Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên nà hẩu huyện văn yên, tỉnh yên bái

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 103 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRẦN NGUYÊN DŨNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM
THIỂU TÁC ĐỘNG BẤT LỢI CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
NÀ HẨU HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ NHÂM

Hà Nội, 2011


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, nhiều thành tựu đã đạt được trong công tác quản lý
bảo tồn hệ thống rừng đặc dụng, vai trò của các khu bảo tồn trong phát triển kinh tế
ở cấp quốc gia và địa phương ngày càng được khẳng định. Nhận thức về vai trò của
rừng đặc dụng đối với bảo vệ đa dạng sinh học, môi trường trong xã hội được tăng


cường đáng kể. Tuy nhiên việc bảo vệ, quản lý các khu bảo tồn đã và đang gặp
không ít những khó khăn từ phía người dân và cộng đồng địa phương. Khó khăn lớn
nhất gặp phải trong việc quản lý KBT là số dân sinh sống bên trong KBT đã tạo sức
ép rất lớn. Tài nguyên rừng là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần
rừng từ bao đời nay nhưng từ khi thành lập KBTTN Nà Hẩu thì những thói quen,
phong tục tập quán phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm
các sản phẩm từ rừng đã bị hạn chế và kiểm soát. Với tỷ lệ HGĐ nghèo lớn, dân trí
thấp, họ cho rằng việc thành lập Khu bảo tồn không đem lại lợi ích gì hoặc rất ít cho
họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác nguồn TNR như trước đây.
Trong khi đó các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương chưa
bù đắp được sự thiếu hụt này. Cho nên đã gây ra mâu thuẫn giữa Khu bảo tồn với
người dân địa phương - những người đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn tài
nguyên rừng. Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào tài
nguyên rừng như là một tất yếu và Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cũng trong tình
trạng chung như thế. Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu - huyện Văn Yên được thành
lập theo Quyết định số 512/QĐ – UB ngày 09 tháng 10 năm 2006 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Yên Bái với diện tích 16.950 ha [31]. Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có
điều kiện tự nhiên đặc thù, nguồn tài nguyên động vật, thực vật phong phú, có nhiều
cảnh quan đẹp như dọc theo sườn các đỉnh núi cao có các thác nước, dưới khe là các
dòng suối chảy và là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật càng làm cho hệ sinh vật,
đặc biệt là hệ thực vật ở đây thêm đa dạng, phong phú và có những nét đặc thù
riêng. Hệ thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu chưa bị tác động mạnh, diện
tích rừng già, rừng giàu còn lại khá lớn, cấu trúc rừng còn tương đối nguyên vẹn,


2

còn lưu trữ được nhiều loài thực vật quý hiếm. Những đặc điểm nêu trên cho thấy
khu rừng Nà Hẩu không những có giá trị cao về đa dạng sinh học, về sinh thái, môi
trường mà còn có ý nghĩa về du lịch sinh thái, phục vụ tham quan, học tập nghiên

cứu. Với thành phần dân tộc chủ yếu là H’mông và Dao với những tập quán truyền
thống như canh tác nương rẫy, du canh du cư, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu
lượm các sản phẩm từ rừng. Đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào
chính là nguồn tài nguyên rừng, mỗi khi có cơ hội với những cách tiếp cận đến mức
tối đa nguồn TNR. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có giải pháp nhằm giảm thiểu những
tác động bất lợi của người dân địa phương tới TNR ở KBTTN Nà Hẩu nhằm bảo vệ
đa dạng sinh học và phát triển bền vững TNR. Và đề tài “Nghiên cứu đề xuất một
số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài
nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”
hết sức cần thiết.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ở nước ngoài
Trong những năm đầu thập kỷ 80 cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực
nghiên cứu nhằm làm thay đổi chiến lược bảo tồn và chiến lược bảo tồn mới dần
được hình thành. Đó là sự liên kết quản lý KBTTN, VQG với các hoạt động sinh kế
của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng
trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Theo định nghĩa của IUCN (1994) đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học
là mục tiêu cơ bản của KBTTN:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh
vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm,
được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả
khác”.(IUCN 1994 ) [12]
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. VQG Yellowstone là
VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên

vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực
ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN
và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng
phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương
thâm nhập vào KBTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến
những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa CĐĐP và KBT và
mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [12]. Hầu hết các KBT đều được
thiết lập vì mục đích Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của
người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phương thức quản lý của
nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm
nhập vào KBT và khai thác TNR. Tại các nước Đông Nam Á phương thức này tỏ ra
không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất


4

quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
[10].
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng
sinh học (ĐDSH) theo hướng toàn cầu. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung
đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và
động vật hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những
hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây
Nepal đã được thực hiện. Nghiên cứu đã khẳng định, 73% người dân địa phương
sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn [38].
Ở Ấn Độ, nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông
thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ). Theo Gadgil và VP.
Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn
Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ
dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây.

Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về
săn bắn và hái lượm. Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ. Với nạn phá
rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng
tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như:
Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra
tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996). Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng
bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm
năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà
vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn [39].
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành
vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây.
Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền
vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận [25, tr6].
Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính
phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong


5

muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội (KT-XH). Việc đưa người
dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào "bắt cá
khỏi nước" và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có
người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc
quản lý các nguồn tài nguyên này [30].
Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên thế giới,
từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự
đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay
đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và
khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động

sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng
đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các
KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý
gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Ở
VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với
VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và
được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại
VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ
truyền [35].
Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua
sự cộng tác” thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh
Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý
bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là
phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu
nhập của họ [25]. Hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền
sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con
người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỉ lệ phá rừng hàng năm


6

vẫn ở mức cao 2,6%. Một nghiên cứu tại vùng đệm của KBT động vật hoang dã
Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để quản lý
chúng trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong tiến trình. Kết
quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu
biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn
thiên nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương
lai [30]. Bink Man W. (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban
Pong, tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào

rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả
trong rừng. Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương
tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996).Theo
Poffenberger, M. và McGean, B( 1993) trong báo cáo: “Liên minh cộng đồng: đồng
quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang Yai nằm ở đông
bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại Dang Yai người dân đã
chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn đồng
thời phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm
bảo ổn định về môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong
khu vực. Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản
lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và
chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát
tài nguyên rừng.
Ở Philippines, chiến lược Quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng: "Điều chủ
chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa
phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách
liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với
bảo tồn ĐDSH" (Denr và TCSD, 1994) [30].
Ở Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi nhận rằng "Việc tăng cường sự
tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc
vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành


7

động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Bappenas, 1993)
[30].
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G(1986) cho rằng đối với cộng đồng
dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân
địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý nông nghiệp

hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền
lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công ăn việc
làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng [21].
Dilmour D.A. (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém
hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải
quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng
đồng địa phương với lợi ích quốc gia. Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh
của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển
theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động
sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người
dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng [21].
Theo Nick Salafky và các đồng sự (trong Biodiversity Support Program
Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà
bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích
kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động
sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ bản của chiến
lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người xung quanh. Các chủ thể địa
phương có cơ hội hưởng lợi ích trực tiếp từ ĐDSH và như vậy sẽ có thể hạn chế
được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với ĐDSH. Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn
ĐDSH chứ không phải cạnh tranh với nhau. Hơn nữa chiến lược này công nhận vai
trò của người dân địa phương trong bảo tồn ĐDSH. Cũng trong chiến lược này, các
nhà bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc
phát triển du lịch sinh thái [21].


8

Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (WWF) 2001 đã đưa ra một
thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xóa đói
giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”

1.2. Ở trong nước
Hiện nay hệ thống KBTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao
gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20
khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ
sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái
trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng,
miền cả nước [12].
Cùng với sự ra đời của các VQG và KBTTN rải đều từ Bắc vào Nam thì hệ
thống các thể chế, chính sách về công tác bảo tồn cũng đã được thiết lập. Đầu tiên là
Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991 và được sửa đổi ngày
03/12/2004. trong đó quy định rừng đặc dụng bao gồm:
+ Vườn quốc gia
+ Khu bảo tồn thiên nhiên gồm: Khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài,
sinh cảnh
+ Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam
thắng cảnh
+ Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến
việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng
rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT. Gần đây nhất, Thủ
tướng Chính phủ ký quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 về việc ban
hành Quy chế quản lý rừng, thay thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg. Theo điều 14
chương II của quy chế quản lý rừng cho biết: Trong VQG và KBTTN được chia
thành các phân khu chức năng sau đây:
a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:


9

- Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên

như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn
biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái.
- Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và
điều kiện thuỷ văn.
b) Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái rừng
thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết.
c) Phân khu dịch vụ - hành chính
Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban quản lý,
các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
Bên cạnh đó Quy chế quản lý rừng quy định: Vùng đệm là vùng rừng, vùng
đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và KBTTN; bao gồm toàn bộ
hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và KBTTN.
Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới
VQG và KBTTN. Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư
vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài
nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và gắn
sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng (điều 24).
Theo điều 23 trong quy chế quản lý rừng đã nêu rõ :
1. Việc ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng thực hiện
theo quy định tại Điều 54 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
2. Diện tích rừng sản xuất nằm xen kẽ trong rừng đặc dụng được bảo vệ, phát
triển và sử dụng theo quy định tại Chương IV Quy chế này.
3. Diện tích đất ở, ruộng, vườn và nương rẫy cố định của dân cư sống trong
rừng đặc dụng không tính vào diện tích rừng đặc dụng nhưng phải được thể hiện
trên bản đồ, cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa và quản lý theo quy định của
pháp luật về đất đai.



10

Trong quyết định số 192/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt
chiến lược quản lý hệ thống KBTTN Việt Nam đến năm 2010 đã chỉ rõ :
- Kế hoạch quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn thiên nhiên
phải tham khảo đầy đủ nguyện vọng về kinh tế và thu hút sự tham gia của các cộng
đồng dân cư sống xung quanh KBTTN.
- Làm rõ mối quan hệ giữa vùng đệm và khu bảo tồn thiên nhiên bằng các giải
pháp xây dựng Qui chế hoạt động và nguyên tắc phối hợp giữa vùng đệm với khu
bảo tồn thiên nhiên. Qui định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia quản lý
vùng đệm, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc trên mỗi địa phương có khu bảo
tồn thiên nhiên.
Nghị định số 109/2003/ NĐ- CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền
vững các vùng đất ngập nước.
Quyết định số 62/2005/QĐ- BNN ngày 12/10/2005 quy định tiêu chí phân loại
rừng đặc dụng.
Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống
rừng đặc dụng.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020.
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao
hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển. Đó là làm
sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội của người dân địa phương.
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
(1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương
vào rừng. Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam
đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre
nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ
yếu của người dân miền núi [10].
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn Bá
Thụ (1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết



11

những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm,
chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí của người dân sống
trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnh
thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh,
quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài
nguyên cho người dân địa phương [21].
D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về
quản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên. Kết quả nghiên cứu đã
phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt nam như: Tình hình KT-XH, tình
trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm;
tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm [9].
Về quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các KBTTN, Lê
Quý An (2001) đã khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng
là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động
bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán
trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con
người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi
trường, góp sức cho việc bảo tồn [1].
Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN Pù Mát
cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các CĐĐP và thái độ của họ về
các chính sách bảo tồn. Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân
địa phương do sự ảnh hưởng của KBT và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông
qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên. Nghiên cứu cho rằng
hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp. Tại
thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình
trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình (HGĐ) trong vùng bảo

vệ nghiêm ngặt là từ rừng. Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương.


12

Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng
chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBTTN [26].
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự (2002) dưới sự hỗ trợ của chương trình hỗ trợ
lâm nghiệp xã hội, trung tâm đào tạo Lâm nghiệp xã hội đã thực hiện một nghiên
cứu về khả năng thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý và sử dụng đất lâm
nghiệp tại khu phục hồi sinh thái (PHST). Các tác giả cho rằng hệ thống chính sách
hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút CĐĐP vào quản lý, sử dụng các khu rừng đặc
dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ VQG và đề xuất mô
hình quản lý đất đai trong khu PHST của VQG Ba Vì [15].
Nguyễn Thị Phương (2003) khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì- Hà Tây” đã vận dụng phần
mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các
nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề
nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp. Vì vậy, để giải
quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình
thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích
tiêu dùng, chăn thả gia súc….trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng
hoá cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%).
Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các
dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [16].
Hoàng Quốc Xạ (2005) đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định
lượng trong việc xác định các hình thức tác động và nguyên nhân tác động khi
nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến TNR tại vùng đệm VQG Xuân
Sơn tỉnh Phú Thọ. Các giải pháp được tác giả đưa ra tuy bao hàm nhiều lĩnh vực
song chưa dựa trên các yếu tố đã được phân tích cụ thể tại khu vực nghiên cứu và

chưa thể hiện được tính khả thi của các giải pháp đưa ra [37].
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hoá tốt và thể hiện sinh động ảnh hưởng
của các yếu tố sản xuất đển tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ
giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện


13

nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Na Hang,
Tuyên Quang. Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc 30
HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn
mẫu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày
người dân đã tác động tới TNR dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên
rừng” là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác
động cũng khác nhau. Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh
hưởng của các yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3
yếu tố nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả [25].
Khuất Thị Lan Anh (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - tỉnh Bắc Kan” đã
nghiên cứu các yếu tố kinh tế và xã hội chi phối các hình thức và mức độ tác động
bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng. Đề tài đã phần nào lượng hóa
được mức độ tác động của người dân tới KBT như: Sử dụng tài nguyên rừng, khai
thác các sản phẩm rừng, sử dụng đất rừng để chăn thả gia súc, tác động đến TNR do
các nguyên nhân rủi ro, các hoạt động khai thác vàng…Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu
nghiên cứu các tác động tích cực của người dân. Thêm vào đó, các giải pháp đưa ra
còn chung chung, chỉ mang tính chất định hướng, chưa đi sâu vào các giải pháp
mang tính khả thi đối với địa phương [2].
Trần Ngọc Thể (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương
tới tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” đã đưa ra 1 hệ thống cơ sở lý
luận và thực tiễn trong nghiên cứu tác động của người dân tới các KBT. Ngoài ra đề

tài còn lượng hóa được mức độ tác động của người dân tới tài nguyên rừng ở VQG
Ba Bể bằng cách phân tích các yếu tố sản xuất ảnh hưởng tới tổng thu nhập của các
HGĐ thông qua hàm Cobb-Douglas (hàm sản xuất có độ co giãn không đổi).
Nghiên cứu đã đưa 7 biến sản xuất (diện tích đất, số lao động chính, phân bón, đầu
tư bằng công, khai thác gỗ, chăn thả gia súc, số khẩu), 11 biến hiệu quả (Học vấn
chủ hộ, độ cao, loại kinh tế hộ, mức độ gần rừng, dân tộc DT1T, dân tộc DT2T,
mức độ thuận tiện giao thông, khả năng tiếp cận thị trường, tỷ lệ LĐC/số khẩu, số


14

lần đốt nương rẫy, sử dụng giống) vào mô hình để phân tích, kết quả cho 4 biến sản
xuất và 6 biến hiệu quả tồn tại trong mô hình. Kết quả cho thấy: Tồn tại mối quan
hệ rất chặt giữa tổng thu nhập từ rừng với 4 yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và
6 yếu tố hiệu quả với hệ số xác định R2 =0.93( F=14.601, Sig.F=0.000); và 93%
biến động của thu nhập được giải thích bởi các yếu tố này. Đây là 1 nghiên cứu mẫu
có ý nghĩa tham khảo rất tốt. Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung phân tích các tác động
bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng( TNR) của VQG Ba Bể mà
chưa quan tâm tới những tác động tích cực của người dân, trong khi đó sự tham gia
của người dân theo hướng tích cực là phần không thể thiếu đối với công tác bảo tồn
ở bất kỳ VQG nào [29].
Đỗ Thị Hường (2010) khi: “Nghiên cứu các tác động của người dân địa
phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến – huyện Kim
Bôi - tỉnh Hòa Bình” đã đánh giá được tình hình hiện trạng công tác quản lý bảo vệ
TNR, phân tích kinh tế HGĐ, nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động của
người dân đến TNR và tổng thu nhập của các HGĐ ở khu vực nghiên cứu. Đã phân
tích sự phụ thuộc, các nguyên nhân dẫn đến sự tác động bất lợi của người dân đến
TNR. Đề tài đã đề xuất được một số giải pháp tác động tích cực và hạn chế các tác
động bất lợi của cộng đồng người dân tới TNR của KBT, các giải pháp có cơ sở
khoa học và thực tiễn có thể làm tài liệu tham khảo tốt [11].

KBT thiên nhiên Nà Hẩu từ khi thành lập đến nay chưa có một nghiên cứu
nào về tác động của người dân tới TNR của khu bảo tồn. Một số nghiên cứu mới
điều tra, giám sát các loài chỉ đề cập đến giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học,
Nguyễn Thị Kim Phượng, năm 2010 “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật và sự phân
bố của một số loài thực vật quý hiếm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái” Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại
học Lâm nghiệp, Hà Nội [17].
1.3. Một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu
Mối quan hệ giữa người dân với công tác bảo tồn ở các KBT và VQG đã và
đang được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau. Qua một số nghiên cứu,


15

đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã lượng hóa được hình
thức và mức độ tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng của các khu
rừng đặc dụng. Ở một số nghiên cứu khác lại tập trung vào phân tích mức độ phụ
thuộc của người dân vào TNR. Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nghiên cứu trên chỉ
dừng lại ở khía cạnh phân tích các tác động bất lợi mà chưa đề cập tới các tác động
tích cực từ phía người dân trong công tác bảo tồn.
Tính đến thời điểm này, vấn đề về biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học đang là
những mối quan tâm lớn của mọi quốc gia, vì vậy diện tích rừng và chất lượng rừng
cần được bảo vệ và nâng cao. Số lượng khu rừng đặc dụng của nước ta ngày càng
tăng lên, trong khi đó mỗi khu rừng đặc dụng lại có đặc trưng về quy mô, sinh thái,
phân bố dân cư, tình hình kinh tế, xã hội, phong tục tập quán khác nhau. Vì vậy,
việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với các khu rừng đặc dụng
nhằm đề xuất các giải pháp thu hút người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi
KBT, VQG trên phạm vi cả nước là việc cần thiết. Hiện nay hầu hết các giải pháp
đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung chung, tuy gần đây nhất (năm
2010) có một nghiên cứu đã đưa ra được các giải pháp có cơ sở khoa học và thực
tiễn có thể tham khảo tốt nhưng chỉ ở một địa điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế xã

hội cụ thể. Vì vậy, những nghiên cứu về vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu
và qua thời gian đúc rút sẽ hoàn thiện dần.
.


16

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác động bất lợi của các hộ gia
đình đồng bào dân tộc H’Mông, Dao tại các xã Nà Hẩu, Mỏ Vàng, Đại Sơn, vào tài
nguyên rừng tại KBTTN Nà Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung chủ yếu vào việc xác định các tác động bất lợi của cộng
đồng người dân, của các HGĐ Khá, Trung bình và Nghèo vào TNR tại KBTTN Nà
Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Luận văn tập trung cộng đồng người dân sống ở bên trong KBT và vùng
đệm của 3 xã Nà Hẩu, Mỏ Vàng, Đại Sơn là đối tượng chính của luận văn.
- Luận văn tập trung phân tích các nguyên nhân nội tại của các cộng đồng
sống ở PKBVNN (vùng lõi), PKPHST và vùng đệm của KBT và các nguyên nhân
bên ngoài gây ra các tác động bất lợi và có lợi tới KBT.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu.
2.2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần giải quyết mối quan hệ giữa các cộng đồng sống gần rừng và phụ
thuộc vào rừng tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam, đồng thời góp phần giúp địa
phương, Ban quản lý KBT có được những luận cứ khoa học cũng như thực tiễn đề
ra giải pháp quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững TNR dựa vào cộng đồng.

2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được các hình thức và mức độ tác động của các hộ gia đình đồng
bào dân tộc H’Mông, Dao vào tài nguyên rừng tại KBTTN Nà Hẩu huyện Văn Yên,
tỉnh Yên Bái.


17

- Xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi tới
tài nguyên rừng.
- Đề xuất được các giải pháp giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người
dân tham gia vào quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên rừng tại KBTTN
Nà Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
2.3. Nội dung nghiên cứu.
- Tình hình công tác tổ chức quản lý bảo vệ TNR tại KBTTN Nà Hẩu
- Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương đến tài
nguyên rừng tại KBTTN Nà Hẩu
- Phân tích các cơ cấu ảnh hưởng đến kinh tế HGĐ
- Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập của các HGĐ tại Khu vực
nghiên cứu
- Các nguyên nhân dẫn tới tác động bất lợi của người dân tới TNR của
KBTTN Nà Hẩu.
- Đề xuất các giải pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người
dân tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại KBTTN Nà Hẩu
huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
2.4. Quan điểm và Phương pháp nghiên cứu.
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận
2.4.1.1. Lý luận về lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được sử dụng như một cơ sở để giải quyết các vấn đề
phức tạp và tổng hợp.

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và
tác động qua lại. Khi nghiên cứu một hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội ta phải xem
xét đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các hiện tượng khác, vì mọi hiện
tượng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mặt khác mỗi hiện tượng đều nằm
trong trạng thái biến đổi và phát triển mà nguồn gốc và động lực chủ yếu của hiện
tượng đó nằm trong bản thân sự vật, vì vậy việc nghiên cứu một sự vật phải xem lý
thuyết hệ thống là nền tảng của phương pháp luận. Vận dụng quan điểm hệ thống


18

trong phân tích mối quan hệ giữa người dân địa phương và TNR thì có thể thấy
được sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống
KT-XH và tác động tới hệ thống tự nhiên
+ Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ
thống kinh tế có nghĩa là các yếu tố trong hệ thống kinh tế như nguồn thu nhập, chi
phí, mức sống, nhu cầu của thị thường, các nguồn sinh kế, lợi nhuận.... có ảnh
hưởng tới các hình thức và mức độ tác động của người dân tới TNR. Ngược lại các
tác động của người dân đến TNR và mức độ tác động cũng chi phối đến hiệu quả
kinh tế của các HGĐ, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, mức độ tác động lớn hay
nhỏ...
Do các tác động của người dân có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh tế
nên có thể tác động vào các yếu tố kinh tế nhằm phát huy tác động tích cực và giảm
thiểu tác động bất lợi của người dân tới TNR trong KBT. Đây là một trong những
cơ sở lý luận quan trọng để đề xuất các giải pháp kinh tế trong luận văn.
+ Tác động của người dân tới TNR là hoạt động mang tính xã hội. Bởi con
người là trung tâm của các tác động tích cực hoặc bất lợi tới TNR. Các tác động do
con người thực hiện và phục vụ cuộc sống của con người cho nên các tác động chịu
sự chi phối của của các yếu tố xã hội (nhận thức của người dân về vai trò của rừng,
hiểu biết về chính sách, phong tục tập quán, tín ngưỡng, luật pháp, thể chế...). Ngoài

ra, các chính sách của KBT, chính quyền địa phương, các quy định riêng của cộng
đồng cũng ảnh hưởng tới tác động của người dân địa phương vào TNR. Tuy nhiên
tác động của người dân tới TNR cũng thể hiện các yếu tố xã hội trong một cộng
đồng (công bằng, bình đẳng , tổ chức và thể chế....).
Từ những phân tích trên cho thấy vấn đề nghiên cứu của luận văn có quan hệ
qua lại với các yếu tố xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi
phối các tác động của người dân tới TNR nhằm đề xuất các giải pháp xã hội giảm
thiểu các tác động bất lợi của người dân tới TNR là có cơ sở khoa học.
+ TNR là một hệ thống tự nhiên trong đó các phần tử trong hệ thống có mối
quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Bất kỳ tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng


19

dẫn tới sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống. Trong tự nhiên TNR
tồn tại khách quan, vận động và phát triển theo những quy luật nhất định như: Tái
sinh, sinh trưởng và phát triển, diễn thế....Nếu không tôn trọng quy luật vận động
của tự nhiên hoặc tác động vượt quá giới hạn chịu đựng của tự nhiện thì hệ thống sẽ
suy giảm và có nguy cơ biến mất. Một số người cho rằng: Rừng là tài nguyên có thể
tái tạo được. Nếu khai thác tài nguyên rừng ở giới hạn cho phép nào đó thì sau một
thời gian rừng có thể phục hồi lại. Lý luận này không sai nhưng nhiều người đã lợi
dụng điều này để tác động tới TNR quá mức và không cho thời gian để rừng kịp
phục hồi. Vì vậy, để duy trì TNR như một hệ thống hoàn chỉnh trong tự nhiên thì
các tác động của con người phải phù hợp với các quy luật vận động của tự nhiên.
2.4.1.2. Quan điểm sinh thái nhân văn
Từ lý thuyết sinh thái nhân văn, sinh thái văn hóa áp dụng vào phân tích các
tác động tích cực và bất lợi của người dân tới TNR. Mỗi cộng đồng sinh sống và
phát triển đều có các hoạt động KT-XH, sinh thái, văn hóa đặc trưng. Những yếu tố
này ảnh hưởng tới nhận thức và hành động của mỗi con người trong cộng đồng.
Những tác động của người dân tới TNR chịu sự chi phối của các yếu tố KT- XH,

sinh thái, văn hóa đó song các yếu tố này tác động tới các hoạt động trong cộng
đồng ở các giai đoạn khác nhau thì cũng khác nhau. Có những yếu tố giữ vai trò
quan trọng trong cộng đồng vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng vào
thời điểm khác.sử dụng tháp sinh thái - nhân văn của Park (1936) đã được Teherani
Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô phỏng để giải thích tác động tích
cực và bất lợi của người dân địa phương đến TNR


20

Hình 2.1 Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động
của người dân địa phương đến tài nguyên rừng
Mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các
hoạt động xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố
theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Mô
hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt
động của cá nhân và sự bền vững.
Cơ sở sinh thái được được giải thích bằng các yếu tố vật lý, sinh học, được
chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa
hình... và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ
lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán.... Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chế được cần
được nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ.
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu
cầu thị trường..., những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người
dân địa phương tới TNR .
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức
cộng đồng... ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến
TNR.
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là
văn hoá của các cộng đồng. Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay

đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng.


21

Theo tháp sinh thái - nhân văn thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm phát huy
các tác động tích cực và giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát
triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố
về KT-XH của cộng đồng người dân địa phương.
2.4.1.3. Quan điểm bảo tồn – phát triển
Trước đây, các KBTTN thường được xem như một khu vực tách biệt với thế
giới loài người. Quan niệm này đã dẫn đến những sai lầm trong việc quản lý
các KBTTN và hệ quả kéo theo đó là liên tục bị con người tác động theo hướng tiêu
cực: tàn phá mà nguyên nhân là do những áp lực xã hội và sinh thái cả trong và
ngoài KBT [35]. Theo Chương trình Con người và Sinh quyển cho thấy các KBT
vẫn cần có một số khu vực không có hoặc chịu rất ít tác động của con người với
những quy định kiểm soát chặt chẽ, được gọi là “vùng lõi”. Bên cạnh đó cần thúc
đẩy phát triển kinh tế thân thiện với môi trường, phát triển giáo dục và bảo tồn các
giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng xung quanh được gọi là các “vùng đệm” và
chuyển tiếp trong đó, người dân địa phương đóng vai trò chủ chốt. Có như vậy công
tác bảo tồn mới đạt được hiệu quả lâu dài và bền vững.
Hiện nay, nhận thức được vai trò quan trọng của việc liên kết giữa bảo tồn và
phát triển. Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999) đã đưa ra quan điểm bảo
tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển
địa phương, bao gồm:
- Một là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp
ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm bớt
và tài nguyên được bảo tồn: “Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế”.
- Hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến
việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa được đáp

ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền KT-XH của họ đủ tốt để họ có thể quan
tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: “Cách tiếp cận phát triển kinh tế”.
- Ba là CĐĐP đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu
như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử


22

dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó. Theo cách này, tài
nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa
phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp
lý và bền vững: “Cách tiếp cận tham gia quy hoạch”.
Như vậy, với 3 cách tiếp cận trên thì tùy thuộc vào điều kiện địa phương nhất
định mà vận dụng cách tiếp cận nào cho phù hợp. Luận văn vận dụng cả 3 cách tiếp
cận này đối với cộng đồng người dân ở trong và ngoài KBT nhằm đề xuất các giải
pháp phát huy các tác động tích cực và giảm thiểu các tác động bất lợi của người
dân tới TNR.
2.4.1.4. Tiếp cận có sự tham gia
“Sự tham gia của nhân dân như quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn
có khả năng tự tổ chức, có khả năng nhận biết các nhu cầu của chính mình và tham
gia trong thiết kế, thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương” định nghĩa
của WB và FAO (1982) [14]. Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của sự tham gia
từ thấp đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia
qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên
ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức [14].
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân được áp dụng trong quá trình
thu thập số liệu tại địa điểm nghiên cứu. Người dân tham gia ở mức độ tư vấn, cung
cấp thông tin.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1. Nghiên cứu và phân tích tài liệu thu thập

Các tài liệu liên quan đến KBTTN Nà Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái và
các xã đã được nghiên cứu và phân tích như:
- Hệ thống chính sách về quản lý rừng đặc dụng:
- Tài liệu, văn bản liên quan đến quy hoạch phát triển và quản lý KBTTN Nà
Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Tổng quan; phương hướng phát triển KT-XH; quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của các xã thuộc vùng lõi, vùng PHST và vùng đệm của KBTTN Nà Hẩu.


23

- Các tài liệu liên quan khác đến KBTTN Nà Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên
Bái và địa phương.
2.4.2.2.Chọn địa điểm nghiên cứu
Các điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã vùng
đệm, PHST, vùng lõi, KBTTN Nà Hẩu huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; trao đổi với
cán bộ KBTTN Nà Hẩu, Hạt kiểm lâm huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Các số liệu
thứ cấp được thu thập, bảng câu hỏi phỏng vấn HGĐ được kiểm thử về tính phù hợp
để thuận tiện cho quá trình thu thập số liệu chính thức.
Nguyên tắc chọn địa điểm nghiên cứu:
- Nguyên tắc: Điểm nghiên cứu phải là đại diện tương đối cho khu vực
nghiên cứu. Nguyên tắc cụ thể: Các xã được lựa chọn có dân tộc hiện đang sinh
sống là H’Mông, Dao. Thành phần dân tộc là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới
việc lựa chọn hệ thống sản xuất, sinh kế của cộng đồng và đặc biệt là các hình thức
tác động của cộng đồng tới TNR. Dân tộc và tập tục văn hoá có thể ảnh hưởng đến
quá trình đổi mới, việc chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt
động phát triển.
Mỗi xã đại diện cho điều kiện về mức độ gần rừng, điều kiện giao thông, cơ
sở hạ tầng, khả năng tiếp cận để phát triển kinh tế...Các thôn được lựa chọn đảm
bảo đại diện cho xã và các hộ gia đình được lựa chọn phỏng vấn, thảo luận đảm bảo

đại diện cho thôn. Các xã, thôn đều đảm bảo có đủ loại kinh tế hộ: (1) Hộ khá; (2)
Hộ trung bình; (3) Hộ nghèo.
Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Sau khi khảo sát sơ bộ các xã nằm trong KBTTN Nà Hẩu đồng thời phỏng
vấn cán bộ Ban quản lý KBTTN Nà Hẩu, cán bộ chính quyền địa phương của các
xã xung quanh KBT, tác giả đưa ra một số kết luận về địa điểm nghiên cứu như sau:
- KBTTN Nà Hẩu nằm trên địa bàn của 4 xã gồm xã Nà Hẩu, xã Mỏ Vàng,
xã Đại Sơn, xã Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên. Vì vậy tác giả đã lựa chọn 3
xã trong 4 xã trên là địa điểm nghiên cứu của đề tài.


24

- Đề tài tiến hành phỏng vấn các tác động của người dân tới TNR theo 2 khía
cạnh là kinh tế hộ gia đình và mức độ gần rừng (theo phân khu của KBT theo Quy
định của Quy chế quản lý rừng 2006) [6], thành phần dân tộc.
Kết quả lựa chọn ra 3 xã là Nà Hẩu (vùng lõi- chiếm hơn 99% dân tộc
H’mông), xã Đại Sơn (thành phần dân tộc chủ yếu là người Dao), xã Mỏ Vàng (2
dân tộc chủ yếu H’mông và Dao). Xã Phong Dụ Thượng không lựa chọn do tương
đồng với xã Mỏ Vàng nên chỉ lấy 1 đại diện.
2.4.2.3. Xác định dung lượng mẫu điều tra
Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần của tổng thể được lựa chọn theo những
cách thức nhất định và với một dung lượng hợp lý. Mẫu có tính đại diện để có thể
suy rộng thông tin thu được cho tổng thể.
Đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại [28] theo công thức
sau:
2

2


.
n  N.t S.
N.d t S
2

2

2

(1)

Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Số hộ của xã điều tra
t: Là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả
d: Sai số mẫu( cho trước d=5%-10%)
S2: Phương sai của tổng thể( cho trước S2=0,25)
Kết quả tính toán số HGĐ cần lựa chọn phỏng vấn theo các xã được xác định là:
- Xã Nà Hẩu: n = 30,89695 làm tròn là 31
- Xã Đại Sơn: n = 33,01961 làm tròn là 33
- Xã Mỏ Vàng: n = 33,4816 làm tròn là 33
Tổng số hộ gia đình cần điều tra là 97 HGĐ
Bảng 2.1. Kết quả lựa chọn các xã nghiên cứu điểm tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Nà Hẩu
STT
1


Nà Hẩu

Thôn

Thôn 1
Thôn 2
Thôn 3

Số
Mức độ gần
HGĐ
rừng
65 Vùng lõi
54 Vùng lõi
48 Vùng lõi

Số HGĐ cần
điều tra
8
6
6


×