Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

Thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn trong dạy học phần sinh học cơ thể động vật, sinh học 11, trung học phổ thông lý luận và phương pháp dạy học bộ môn (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (448.92 KB, 24 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

DOÃN THỊ PHƢƠNG

THIẾT KẾ CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN
TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ ĐỘNG VẬT,
SINH HỌC 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM SINH HỌC

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

DOÃN THỊ PHƢƠNG

THIẾT KẾ CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN
TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ ĐỘNG VẬT,
SINH HỌC 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60.14.01.11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thúy Quỳnh

Hà Nội, 2016




MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ....................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ........................................................................................ vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................79
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ...........................83
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu ...........................................................................83
1.1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề mối quan hệ liên môn ..................................................83
1.1.2. Khái niệm và phân loại các mối quan hệ liên môn ................................................85
1.1.3. Bản chất và chức năng của các quan hệ liên môn ..................................................88
1.1.4. Các nguyên tắc xây dựng nội dung tích hợp liên môn ..........................................89
1.1.5. Thực hiện mối quan hệ liên môn qua các chủ đề tích hợp ....................................90
1.1.6. Dạy học tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực người học ..........................90
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu ........................................................................92
1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy học tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học ở trường
THPT Kim Sơn C ...............................................................................................................92
1.2.2. Khảo sát sở thích của học sinh về việc học tập liên môn trong nhà trường THPT
Kim Sơn C ..........................................................................................................................95
CHƢƠNG II: TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC SINH HỌC .... Error!
Bookmark not defined.
2.1. Mối liên hệ giữa Sinh học và các khoa học khác ....Error! Bookmark not defined.
2.2. Phân tích nội dung sinh học cơ thể động vật (Sinh học 11, trung học phổ thông) và
lựa chọn các nội dung tích hợp liên môn ........................Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Phân tích nội dung sinh học cơ thể động vật ( Sinh học 11, trung học phổ thông)
...........................................................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Xác định nội dung tích hợp liên môn....................Error! Bookmark not defined.

2.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm cho các chủ đề..........Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm chủ đề “Đại dương trong cơ thể” .................. Error!
Bookmark not defined.

77


2.3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm chủ đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển ở động vật” .......................................................Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG III: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ...........Error! Bookmark not defined.
3.1. Mục đích và phương pháp thực nghiệm ..................Error! Bookmark not defined.
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ...........................................Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Phương pháp thực nghiệm .....................................Error! Bookmark not defined.
3.2. Nội dung thực nghiệm ..............................................Error! Bookmark not defined.
3.3. Kết quả thực nghiệm ………………………………………………………..76
3.3.1. Kết quả định lượng...............................................Error! Bookmark not defined.6
3.3.2. Kết quả định tính ....................................................Error! Bookmark not defined.
3.3.3. Kết luận về kết quả thực nghiệm...........................Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................Error! Bookmark not defined.
1. Kết luận .........................................................................Error! Bookmark not defined.
2. Khuyến nghị..................................................................Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................96
PHỤ LỤC.........................................................................Error! Bookmark not defined.


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết về đổi mới giáo dục trong chương trình giáo
dục phổ thông sau 2015
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp

hành Trung ương Đảng (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo
là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo
dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Một trong những định hướng giáo dục
quan trọng nhằm phát triển phẩm chất, năng lực giải quyết các vấn đề khoa học và
thực tiễn đời sống của người học chính là xây dựng nội dung giáo dục trên cơ sở tích
hợp nội dung các môn học có liên quan với nhau. Vấn đề này đã được định hướng rõ
trong Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT công bố ngày
5/8/2013.
1.2. Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Sinh học THPT
Sinh học là khoa học về sự sống được hình thành và phát triển từ môn khoa
học tự nhiên và trở thành một khoa học độc lập ở thế kỉ XIX. Kiến thức sinh học về
hình thái, cấu trúc và các quá trình cơ bản của vật chất sống được hình thành trên cơ
sở những tiến bộ của những ngành khoa học khác như vật lý, hóa học, kĩ thuật…
Ngoài ra bản chất của sự sống cũng là sự tổng hòa, vận động và tương tác của tất cả
các yếu tố vô sinh, hữu sinh trong tự nhiên và xã hội. Ngày nay, trong Sinh học xu
hướng tích hợp được phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự hình thành nhiều chuyên ngành
như hóa sinh, lý sinh, kĩ thuật gen, công nghệ sinh học…
Chương trình đào tạo, nội dung môn học được xây dựng dựa trên các yếu tố cơ
bản là nhu cầu xã hội, trình độ văn hóa, mức độ, xu hướng phát triển của khoa học.
Trong thực tế giáo dục đào tạo ở Việt Nam sinh học là môn học độc lập và được dạy
một cách riêng rẽ ở các cấp học. Cách tiếp cận dạy học này không phù hợp với xu


hướng tích hợp trong sự phát triển của khoa học và xu thế tích hợp hóa quá trình dạy
học trên thế giới. Đồng thời việc dạy các môn học một cách riêng lẻ cũng khiến học
sinh không có cái nhìn tổng quan về thế giới, do đó thiếu kĩ năng vận dụng kiến thức

một cách có hệ thống để giải quyết tốt các vấn đề thực tế, ngoài ra các kiến thức trùng
lặp ở các môn học khác nhau còn làm học sinh thấy nhàm chán, không tích cực học
tập.
Vấn đề đặt ra là dạy học các môn khoa học có liên quan như thế nào để phù hợp
với xu hướng phát triển của các ngành khoa học và để học sinh tích cực, chủ động và
phát triển năng lực người học.
1.3. Xuất phát từ thực tế dạy học lĩnh vực sinh học cơ thể động vật, Sinh học 11,
Ban cơ bản.
Khối lượng tri thức sinh học tăng không ngừng cùng với đà phát triển chung
của khoa học trên thế giới. Không thể cung cấp cho học sinh những kiến thức sinh
học rời rạc mà phải sắp xếp lại một cách khoa học có hệ thống theo một trình tự
logic, phù hợp với sự tiếp thu của học sinh. Ðó là những hiểu biết tự nhiên xung
quanh mình từ động vật thực vật đến bản thân con người về cấu tạo, chức năng, các
quy luật phát triển cá thể và phát triển lịch sử của loài, của sinh giới, về ý nghĩa của
sinh vật trong tự nhiên hay trong nền kinh tế quốc dân. Một trong những phần quan
trọng trong nội dung môn sinh học là sinh học cơ thể động vật thuộc chương trình
sinh học 11, ban cơ bản.
Nếu chỉ dạy học sinh học cơ thể động vật một cách riêng rẽ, không vận dụng
kiến thức liên môn thì học sinh sẽ không thể giải thích được cơ chế hoạt động chức
năng của cơ thể động vật, không biết ứng dụng những kiến thức này vào trong nhiều
lĩnh vực của đời sống. Học sinh có thể vận dụng kiến thức vật lí, hóa học trong giải
thích các đặc trưng sinh học động vật hoặc có thể vận dụng kiến thức sinh học này
vào lĩnh vực chăn nuôi ở môn công nghệ... Điều này góp phần phát triển năng lực tư
duy hệ thống và năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn của học sinh.
Xuất phát từ những định hướng giáo dục cũng như tính cấp thiết của vấn đề
thực tế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “Thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn trong
dạy học phần sinh học cơ thể động vật, Sinh học 11, Trung học phổ thông”.


2. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ mối liên hệ giữa các môn học trong chương trình phổ thông với môn
Sinh học để thiết kế một số chủ đề tích hợp liên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy
học môn Sinh học 11.
3. Các nhiệm vụ nghiên cứu
-

Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu trong đề tài.

-

Tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng sử dụng các mối quan hệ liên môn
trong quá trình dạy học Sinh học ở trường trung học phổ thông Kim Sơn C,
tỉnh Ninh Bình.

-

Phân tích nội dung sinh học động vật trong chương trình sinh học 11 (trung
học phổ thông) để định hướng xây dựng một số chủ đề tích hợp liên môn.

-

Xây dựng hai giáo án với chủ đề tích hợp liên môn.

-

Thiết kế giờ học Sinh học với nội dung tích hợp liên môn và tiến hành thực
nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả dạy học.

4. Khách thể, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học ở trường phổ thông.

4.2. Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò, ý nghĩa và nội dung
mối quan hệ giữa môn Sinh học với các môn khoa học khác để xây dựng hai chủ đề
Sinh học cơ thể động vật (Sinh học 11, trung học phổ thông).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2015-2016.
4.4. Nghiệm thể nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng các mối quan hệ liên môn trong quá
trình dạy học Sinh học của giáo viên ở nhóm Sinh, trường THPT Kim Sơn C, tỉnh
Ninh Bình.
- Thực nghiệm sư phạm được tiến hành với 74 học sinh ở 2 lớp 11A, 11H,
trường THPT Kim Sơn C, tỉnh Ninh Bình.
5. Vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa môn sinh học với các môn học phổ thông
khác.


- Nghiên cứu nội dung phần sinh học cơ thể động vật (Sinh học 11, trung học
phổ thông) để lựa chọn nội dung và xây dựng chủ đề tích hợp liên môn.
6. Giả thuyết khoa học
- Nếu thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn trong thực tế giảng dạy thì sẽ tạo
điều kiện cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách có hệ thống và vận dụng kiến
thức liên môn giải quyết các vấn đề khoa học và đời sống.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Kết quả thu được trong quá trình thực hiện đề tài góp phần bổ sung và hoàn
thiện hệ thống kiến thức về vấn đề dạy học tích hợp, vấn đề nguyên tắc lựa chọn nội
dung dạy học môn Sinh học. Đồng thời những kết quả này cũng là cơ sở lý thuyết
khoa học cho quá trình dạy học nhằm đáp ứng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
sau 2015.
Ngoài ra những kết quả nghiên cứu có thể sử dụng được trong thực tế dạy

học môn Sinh học ở trường phổ thông và giảng dạy môn Phương pháp dạy học Sinh
học trong các trường Sư phạm.
8. Các phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học
và các tài liệu liên quan đến tích hợp liên môn
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn việc dạy học tích
học liên môn thông qua các phiếu điều tra và bảng hỏi.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của các chuyên gia giáo
dục, các chuyên gia sinh học về việc thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn.
- Phương pháp thống kê toán học: nhằm phân tích, đánh giá kết quả thực
nghiệm sư phạm.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chƣơng 2: Tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học 11, trung học phổ
thông
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề mối quan hệ liên môn
1.1.1.1. Nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện nay, dạy học tích hợp đã và đang được cả xã hội quan tâm và được coi
là xu thế tất yếu trong sự phát triển của giáo dục nước nhà. Dạy học tích hợp có
nhiều quan điểm khác nhau, trong đó quan điểm tích hợp liên môn và xuyên môn
được chú trọng, giúp học sinh liên kết kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc
sống. Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Cơ sở lý luận

của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các
trường sư phạm của tác giả Đinh Quang Báo (2003) [12]; Tác giả Trần Bá Hoành
(2003) đưa ra một số khái niệm nền tảng về sư phạm tích hợp, các quan điểm và
mục tiêu của sư phạm tích hợp, điều kiện và triển vọng để triển khai dạy học theo
hướng tích hợp ở trường phổ thông tại Việt Nam trong đề tài “Dạy học tích hợp” [17].
Tác giả Nguyễn Thế Hưng (2012) đã nêu rõ một số quan điểm và phương
pháp dạy học hiện đại, trong đó có dạy học tích hợp trong tài liệu “Phương pháp
dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông” [8].
Bên cạnh những nghiên cứu về mặt lí luận thì đã có một số nghiên cứu và đề
tài đưa ra một số chủ đề tích hợp như là: Đề tài Xây dựng chương trình đào tạo giáo
viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công
nghệ của Lê Đức Ngọc (2005) [18]; Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình
dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm của Nguyễn Đăng Trung (2003)
[22].
Nguyễn Phúc Chỉnh và Trần Thị Mai Lan (2009) đề cập đến Tích hợp giáo
dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học, Sinh học 10. Theo đó thì việc tích
hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục
tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học, vừa góp phần giúp HS định
hướng nghề nghiệp sau này. Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi sinh vật
lớp 10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc và biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp


trong dạy học vi sinh vật [13].
Tác giả Lê Trọng Sơn (1999) đưa ra đề tài “Vận dụng tích hợp giáo dục dân
số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 THCS”. Theo đó, giáo dục dân số được lồng
ghép vào môn Giải phẫu sinh lý người là thích hợp nhất. Ông đã chỉ ra mối quan hệ
giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số từ đó vận dụng quan
điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên
quan [19].
Như vậy, vấn đề dạy học tích hợp ở nước ta đã được nghiên cứu ở nhiều đề

tài, làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giảng dạy tích hợp. Không những vậy,
một số đề tài đã đưa ra các phương pháp dạy học cho một số chủ đề thích hợp với
nhận thức của học sinh, phát huy tính tích cực và phát triển năng lực của học sinh.
1.1.1.2. Nghiên cứu ngoài nước
Nhà giáo dục học T.A.I. Lina cho rằng tất cả các ngành khoa học được giảng dạy
trong nhà trường có sử dụng số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu,
những sự kiện và những ví dụ lấy từ thực tiễn cuộc sống và từ các lĩnh vực tri thức
khác nhau. Đồng thời tác giả cho rằng nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng
hợp là xác lập mối liên hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy mối liên
hệ qua lại của các khoa học [26].
Trong cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle O.
Martin - Kniep có đề cập đến quy trình xây dựng các đơn vị bài học tích hợp.
Chương trình tích hợp có nhiều hình thức khác nhau, trong đó tích hợp nội dung là
hình thức kết nối nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau [24].
Dạy học tích hợp còn được một số đề tài nghiên cứu như tác phẩm “Hướng
tới một chương trình giảng dạy tích hợp” của W.G. Wraga (2009) [27].
Trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”, các tác giả M.Alecxeep,
Onhisuc….cho rằng “Việc sử dụng rộng rãi các môn học như vậy để bồi dưỡng các
thủ thuật và phương pháp tư duy logic sẽ góp phần thực hiện một trong những yêu
cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác lập các mối liên hệ chặt chẽ giữa các
bộ môn trong dạy học [24].
Như vậy, có thể thấy rằng việc tích hợp trong dạy học đã và đang thu hút sự
quan tâm của không ít nhà sư phạm trên thế giới.


1.1.2. Khái niệm và phân loại các mối quan hệ liên môn
1.1.2.1. Khái niệm
Tích hợp trong dạy học là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng
dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế
hoạch giảng dạy” [5] và là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa

học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn
quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”
[17]. Tích hợp là một trong những nguyên tắc lựa chọn nội dung môn học quan
trọng đảm bảo “sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm
thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các
mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [3, 10, 20]. Dạy
học tích hợp là xu hướng chung trên thế giới nhằm “góp phần hình thành ở học
sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học
sinh nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc giúp học sinh hòa
nhập vào cuộc sống lao động. Sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học
tập có ý nghĩa. Như vậy, dạy học tích hợp là quá trình hình thành và hoàn
thiện cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học để giải quyết những
tình huống có vấn đề, cụ thể trong đời sống đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện
đại [16]. Vai trò của nhà trường trong quá trình dạy học tích hợp không chỉ
truyền đạt, cung cấp kiến thức mà cần phải giúp học sinh phát triển kĩ năng tìm
kiếm, hệ thống hóa để quản lý thông tin và vận dụng vào những tình huống có
ý nghĩa với học sinh. Bên cạnh đó cần phải xây dựng và tổ chức những hoạt
động tích hợp tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức, những kĩ năng,
thao tác riêng lẻ đã được hình thành để giải quyết những tình huống có ý nghĩa
trong thực tế đời sống.
Quan điểm liên môn trong dạy học phản ánh sự liên kết nội dung các môn
học có liên quan đến một vấn đề cụ thể cần giải quyết, trên cơ sở tích hợp liên
môn có thể hình thành các môn học mới, ví dụ môn Khoa học tự nhiên được
hình thành từ sự kết hợp các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học và môn Khoa học
xã hội là sự kết hợp giữa các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân [14].
1.1.2.2. Phân loại các mối quan hệ liên môn


-


Nhiều nhà khoa học đã phân chia các mức độ tích hợp theo các cách tiếp
cận như sau [14]:
 Cách tiếp cận truyền thống: các môn học được giảng dạy riêng rẽ,
độc lập, GV áp dụng quan điểm này trong giảng dạy từng môn như
Toán học, vật lý, hóa học, sinh học... Hiện nay, các môn học trong
trường phổ thông được dạy một cách riêng biệt, trong khuôn khổ
kiến thức của môn học đó. Các vấn đề được giải quyết trên cơ sở
những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó.
 Cách tiếp cận lồng ghép: một nội dung nào đó được lồng ghép vào
chương trình đã có sẵn của một môn học trong nhà trường. Trong
nhiều năm qua, tại Việt Nam đã kết hợp các chủ đề vào môn học
khác nhau như: Tích hợp giáo dục môi trường trong môn Địa lý, Tích
hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong môn Sinh học,
giáo dục công dân, Tích hợp giáo dục phòng chống tham nhũng trong
môn giáo dục công dân.
 Cách tiếp cận tích hợp nội môn: Các lĩnh vực và nội dung thuộc cùng
một môn học được học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất
định nhưng có sự loại bỏ các nội dung trùng lặp và có sự khai thác hỗ
trợ của các phân môn.
 Cách tiếp cận đa môn: Các môn học là riêng rẽ nhưng có những liên
kết giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn
đề chung.
 Cách tiếp cận liên môn: Các môn học kết nối với nhau và giữa chúng có
những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung.
Theo cách tiếp cận này thì giáo viên tổ chức dạy học xoay quanh các chủ
đề/vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được
nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt.
 Cách tiếp cận xuyên môn: Theo cách tiếp cận này thì giáo viên tổ
chức các hoạt động học liên quan đến những vấn đề từ cuộc sống
thực và có ý nghĩa đối với HS, từ đó xây dựng thành các môn học

mới khác với môn học truyền thống. Điểm khác biệt so với liên môn


là ở chỗ dạy học bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích
của HS. Xây dựng môn học mới bằng cách kết hợp hai hay nhiều
môn học với nhau thành những chủ đề chính hay nhánh chính và
không còn mang tên của mỗi môn học.
-

Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp được chia thành 2 nhóm lớn:
 Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học.
 Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn khác nhau. Cách tích
hợp này tiến xa hơn cách tích hợp thứ nhất vì nó dẫn đến hợp nhất
nhiều môn học.
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối

năm học hay cuối cấp học. Ví dụ: các môn Vật Lý, Hóa học, Sinh học vẫn được dạy
riêng rẽ nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn
đề chung của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được
đánh giá bằng bài thi tổng hợp kiến thức.
Cách 2: Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời
điểm cụ thể đều đặn trong năm học. Ví dụ: Các môn Lí, Hóa, Sinh vẫn được dạy
riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các
môn học này do các giáo viên khác nhau đảm nhiệm. Tuy nhiên, chương trình có bố
trí xen một số chương trình tích hợp liên môn nhằm làm cho học sinh quen dần với
việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau.
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài
tích hợp. Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục
tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung nhau, thường dựa vào một môn
học công cụ như Toán học. Trong trường hợp này môn học tích hợp được một giáo

viên giảng dạy.
Cách này có giá trị chủ yếu ở bậc tiểu học, ở đó các vấn đề phải xử lý thường là
những đề tài đơn giản có giới hạn. Ví dụ, bài tập đọc tích hợp kiến thức lịch sử, khoa học,
bài toán tích hợp kiến thức dân số, môi trường. Cách tiếp cận này cố gắng khai thác tính
bổ sung lẫn nhau của các môn học, theo đuổi những mục tiêu bổ sung cho nhau bằng
cách hoạt động trên chủ đề nội dung.


Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình
huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành
môn học tích hợp. Ví dụ: Môn tự nhiên và xã hội ở tiểu học tích hợp các kiến thức
về con người và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội, động vật
và thực vật, bầu trời và mặt đất.
Lên cấp THCS, THPT hệ thống khái niệm trong các môn học phức tạp hơn,
đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường do một giáo viên
được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người ta
thiên về áp dụng cách 4, tuy có nhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua vì dạy
học tích hợp là xu hướng tất yếu, đem lại nhiều lợi ích.
1.1.3. Bản chất và chức năng của các quan hệ liên môn
1.1.3.1. Bản chất của các quan hệ liên môn
- Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học. Hiểu theo cách này thì tích hợp là nói đến phương pháp
và mục tiêu của hoạt động dạy học còn liên môn là đề cập tới nội dung dạy học [2].
Tích hợp liên môn để chỉ hàng loạt các hoạt động học trong đó có sử dụng kiến thức
của nhiều môn học để giải quyết một tình huống thực tế, từ đó phát triển năng lực
người học.
- Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn thì người dạy tổ chức chương trình
học tập xoay quanh các nội dung học tập chung là các chủ đề, các khái niệm, các
khái niệm và kĩ thuật liên ngành hoặc môn; đồng thời kết nối các nội dung học tập
chung nằm trong các môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kĩ năng liên môn [6].

- Theo cách khác thì tích hợp liên môn còn là phương án trong đó nhiều môn
học liên quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất
định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp [6]. Theo cách này thì các hoạt động học để giải
quyết tình huống đặt ra cho chủ đề đó, từ đó phát triển toàn diện các năng lực cần có
ở người học.
- Hiện nay, nghiên cứu khoa học đang chuyển dần từ phân tích cấu trúc lên
tổng hợp hệ thống làm xuất hiện các liên ngành. Do đó, dạy học phải hướng đến các
tri thức toàn diện, có sự liên kết và tổng hợp các tri thức để giải quyết các vấn đề
mới có liên quan đến thực tiễn cuộc sống.


- Dạy học tích hợp có thực hiện các quan hệ liên môn luôn gắn với hình
thành và phát triển năng lực học sinh.
1.1.3.2. Chức năng của các quan hệ liên môn
Dạy học từng môn riêng rẽ giúp HS hình thành kiến thức khoa học một cách
hệ thống nhưng chưa có nhiều sự kết nối giữa các môn học. Sử dụng các quan hệ
liên môn giúp HS sử dụng kiến thức nhiều môn học để giải quyết các vấn đề thực
tiễn cuộc sống.
-

Muốn học sinh xử lí tốt các vấn đề liên môn thì phải sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực, góp phần hình thành và phát triển các
năng lực cần có nơi người học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS.

-

Dạy học tích hợp liên môn góp phần giảm tải cho học sinh, vừa cho
phép rút ngắn được thời gian dạy học, giảm sự trùng lặp nhàm chán
giữa các môn học mà còn phát triển hứng thú học tập cho người học.


1.1.4. Các nguyên tắc xây dựng nội dung tích hợp liên môn
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến
hai hay nhiều môn học thành một nội dung thống nhất, liên hệ chặt chẽ với nhau. Để
xác định được nội dung tích hợp liên môn trong kiến thức môn học thì giáo viên phải
phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp; phải biết chọn những vấn đề quan trọng,
mấu chốt nhất để giảng dạy theo cách dạy học tích hợp kiến thức liên môn, còn phần
kiến thức dễ hiểu nên để học sinh tự nghiên cứu trong sách giáo khoa hoặc các tài liệu
tham khảo [21].
Sinh học là môn khoa học có nhiều tiềm năng tích hợp liên môn. Tuy nhiên,
việc đưa các kiến thức liên môn vào bài giảng cần dựa vào các nguyên tắc sau:
- Kiến thức liên môn vẫn mang tính đặc trưng của môn học. Kiến thức này phải
có mối quan hệ logic chặt chẽ giữa Sinh học với môn học khác trong bài học. Đồng
thời phải được ẩn trong nội dung bài học Sinh học, không được làm thay đổi tính đặc
trưng của môn học.
- Khai thác nội dung tích hợp liên môn một cách chọn lọc, có tính hệ thống và
đặc trưng. Theo đó thì nội dung kiến thức để tích hợp liên môn phải phù hợp, không
dàn trải cả bài. Đồng thời, các nội dung đưa vào bài học phải được sắp xếp hợp lý,


vừa làm phong phú thêm kiến thức cho người học vừa nâng cao được chất lượng dạy
học nhưng phải sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, thích hợp với trình độ của học
sinh.
- Nội dung tích hợp liên môn phải đảm bảo tính vừa sức: Tức là phải phát huy
tính tích cực, chủ động và vốn sống của học sinh. Các kiến thức liên môn đưa vào
bài học phải làm cho bài học rõ ràng, tường minh hơn đồng thời gắn liền với thực tế
để tạo được hứng thú cho học sinh.
1.1.5. Thực hiện mối quan hệ liên môn qua các chủ đề tích hợp
- Chủ đề tích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện

tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội.
- Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp [2]
+ Bƣớc 1: Rà soát chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy
học gần giống nhau có liên quan chặt chẽ với nhau trong các môn học của
chương trình, sách giáo khoa hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn
đề thời sự của địa phương, đất nước để xây dựng bài học tích hợp.
+ Bƣớc 2: Xác định chủ đề tích hợp, bao gồm tên bài học và thuộc lĩnh vực
môn học nào, đóng góp của các môn vào bài học.
+ Bƣớc 3: Dự kiến thời gian (bao nhiêu tiết) cho chủ đề tích hợp.
+ Bƣớc 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức,
kĩ năng, thái độ, định hướng năng lực hình thành.
+ Bƣớc 5: Xây dựng các nội dung chính trong bài học tích hợp. Căn cứ vào
thời gian dự kiến, mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng
miền để xây dựng nội dung cho phù hợp.
1.1.6. Dạy học tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực người học
1.1.6. 1. Khái niệm năng lực
- Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng với
thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ
cụ thể trong bối cảnh thực tế, trong những tình huống mới nhất định.


- Dạy học tiếp cận năng lực: Quan tâm đến việc HS làm được gì, giải quyết được
vấn đề thực tiễn gì từ những kiến thức, kĩ năng đã được học. Theo chương trình
giáo dục định hướng năng lực thì các các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ cần
đặt ra trong một bối cảnh thực tế, trong đó:
+ Kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực
+ Kĩ năng: hoạt động có tính lặp lại trong một bối cảnh quen thuộc (tính
quen thuộc, lặp lại) thành thạo dần qua thời gian.
+ Năng lực là sự chuyển hóa kĩ năng sang giải quyết vấn đề thực tế, trong bối
cảnh thực hoặc bối cảnh mới.

1.1.6.2. Phân loại năng lực : Dựa trên mức độ chuyên biệt của năng lực, phân thành
hai loại sau
- Năng lực chung: Là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau,
chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng
tượng, ngôn ngữ…) là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có
hiệu quả.
+ Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học, năng lực
giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực tự quản lí.
+ Nhóm năng lực quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
+ Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền
thông ICT, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.
Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên đặc tính di truyền
của con người, quá trình phát triển giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp
ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
- Năng lực chuyên biệt: Là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính
chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết
quả cao như năng lực toán học, văn học, hội họa, âm nhạc, thể thao, tư duy khoa
học,...
Trong dạy học môn sinh học cần phát triển một số năng lực riêng, đó là: Tri
thức về sinh học, năng lực nghiên cứu, năng lực thực địa, năng lực thực hành trong
phòng thí nghiệm.


1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Tiến hành khảo sát thực trạng lựa chọn nội dung dạy và tổ chức dạy học theo xu
hướng tích hợp của giáo viên và học sinh trường THPT Kim Sơn C, huyện Kim Sơn
với mục đích đánh giá mức độ thường xuyên của công tác tích hợp kiến thức liên
môn đối với giáo viên và học sinh tại trường này.
- Nghiệm thể:
+ 60 GV trường THPT Kim Sơn C huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình.

+ 150 HS trường THPT Kim Sơn C huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình.
- Phương pháp: phỏng vấn, dự giờ, thăm lớp, sử dụng phiếu điều tra.
- Thời gian khảo sát: Tháng 11 năm 2015.
- Nội dung khảo sát như sau:
1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy học tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học ở
trường THPT Kim Sơn C
Để đánh giá thực trạng dạy học tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học thì
việc khảo sát phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng là điều rất quan trọng
(thể hiện trong phụ lục 2). Kết quả khảo sát có thể giúp người dạy định hướng
phương pháp dạy học tích hợp liên môn thích hợp trong tương lai. Kết quả khảo sát
mức độ sử dụng một số phương pháp dạy học được thống kê theo bảng 1.1.
Bảng 1.1. Mức độ sử dụng một số phương pháp dạy học của GV trường THPT
Kim Sơn C
Mức độ sử dụng(N= 60)
Phƣơng pháp

Thƣờng xuyên

Đôi khi

Không sử
dụng

n

%

n

%


n

%

1. Đàm thoại ( hỏi- đáp)

40

66.7

19

31,7

1

1,6

2. Thực hành thí nghiệm

11

18,3

40

66,7

9


15,0

3. Thảo luận nhóm

12

20,0

31

51,7

26

43,3

4. Thuyết trình

50

83,4

8

13,3

2

3,3


5. Giải quyết vấn đề

19

31,7

24

40,0

17

28,3

6. Dạy học dự án

16

26,6

25

41,7

19

31,7



Từ số liệu điều tra trong bảng 1.1. nhận thấy:
Phương pháp dạy học chủ yếu được GV sử dụng nhiều là đàm thoại và
thuyết trình. Trong đó, phương pháp đàm thoại với 66,7% thầy/ cô thường xuyên
sử dụng. Tương tự, phương pháp thuyết trình cũng là sự lựa chọn hàng đầu với
83,4 % thầy/ cô thường sử dụng.
Bên cạnh đó thì phương pháp dạy học ít được GV sử dụng đó là: thực hành
thí nghiệm, thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, dạy học dự án. Trong đó: 18,3% GV
thường xuyên sử dụng thực hành thí nghiệm. Với phương pháp thảo luận nhóm thì
có đến 51,7 % giáo viên thỉnh thoảng mới sử dụng. Phương pháp giải quyết vấn đề
chỉ có 31,7% thầy/ cô thường xuyên sử dụng. Tương tự với phương pháp dạy học
dự án 26,6 % giáo viên thường xuyên sử dụng, 41,7% giáo viên thỉnh thoảng mới
sử dụng. Các phương pháp được sử dụng trong dạy học tích hợp liên môn chưa
được các thầy/ cô giáo chú trọng.
Tương tự việc khảo sát về mức độ sử dụng một số phương pháp dạy học thì
chúng tôi cũng tiến hành theo dõi các hoạt động trong dạy học của GV, được phân
phối trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Bảng phân phối các hoạt động dạy học của GV trong lớp (N=60)
Hoạt động
n
%

Giảng giải
Dạy kiến thức
kiến thức mới mới và liên hệ
thực tiễn
59
21
98,3
35


Hƣớng dẫn
học sinh tự
học
10
16,7

Hƣớng dẫn
học sinh làm
bài tập SGK
15
25

Từ kết quả thu được trong bảng 1.2 chúng tôi nhận thấy phần lớn thời gian
trên lớp các thầy cô giáo chủ yếu tiến hành hoạt động giảng giải kiến thức mới
(98,3%), chú trọng đến nội dung tri thức học sinh nắm được qua mỗi bài dạy mà
không chú trọng phát triển các năng lực cần có của học sinh thời kì hiện đại. Hoạt
động liên hệ thực tiễn cuộc sống là cần thiết để học sinh thích nghi với môi trường
luôn biến động thì chưa được các GV chú trọng.
Một trong các phương pháp dạy học được sử dụng để HS có thể vận dụng
giải thích các hiện tượng thực tế là dạy học tích hợp. Chúng tôi tiến hành khảo sát
việc đưa nội dung các môn học khác như toán học, vật lí, hóa học vào dạy học Sinh
học. Kết quả thống kê cho thấy khoảng 83,3% thầy/ cô chọn không. Điều này


có nghĩa là giáo viên ít sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học. Từ số liệu thu
được trên bảng 1.3 thấy có 73,4% giáo viên không sử dụng tích hợp liên môn trong
quá trình dạy học của mình.
Chúng tôi tiếp tục khảo sát để làm rõ mức độ sử dụng tích hợp liên môn
trong quá trình dạy học của GV, số liệu thể hiện trong bảng 1.3.
Bảng 1.3. Mức độ sử dụng tích hợp liên môn trong quá trình dạy học

Thƣờng xuyên

Đôi khi

Không sử dụng

n

8

5

47

%

13,3

8,3

73,4

Với kết quả định lượng như trên kết hợp với việc nghiên cứu giáo án, dự giờ
thăm lớp của các giáo viên trường THPT Kim Sơn C chúng tôi nhận thấy:
GV thường sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống trong đó thầy/cô
giữ vai trò chủ yếu trong quá trình dạy học, tính tích cực ở học sinh không được
phát huy, học sinh học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, không được tạo điều kiện,
tình huống để suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không
đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại. Trong khi đó một số
phương pháp dạy học tích cực hỗ trợ cho việc dạy học tích hợp liên môn, giúp học

sinh giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống chưa được các GV sử dụng
nhiều.
Để giải thích cho thực trạng trên, chúng tôi đưa ra một số nguyên nhân như
sau:
+ Chương trình, SGK hiện hành chưa thuận lợi cho quá trình tích hợp liên
môn.
+ GV còn chịu ảnh hưởng rất lớn của phương pháp dạy học truyền thống
mà trong thời gian ngắn chưa thể thay đổi kịp.
+ Hiện nay việc đào tạo giáo viên để dạy học đơn môn nên muốn giải quyết
các vấn đề của nhiều môn học cần có sự hỗ trợ của các giáo viên bộ môn khác.
+ Các kỳ kiểm tra chất lượng, kể cả kỳ thi quốc gia THPT thiên về kiểm tra
mức độ ghi nhớ và tái hiện kiến thức nên cách dạy phổ biến hiện nay vẫn còn chú trọng
đến cung cấp kiến thức cho học sinh để đáp ứng cho các kì thi này.


1.2.2. Khảo sát sở thích của học sinh về việc học tập liên môn trong nhà trường
THPT Kim Sơn C
Để dạy học tích hợp liên môn có hiệu quả thì hoạt động học của HS cần đặc
biệt chú trọng. Đề tài đã nghiên cứu thái độ của học sinh đối với môn Sinh học và
được thể hiện qua phiếu khảo sát (phụ lục 1), kết quả cho thấy: 20% học sinh cảm
thấy rất thích môn Sinh học. Phần lớn học sinh coi việc học môn Sinh học là nhiệm
vụ bắt buộc đây là môn học phụ, chỉ một số ít yêu thích môn học này.
Nhằm kiểm tra mức độ kiến thức trong SGK Sinh học THPT chúng tôi tiến
hành điều tra với 150 học sinh, kết quả được thể hiện trong bảng 1.4.
Bảng 1.4. Mức độ kiến thức trong SGK Sinh học THPT đối với học sinh
Quá nặng với
học sinh
Số lượng

35


Có nhiều kiến
thức liên
quan tới thực
tế
122

%

23,3

81,3

Không liên
quan gì với
cuộc sống

Phù hợp với
học sinh

14

83

9,3

55,3

Kết quả trong bảng 1.4 cho thấy: 55,3% số học sinh cho rằng kiến thức trong
SGK Sinh học THPT là phù hợp với học sinh. Trong khi đó có tới 81,3% học sinh

thấy trong môn sinh học THPT có nhiều kiến thức liên quan tới thực tế. Đây là cơ
hội để giáo viên môn sinh sử dụng kiến thức tích hợp liên môn để giải thích kiến
thức thực tế môn Sinh, tăng hứng thú của học sinh với môn học.
Chúng tôi tiến hành đánh giá mức độ cần thiết của việc liên hệ các kiến
thức học được với thực tiễn, kết quả cho thấy 89,3% số học sinh trả lời cần thiết
(số liệu không thể hiện trong luận văn). Điều này chứng tỏ học sinh rất muốn
học các kiến thức có thể liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Đây là minh chứng cho
sự cần thiết của việc dạy học các chủ đề tích hợp liên môn.
Ngoài ra, khảo sát hứng thú của HS về quá trình học tập môn Sinh học có
sử dụng kiến thức tích hợp liên môn để giải thích một số hiện tượng thực tế cho
thấy 96,7% học sinh cảm thấy thích thú với việc này (số liệu không thể hiện
trong luận văn).


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2003). Lí luận dạy học sinh học.
NXB Giáo dục, 2003.
2. Bộ Giáo dục và đào tạo( 2015), Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp liên môn
lĩnh vực Khoa học tự nhiên.
3. Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), Tích hợp trong dạy học sinh hoc. Nhà xuất bản
Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
4. Nguyễn Thành Đạt , Lê Đình Tuấn, Nguyễn Nhƣ Khanh, Sinh học 11
( cơ bản ). Nhà xuất bản giáo dục
5. Bùi Hiền (2011), Từ điển giáo dục học. Nhà xuất bản từ điển bách khoa.
6. Mai Văn Hƣng( 2016), Bài giảng Dạy học theo quan điểm tích hợp liên
môn. Đại học Quốc gia Hà Nội – Đại học giáo dục
7. Mai Văn Hƣng, Nguyễn Quang Mai, Trần Thị Loan- Sinh lý học động
vật và người- Nxb khoa học và kĩ thuật Hà Nội.
8. Nguyễn Thế Hƣng (2012), Phương pháp dạy học Sinh học ở trường trung

học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. Phạm Văn Lập (2007), Bài giảng phương pháp dạy học Sinh học ở trường
THPT. Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Sư phạm.
10. Hoàng Phê (2009), Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục Đà
Nẵng.
11. Lâm Quang Thiệp, Trắc nghiệm và ứng dụng. Nhà xuất bản khoa học và kĩ
thuật Hà Nội
12. Đinh Quang Báo (2003), Cơ sở lí luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ
bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm, Kỷ yếu 60 năm
ngành sư phạm Việt Nam Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
13. Nguyễn Phúc Chỉnh, Trần Thị Mai Lan (2009), Tích hợp giáo dục
hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10), tạp chí khoa học
công nghệ ( 206), trang 44-46.


14. Nguyễn Thị Kim Dung, Dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục
phổ thông. Hội thảo dạy học tích hợp và dạy học phân hóa ở trường
trung học đáp ứng yêu cầu đổi mới CT và SGK sau năm 2015.
15. Võ Văn Duyên Em, Tích hợp trong dạy học bộ môn ở trường phổ
thông. Hội thảo dạy học tích hợp và dạy học phân hóa ở trường trung
học đáp ứng yêu cầu đổi mới CT và SGK sau năm 2015
16. Trần Bá Hoành (2002), Dạy học tích hợp,
17. Trần Bá Hoành (2003), Dạy học tích hợp, Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm
Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
18. Lê Đức Ngọc (2005), Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp
các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công nghệ, Kỷ yếu:
“Mục tiêu đào tạo và Mô hình đại học sư phạm Việt Nam trong giai đoạn
mới”, trang 72 – 7
19. Lê Trọng Sơn (1999), Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải
phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (7/1999),

tr. 24-28.
20. Dƣơng Tiến Sỹ (2001), “Giảng dạy tích hợp các khoa học nhằm nâng cao
chấtlượng giáo dục và đào tạo”, Tạp chí giáo dục (9), tr. 27-29.
21. Vũ Thị Thu Thƣơng( 2014), “Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học
phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 -Trung học cơ sở.”, Luận văn thạc
sỹ- Đại học giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Nguyễn Đăng Trung (2003), Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình
dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm, Kỷ yếu 60 năm ngành
Sư phạm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
Tài liệu tiếng Anh
23. J. Beane (1995), Curriculum Integration and the Disciplines of knowledge,
Phi DeltaKappan (76 April), pp. 616-622
24. Giselle O. Martin – Kniep(2011), Tám đổi mới để trở thành người giáo viên
giỏi, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
25. M.Alecxeep – V.Onhisuc – M.Crugllac – V.Zabotin – X.Vecxcle (1976),
Phát triển tư duy học sinh. Nxb Giáo dục”.
26. T.A.I. Linđa (1970), Giáo dục học, người dịch Đàm Hữu Thiếu, hiệu đính
Nguyễn Đình Cao, Tư liệu trường ĐHSP Hà Nội I, 1972. Nhà xuất bản Đại học


Matxcơva.
27. W.G. Wraga (2009), Toward a connected core curriculum, Educational
Horizon, 87 (2), pp. 88-96.



×