi hành án dân sự

Nhƣ đã phân tích ở trên, bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi
hành án trong thi hành án dân sự đƣợc hiểu là hoạt động của các cơ quan Tòa
án, thi hành án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh… sử dụng nhiều
biện pháp khác nhau trong thi hành án dân sự nhằm làm cho các quyền, lợi
ích của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo vệ trƣớc những sự xâm hại khác
nhau. Theo đó, nội dung việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời
đƣợc thi hành án dân sự bao gồm những nội dung cụ thể, đó là:
- Một, bảo đảm từ phía cơ quan thi hành án đối với quyền và lợi ích
hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án. Cơ quan THADS là chủ thể trực tiếp
thực hiện hoạt động thi hành án, hiệu quả hoạt động của cơ quan này là yếu tố
quyết định việc quyền lợi của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo đảm ở mức độ
nào. Sự tuân thủ quy định pháp luật, sự linh động, nhạy cảm ở thủ trƣởng cơ
quan THADS, của Chấp hành viên khi ra quyết định thi hành án, khi tổ chức
thi hành án hay ra các quyết định nhằm bảo đảm, cƣỡng chế thi hành án sẽ là
đảm bảo chắc chắn nhất cho các quyền lợi hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án đƣợc thực thi trên thực tế.
- Hai, bảo đảm bằng cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan thi hành án với
Tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và các chủ thể khác. Tuy
đóng vai trò trung tâm, nhƣng để tổ chức thi hành án thành công cơ quan thi
hành án cần phải phối hợp chặt chẽ với nhiều chủ thế khác. Đó có thể là cơ
quan, tổ chức đã ban hành bản án, quyết định – cơ sở để tổ chức thi hành án;
Đó cũng có thể là các tổ chức tín dụng nơi giữ tiền, tài sản là đối tƣợng đƣợc
thi hành án; Hay đơn giản là những cá nhân, tổ chức có quyền lợi về tài sản
liên quan tới ngƣời phải thi hành án (trƣờng hợp có tài sản thuộc sở hữu
chung, nhận chuyển nhƣợng tài sản là đối tƣợng thi hành án,…). Để một bản

11


án, quyết định đƣợc tổ chức thi hành thành công trên thực tế, bảo đảm tối đa

quyền lợi hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án thì không thể thiếu sự phối
hợp của các chủ thể này.
- Ba, bảo đảm bằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án
nhƣ: nguyên tắc, trình tự, thủ tục, các biện pháp bảo đảm, các biện pháp
cƣỡng chế, … Các quy định của luật pháp là công cụ hữu hiệu nhất để đảm
bảo cho việc thi hành án đạt kết quả mong muốn. Với đặc thù là biện pháp
mang tính chất quyền lực nhà nƣớc, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã
hội, các quy định pháp luật về THADS sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho công
tác tổ chức thi hành án. Một hệ thống pháp luật ƣu việt, đầy đủ là điều kiện
hoàn hảo để cho ra đời những bản án, quyết định đúng đắn; để tạo nên sự phối
hợp nhuần nhuyễn giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình thi hành án; …
qua đó bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án.
- Bốn, bảo đảm bằng việc xã hội hóa, đẩy nhanh việc xã hội hóa thi
hành án dân sự (mở rộng và phát huy vai trò của thừa phát lại). Theo quan
điểm truyền thống thì thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan nhà nƣớc,
nhân danh quyền lực nhà nƣớc và đƣợc bảo đảm thực thi bằng pháp luật. Tuy
nhiên, một thực tế trong thời gian qua cho thấy, rất nhiều bản án, quyết định
có hiệu lực bị tồn đọng, không đƣợc thực thi trên thực tế. Một trong những
nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do cơ quan thi hành án bị quá tải với số
lƣợng bản án, quyết định phải thi hành khổng lồ. Một giải pháp đƣợc đề ra
nhằm giải quyết tình trạng này là thực hiện xã hội hóa công tác thi hành án.
Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã tiếp thu quan điểm này với mô
hình thừa phát lại. Tuy nhiên qua một thời gian thực hiện thì hiệu quả hoạt
động của mô hình này chƣa đƣợc nhƣ mong muốn, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn
nữa.

12


1.3. Cơ sở của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời

đƣợc thi hành án dân sự
1.3.1. Xuất phát từ đường lối của Đảng về cải cách tư pháp
Nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, các quyền công dân
đƣợc Nhà nƣớc công nhận và ghi nhận trong các văn bản có tính pháp lý cao
nhƣ Hiến pháp, các đạo luật,… Việc thiết lập, bảo đảm các quyền dân sự,
kinh tế của công dân luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm thực hiện thông
qua những chủ trƣơng, chính sách trên mọi phƣơng diện. Trong đó, vấn đề cải
cách, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tƣ pháp theo hƣớng dân chủ, bình đẳng,
công khai, minh bạch, chặt chẽ nhƣng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và
giám sát của nhân dân đối với hoạt động tƣ pháp đƣợc xem là biện pháp hữu
hiệu để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân. Vấn đề này đã một lần nữa
đƣợc tái khẳng định trong nghị quyết của Bộ Chính trị, theo đó nhiệm vụ
trọng tâm trong việc hoàn thiện thủ tục tố tụng tƣ pháp là phải “bảo đảm tính
đồng bộ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời”.
1.3.2. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các luật chuyên
ngành về việc bảo đảm quyền cơ bản của công dân
Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó bao
gồm cả ngƣời đƣợc thi hành án dân sự đã đƣợc đề cập tới trong nhiều văn bản
pháp lý khác nhau. Hiến pháp nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định:
1. Ở nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con ngƣời,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đƣợc
công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật;
2. Quyền con ngƣời, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế
theo quy định của luật trong trƣờng hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức
khỏe của cộng đồng [19, Điều 14].

13



Bộ Luật Dân sự của nƣớc ta cũng đã quy định nguyên tắc tôn trọng, bảo
đảm quyền dân sự của các chủ thể, theo đó tất cả các quyền dân sự của cá nhân,
pháp nhân chủ thể khác đƣợc tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo đảm. Khi quyền
dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo đảm theo
quy định của pháp luật hoặc có thể yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền
công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải
chính công khai, thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc bồi thƣờng thiệt hại [17].
Nhƣ vậy, việc ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của ngƣời đƣợc thi hành án trong pháp luật tố tụng dân sự là sự cụ thể hóa các
quy định chung của pháp luật nhằm mục đích bảo đảm tốt hơn quyền của
ngƣời đƣợc thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và
Nhà nƣớc. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi đƣợc thi
hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho
bản án, quyết định của Tòa án đƣợc chấp hành, góp phần bảo đảm tính
nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nƣớc.
1.3.3. Xuất phát từ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan
thi hành án dân sự
Các bản án và quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải
đƣợc cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các cá nhân có liên
quan tôn trọng và thi hành [28, tr.27]. Chính vì vậy, quyền lợi hợp pháp của
đƣơng sự đã đƣợc ghi nhận trong phán quyết của Tòa án cần đƣợc pháp luật
bảo đảm trong quá trình THADS. Trong đó, vai trò của cơ quan thi hành án
trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân
sự là vô cùng quan trọng. Cách thức và nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự đƣợc quy định trong nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thi hành án [29, tr.25]. Cơ quan Thi

14



hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp
luật. Trong quá trình tổ chức thi hành án, nếu phát hiện bản án, quyết định
tuyên không rõ, khó thi hành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải thích, đính
chính hoặc bản án, quyết định có vi phạm pháp luật thì có quyền kiến nghị
ngƣời có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật [18]. Đây là một trong
những nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trƣởng cơ quan Thi hành án dân sự. Quy
định này là rất cần thiết, không những là nhiệm vụ, quyền hạn mà còn là trách
nhiệm của cơ quan Thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định mình có
trách nhiệm tổ chức thi hành.
1.3.4. Xuất phát từ quyền bình đẳng của mọi chủ thể trong quan hệ
dân sự
Quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
phát sinh thƣờng nhật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, cho hoạt động
sản xuất và kinh doanh. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự rất đa
dạng nhƣng độc lập về tài sản và tổ chức, có địa vị pháp lý bình đẳng, không
phụ thuộc vào các yếu tố: thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn
hóa, nghề nghiệp. Trong quan hệ này, các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình một cách tự giác bằng tài sản của mình, trƣờng hợp vi phạm nghĩa
vụ thì phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại do mình gây ra [27, tr.20].
Xuất phát từ những nguyên tắc bình đẳng này, ngƣời đƣợc thi hành án dân sự
là ngƣời có quyền lợi bị xâm phạm trong quan hệ dân sự đƣơng nhiên cần
đƣợc tôn trọng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình thi hành án
nhằm bù đắp thiệt hại của họ.
1.4. Các yếu tố bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc
thi hành án dân sự
Nhƣ đã phân tích ở trên, việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho ngƣời

15



đƣợc thi hành án là vấn đề quan trọng, phù hợp với chủ trƣơng đƣờng lối của
Đảng và Nhà nƣớc. Đồng thời, thông qua hoạt động này, các bản án, quyết
định giải quyết các vụ việc dân sự đƣợc thực thi nghiêm minh trong thực tiễn.
Trong THADS, vấn đề bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án đƣợc bảo đảm bởi nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể:
1.4.1. Tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án
Nhƣ đã trình bảy ở trên, cơ quan thi hành án là chủ thể trực tiếp thực
hiện hoạt động thi hành án, hiệu quả hoạt động của cơ quan này là yếu tố
quyết định việc quyền lợi của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo đảm ở mức độ
nào. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này, chúng ta cân bảo
đảm một số yếu tố sau:
- Đảm bảo sự độc lập của cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành
án dân sự. Theo đó, cơ quan thi hành án trong quá trình thực thi nhiệm vụ
không chịu sự chi phối, tác động của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào; chỉ tuân
theo các quy định của pháp luật nhà nƣớc.
- Đảm bảo hệ thống pháp luật quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của cơ quan thi hành án cũng nhƣ thủ trƣởng cơ quan thi hành án,
chấp hành viên - đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cơ quan này chỉ hoạt
động theo quy định của pháp luật, không chịu sự can thiệp của tổ chức cá
nhân khác.
1.4.2. Tổ chức và hoạt động của các tổ chức, cơ quan, cá nhân hỗ trợ
thi hành án
Tuy đóng vai trò trung tâm, nhƣng để tổ chức thi hành án thành công
cơ quan thi hành án cần phải phối hợp chặt chẽ với nhiều chủ thế khác. Để
một bản án, quyết định đƣợc tổ chức thi hành thành công trên thực tế, bảo
đảm tối đa quyền lợi hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án thì không thể thiếu
sự phối hợp của các chủ thể liên quan. Để sự phối hợp diễn ra tiện lợi thì việc


16


xây dựng cơ chế có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
1.4.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án theo hướng bảo
đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
Các quy định của luật pháp là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho
việc thi hành án đạt kết quả mong muốn. Với đặc thù là biện pháp mang tính
chất quyền lực nhà nƣớc, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội, các quy
định pháp luật về THADS sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho công tác tổ chức
thi hành án. Một hệ thống pháp luật ƣu việt, đầy đủ là điều kiện hoàn hảo để
cho ra đời những bản án, quyết định đúng đắn; để tạo nên sự phối hợp nhuần
nhuyễn giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình thi hành án; … qua đó bảo
đảm tốt nhất quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án.
1.4.4. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, đạo đức nghề
nghiệp của chấp hành viên
Trong tất cả các chủ thể thì chấp hành viên là ngƣời đóng vai trò trung
tâm trong quá trình thi hành án, quyết định tới hiệu quả của hoạt động này.
Do đó, bên cạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật thi hành án, hoàn thiện cơ
chế phối hợp tác nghiệp giữa các cơ quan đơn vị thì việc nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của chấp hành viên là không
thể thiếu. Hoạt động áp dụng pháp luật là một quá trình với đa dạng các tình
huống đòi hỏi kiến thức cũng nhƣ sự linh hoạt của chấp hành viên. Dù hệ
thống pháp luật có đầy đủ tới đâu nhƣng chấp hành viên không nắm đƣợc thì
cũng không thể vận dụng để đƣa ra quyết định kịp thời, đúng đắn. Đó là chƣa
kể đến trong nhiều trƣờng hợp, pháp luật không thể dự liệu đƣợc thực tiễn,
lúc này đòi hỏi chấp hành viên phải vận dụng luật linh hoạt và có sự nhạy
cảm trong phán đoán tình huống – điều này sẽ đƣợc tích lũy kinh nghiệm

17



trong quá trình công tác, và phụ thuộc vào năng lực của chấp hành viên.
Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng quyết định tới hiệu quả
hoạt động thi hành án chính là đạo đức nghề nghiệp của chấp hành viên. Thực
tế cho thấy, rất nhiều trƣờng hợp chấp hành viên vì lợi ích cá nhân mà cố tình
sách nhiễu các đƣơng sự, cố tình vi phạm các nguyên tắc trong quá trình thi
hành án, điều này đã ảnh hƣởng nghiêm trọng tới kết quả thi hành án, gây tổn
hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án.
Tóm lại, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự nói chung, của
ngƣời đƣợc thi hành án nói riêng là nguyên tắc cơ bản và có tầm quan trọng
lớn trong pháp luật thi hành án dân sự nƣớc ta hiện nay. Tất cả các nguyên tắc
còn lại đều có quan hệ gắn bó mật thiết với nguyên tắc trên, ngoài việc tạo
tính công bằng, minh bạch trong hoạt động thi hành án thì còn đều hƣớng tới
bảo vệ quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án.

18


Kết luận Chƣơng 1
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nƣớc khi đƣợc chấp
hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với
pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc giữ vững kỷ cƣơng phép nƣớc, củng cố pháp chế và trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực tƣ pháp đƣợc thực thi trên thực
tế. Chính vì thế, việc tìm hiểu, phân tích và đánh giá những vấn đề lý luận liên
quan đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án
dân sự có vai trò vô cùng quan trọng và có ý nghĩa thực tế lớn lao.
Trên đây, luận văn đã đƣa ra và luận giải đƣợc một số quan điểm lý
luận cơ bản về khái niệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc

thi hành án, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của hoạt động bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án và làm phong phú thêm cho hoạt
động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án.

19


×