Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Văn hóa ăn ở của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.21 KB, 27 trang )

LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Trần Phương Thúy,
cùng các thầy cô trong Khoa văn hóa thông tin và xã hội Trườn Đại học Nội vụ
Hà Nội đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học
tập giúp tôi hoàn thành đề tài của mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn phòng Văn hóa thông tin xã hội huyện Định Hóa
tỉnh Thái nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt giúp tôi hoàn thiện đề tài
của mình. Trong thời gian đi điền dã thu thập tài liệu tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin ở
nhiều xã trong huyện Định Hóa. Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè,
thầy cô đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đề
tài.

1


MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm
tất cả bản sắc văn hóa của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Tính thống
nhất ấy không chỉ là phép cộng đơn giản, các dân tộc chỉ có thể đóng góp vào và
làm nên sự phong phú của văn hóa Việt Nam với điều kiện không đánh mất bản
sắc văn hóa tộc người. Nền văn hóa này đã chịu đựng được sự thử thách và khảo
nghiệm của lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước. Tính đoàn kết, tính
thống nhất này đã hình thành nên khái niệm dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã xây
dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độc
đáo của 54 dân tộc sinh sống trên đất nước ta. Việc phát triển văn hóa nhằm mục
tiêu tạo nên sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam nhưng làm thế nào để
tạo dựng nên một sự bền vững khi trên con đường phát triển các dân tộc lại đang
đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bên cạnh đó, hiện nay các thế lực
phản động trong nước và quốc tế đã và đang sử dụng văn hóa như một công cụ


để kích động mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc. Do vậy, việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn
tại hay không tồn tại đối với mỗi dân tộc. Dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâu
đời ở nước ta. Họ phân bố trên phạm vi rộng từ biên giới phía Bắc của các tỉnh
Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai xuống vùng trung du; từ biên giới phía đông của
tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng qua huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và
huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình. Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bào
Tày có mặt lâu đời và có số dân chiếm 9,08%. Trong đó người Tày ở Định Hóa
có số dân trên 43367 người chiếm 49,2 % dân số toàn huyện.
Do sớm có mặt ở Định Hóa lại chiếm tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến
trình phát triển của lịch sử, đồng bào Tày nơi đây đã sớm xây dựng cho mình
một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng góp phần xây dựng nên
truyền thống văn hóa Việt Nam.
Trên cơ sở đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn trở thành vấn đề
2


trọng tâm trong đường lối của Đảng. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ V khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định rõ: “Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra
những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế
thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn
hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hóa truyền
thống của đồng bào Tày ở huyện Định Hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Văn hóa ăn
ở của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu
khoa học kết thúc học phần “ Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam ”. Trong đó
tập trung chủ yếu vào đời sống vật chất và tinh thần của người Tày ở huyện
Định Hóa.


3


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1. Khái quát tình hình kinh tế, văn hõa, xã hội của dân tộc Tày ở huyện
Định Hóa tỉnh Thái nguyên.
1.1.1. Dân số, nguồn gốc
Dân tộc Tày là dân cư chiếm số đông ở huyện Định Hóa. Hiện nay, ở
Định Hóa có 43.367 người Tày chiếm 49,2% dân số toàn huyện. Có những xã
của huyện Định Hóa người Tày chiếm tới 90% như: Linh Thông, Bộc Nhiêu,
Điềm Mặc, Bình Yên…
Theo tác giả Đào Duy Anh trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các
đời” thì người Tày ở nước ta có nguồn gốc từ người Lão Man ở Trung Quốc. Tác
giả “đoán rằng người Nùng ở miền Nam Trung Quốc và người Tày ở Bắc Việt
Nam là hậu duệ của họ. Đặc biệt là người Lão ở Tây Nguyên bấy giờ”. “Chúng
ta có thể đoán rằng cư dân các châu ki mi thuộc An Nam đô hộ phủ là tiền thân
của đồng bào Tày, Nùng ở khu vực Việt Bắc hiện nay”
Ngoài nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc, người Tày ở Định Hóa còn
một bộ phận “Tày hóa”. Người Kinh trong lịch sử đã có quá trình di cư lên Định
Hóa sinh sống cùng người Tày và dần dần họ trở thành người Tày. Một bộ phận
người Tày hiện nay nếu xem xét gia phả thì hoàn toàn là người Việt.
1.1.2. Tình hình kinh tế
1.1.2.1. Kinh tế nông nghiệp
Là cư dân bản địa, người Tày đã sinh sống ở Định Hóa từ lâu đời. Với đặc
điểm cư trú ở những vùng thấp, ven chân đồi nơi có nguồn nước nên người Tày
ở đây có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước. Ruộng của người Tày được
khai phá từ đất bằng phẳng ven sông ở các vùng thung lũng có độ màu mỡ cao
hoặc khai phá các thửa ruộng rìa đồi rừng. Tên các cánh đồng đó thường được

4


bắt đầu bằng từ “nà” như Nà Chằm, Nà Luông, Nà Phai… Trong canh tác lúa
nước người Tày biết dùng phân bón, chủ yếu là phân trâu để bón ruộng. Hệ
thống thủy lợi tương đối phát triển bao gồm: hệ thống mương, phai đặc biệt
người Tày ở Định Hóa nói riêng và đồng bào Tày nói chung biết sáng tạo ra
những chiếc cọn dẫn nước từ khe suối lên ruộng bậc thang, đảm bảo việc tưới
tiêu có hiệu quả.
Khi canh tác lúa nước, người Tày tiến hành các bước kỹ thuật như sau: từ
cày lật đất rồi cày lại lần hai, bừa lần 1, bón lót, bừa lần hai cho phẳng rồi mới
cấy lúa. Ruộng để gieo mạ được làm rất kỹ. Đất được cày bừa bằng trâu sau đó
người ta bón phân chuồng lên ruộng rồi bừa cho mặt ruộng phẳng, láng nước.
Thóc được làm giống được chọn rất kỹ phải là hạt già, mẩy và đều hạt. Trước
khi đem ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó đem ủ từ 2 3 ngày khi hạt đã nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo. Khi mạ gieo xong, để
khoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào. Từ khi gieo mạ đến khi
cấy khoảng 25 - 30 ngày. Ruộng để cấy được cày, bừa kỹ càng. Khi làm ruộng,
đồng bào đã sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa. Ngày nay,
nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật nên người Tày đã sử dụng các loại
phân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất
cây trồng được nâng cao.
Bên cạnh canh tác lúa nước, đồng bào còn làm nương rẫy, soi bãi và phát
triển vườn tược theo lối truyền thống. Nương rẫy là một hình thức sản xuất cổ
truyền, có nguồn gốc từ lâu đời. Trên nương rẫy đồng bào tiến hành trồng các
loại cây ngũ cốc như: lúa, ngô, khoai, sắn… Những nương đã trồng một, hai vụ
lúa hoặc ngô người ta dùng để trồng đỗ, đậu các loại vừa tận dụng được thời vụ,
tận dụng được đất không trồng được lúa, vừa để cải tạo đất để trồng các loại cây
khác. Ngoài nương rẫy đồng bào còn có hình thức trồng trọt khác là vườn tược
và soi bãi, ngày nay có cả những trang trại trồng cây công nghiệp, cây ăn quả…
Sau trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng. Trước đây,

5


người Tày vẫn chú ý đến việc chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò,
lợn, dê, gà, ngan, vịt… nhưng chủ yếu là chăn thả, rất ít khi làm chuồng trại kiên
cố. Từ khi có chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước, đồng bào đã biết
áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi. Các loại gia súc,
gia cầm đã có chuồng, trại ổn định, nuôi các giống vật nuôi cho năng suất cao
như: lợn lai, lợn siêu nạc, gà siêu nạc,… Nhờ vậy, chăn nuôi không chỉ nhằm
phục vụ nhu cầu của đồng bào mà con tạo ra sản phẩm để trao đổi hàng hóa, tạo
thêm thu nhập cho gia đình. Có thể nói, đồng bào Tày đã đưa kinh tế hàng hóa
vào trong chăn nuôi.
Ngoài ra, đồng bào nơi đây con chú trọng nuôi cá. Hầu như gia đình nào
cũng đào ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa tạo cảnh quan môi trường
sống sạch đẹp hơn. Nếu là ao chuyên canh thì đồng bào nuôi nhiều loại cá khác
nhau, thời vụ ngắn, dài khác nhau như cá chép, cá trôi, cá mè, á trắm,… là cá
dài ngày, cá diếc, cá rô,…là cá ngắn ngày. Thông thường cứ 1 hoặc 2 năm người
ta tháo ao bắt cá và sửa sang, nạo vét ao cá. Riêng cá nuôi ở ruộng sau 1 hoặc 2
vụ lúa thì đồng bào thường nuôi các loại cá ngắn ngày, năng suất thấp.
Không chỉ có chăn nuôi và trồng trọt, đồng bào Tày còn tiến hành hái
lượm và đánh bắt. Sau buổi làm nương, đồng bào tranh thủ hái các loại rau rừng,
nấm, măng về làm thức ăn. Đánh bắt cá ở khe suối, sông, hồ tự nhiên cũng là
một hoạt động kiếm sống mang tính tự nhiên khá phát triển của đồng bào Tày
Định Hóa. Đồng bào sử dụng các loại dụng cụ từ thô sơ như việc bắt bằng tay
đến các loại công cụ cao hơn như chài lưới, dùng thuyền, mảng…
1.1.2.2. Kinh tế thủ công nghiệp
Đồng bào Tày ở Định Hóa có một số nghề thủ công truyền thống như:
nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề làm mộc…
Nghề dệt vải truyền thống của người Tày nơi đây mang tính xã hội cao và
gắn bó khá mật thiết với người phụ nữ Tày. Người Tày ở huyện Định Hóa đã

sớm biết trồng bông nhuộm chàm, tạo khung dệt vải. Nhờ bàn tay lao động của
6


người phụ nữ mà những bộ trang phục truyền thống được tạo nên. Các sản phẩm
dệt ngoài việc để dùng để may mặc còn được sử dụng làm mặt chăn, màn che,
mặt địu, túi đeo…
Nghề dệt đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người Tày
từ bao đời nay. Để chuẩn bị hành trang về nhà chồng, các thiếu nữ Tày phải tự
tay dệt rất nhiều vỏ chăn, gối để biếu những người thân trong gia đình nhà
chồng.
Người Tày ở Định Hóa rất ít thêu thùa và trang trí hoa văn trên bộ trang
phục truyền thống của mình. Nhưng hoa văn được dệt trên vải thì rất phong phú
và đa dạng tùy theo mục đích sử dụng. Vải nhuộm chàm dùng để may quần áo,
vải trơn dùng trong tang ma, vải thổ cẩm dùng để làm vỏ chăn, vỏ gối, địu, túi
đeo… thì tạo hoa văn với nhiều kiểu dáng như kiểu quả trám, hoa hồi, hoa cúc…
Nghề đan lát của người Tày chủ yếu tạo ra các sản phẩm phục vụ cho lao
động sản xuất và sinh hoạt gia đình như các loại dần, sàng, phên, bồ, giỏ,…
Nguyên liệu đan lát là tre, giang, nứa, mây… sẵn có trong tự nhiên. Nghề đan lát
được phổ cập trong mọi người từ già đến trẻ đều tận dụng thời gian rỗi để làm.
Nhất là đối với phụ nữ, đan lát còn là một trong những tiêu chí để xác định tài
tề gia nội trợ của họ cũng như nghề dệt vải vậy.
Nghề rèn đúc ít phổ biến hơn chỉ có một số gia đình hoặc nhóm thợ cùng
chung vốn dựng lò rèn. Các lò rèn thường sửa hoặc rèn mới một số nông cụ như
cuỗc, cào, liềm, đinh ba, dao, kéo… phục vụ cho lao động sản xuất và sinh hoạt.
1.1.3. Đời sống văn hóa, xã hội
1.1.3.1. Quan hệ xã hội
a. Quan hệ cộng đồng làng bản
Người Tày ở huyên Định Hóa có tập quán cư trú thành làng bản. Bản là
đơn vị tụ cư của nhiều dòng họ lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tự

quản và những quy định riêng. Quy mô của các bản vừa và nhỏ, mỗi bản thường
chỉ có 30 đến 60 nóc nhà. Làng bản của người Tày thường được tạo dựng ở
7


thung lũng có sông, suối hay có đồi núi bao quanh… Tên gọi của bản thường
được đệm từ “nà” (ruộng), “pác” (cửa), “khuổi” (suối) như: Nà Loòng, Nà Poọc,
Pác Máng, Pác Cáp…
Mỗi bản có phạm vi cư trú và đất đai trồng trọt riêng, đường phân giới
thường là đường mòn, khe núi, khe suối, đèo cao… được công nhận theo quy
ước của dân bản. Mặc dù những quy ước đó không được ghi thành văn bản cụ
thể nhưng do sự tôn trọng và tin tưởng nhau nên dân bản đều công nhận. Ý thức
về địa vực cư trú ấy được truyền từ đời này sang đời khác trong dân cư của làng
bản.
Dân cư trong bản bao gồm nhiều họ, trong đó có một đến hai họ đông
người hơn và thường là những họ của người đến cư trú đầu tiên. Mỗi bản đều có
những nghi lễ chung liên quan đến nghề nông, chăn nuôi, lễ cúng thổ thần, lễ
xuống đồng… nhằm cầu mong cho người, cây trồng và vật nuôi phát triển, làng
bản ấm no, hạnh phúc.
Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyết thống dân tộc là mật
thiết nhất. Bên cạnh đó là quan hệ láng giềng đồng tộc hay khác tộc cũng là yếu
tố quan trọng để giúp nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong mỗi bản đều có
miếu thờ thổ công là linh thần cai quản cương giới của làng bản, che chở cho cư
dân của làng bản. Thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần mọi
thành viên trong bản dù đồng tộc hay khác tộc đều đoàn kết với nhau. Trong sản
xuất, đồng bào nơi đây có tập quán đổi công cho nhau trong những ngày mùa
bận rộn. Hay khi một nhà trong bản có lễ cưới hay tang ma đều nhận được sự
giúp đỡ của mọi người dân trong bản. Đó thực sự là một nét đẹp trong đời sống
tinh thần của đồng bào Tày nơi đây.
b.Quan hệ dòng họ

Thông thường những người cùng họ sống cùng nhau trong một bản hoặc
vài bản gần kề. Cho nên những người trong dòng họ luôn giúp đỡ lẫn nhau trong
sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Chẳng hạn, khi con gái của gia đình nào đó
8


trong dòng họ có người đến dạm hỏi, gia đình phải có lời mời anh em thân tộc
đến hỏi ý kiến. Trong lễ ăn hỏi với sự có mặt đông đủ của họ hàng nhà gái để
bàn bạc, thỏa thuận với nhà trai về số lượng sính lễ, thủ tục đưa đón dâu…
Trong quan hệ dòng họ, về mặt nguyên tắc hôn nhân, đồng bào thực hiện
nguyên tắc hôn nhân ngoại tộc. Điều này có nghĩa là thực hiện hôn nhân ngoài
dòng họ, những người cùng dòng họ không được kết hôn với nhau.
c. Quan hệ gia đình
Gia đình của người Tày là gia đình phụ hệ, quan hệ huyết tộc theo dòng
cha, mang tính chất phụ quyền ảnh hưởng theo lễ giáo phong kiến Nho giáo.
Trước đây, người Tày ở Định Hóa còn tồn tại nhiều gia đình lớn nhiều thế hệ,
nhưng ngày nay phổ biến là gia đình nhỏ với hai thế hệ bố mẹ và con cái chưa
lập gia đình. Con cái sinh ra lấy theo họ bố, trường hợp con trai đi làm rể đời để
thờ cúng hương hỏa nhà vợ thì con sinh ra lấy theo họ mẹ. Đây là một trong
những đặc trưng phản ánh tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày.
Mỗi tiểu gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, có tài sản riêng, tiêu dùng
riêng. Chủ gia đình là người cha, người chồng. Chủ gia đình làm chủ toàn bộ tài
sản, có quyền quyết định tất thảy mọi công việc trong nhà, điều khiển mọi công
việc sản xuất, tổ chức sinh hoạt, có trách nhiệm cúng bái và là người thay mặt
gia đình giải quyết những vấn đề liên quan với bên ngoài. Khi xem xét, giải
quyết những công việc quan trọng người chủ gia đình thường bàn bạc với vợ
con nhưng tiếng nói quyết định thuộc về chủ gia đình.
Trong tổ chức sản xuất có sự phân công lao động theo giới một cách tự
nhiên. Trong gia đình, những loại công việc khác nhau do các thành viên thực
hiện theo sự phân công của chủ gia đình, phù hợp với sức khỏe và khả năng của

từng người. Đàn ông chủ yếu đảm đương những việc nặng nhọc như: cày, bừa,
phát nương, làm nhà, chuồng trại gia súc,… Phụ nữ làm những công việc đỡ
nặng nhọc hơn như: cấy hái, làm cỏ, bón phân, kiếm củi, chăm lo việc nội trợ,
nuôi dạy con cái, dệt vải…
9


Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày không chỉ thể hiện qua vai
trò của người chồng, người bố mà còn biểu hiện rõ nét trong việc phân chia tài
sản - chỉ có con trai mới có quyền thừa kế. Tài sản để phân chia gồm có: ruộng,
trâu, bò, ngựa, rừng, lúa gạo, đồ dùng gia đình, công cụ sản xuất,… Trong mỗi
gia đình khi con cái ra ở riêng đều được bố mẹ phân chia cho một phần tài sản.
Trong đa số trường hợp, con trai trưởng được nhận phần nhiều hơn, các con trai
khác chia đều như nhau. Khi bố mẹ chết đi, người con trai trưởng sẽ là người thờ
cúng bố mẹ, lo dựng vợ gả chồng cho các em. Mặc dù vậy người phụ nữ cũng
có một vai trò nhất định trong gia đình. Trong gia đình, người vợ có quyền tham
gia ý kiến về các công việc, là lao động chính trong gia đình, là người trực tiếp
nuôi dạy con cái nhưng quyền quyết định bao giờ cũng thuộc về người chồng.
Một biểu hiện nữa của tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày ở
Định Hóa đó là quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhất là giữa con dâu,
em dâu với bố chồng, anh chồng. Trong gia đình, vợ phải nghe lời chồng, em
phải nghe lời anh, chị, bậc dưới phải tôn trọng bậc trên. Đặc biệt người phụ nữ
trong gia đình phải tuân thủ những quy tắc ứng xử chặt chẽ như: không được đi
ngang qua phía trước các bàn thờ trong nhà, không ngồi vào chỗ tiếp khách của
nam giới ở gian ngoài, không được tới chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bố, chú
bác, anh chồng ; Bố chồng, anh chồng không bao giờ ngồi cùng mâm cơm, bàn
chè, bàn rượu với con dâu, em dâu ; Con dâu, em dâu không được phép đưa cho
bố chồng, anh chồng dùng bất cứ thứ gì mình đã dùng và đang dùng như : chậu
rửa mặt, lược chải đầu…; Khi con dâu, em dâu ở cữ, bố chồng, anh chồng không
bao giờ tự tay đưa trực tiếp cho con dâu, em dâu cơm hay bất cứ thứ gì. Nếu

muốn đưa đồ gì phải qua một người trung gian hoặc để ở bàn để con dâu, em
dâu tự lấy ; Bố chồng, anh chồng không được đặt địu cháu lên lưng và buộc địu
cháu cho con dâu, em dâu. Con dâu, em dâu muốn đặt địu cháu phải chạy sang
nhờ hàng xóm mặc dù có bố chồng hoặc anh chồng ở nhà ; Bố chồng, anh chồng
10


không được bước chân vào buồng ngủ của con dâu, em dâu kể cả là ban ngày.
Trong trường hợp con dâu, em dâu bị ốm mà bố chồng, anh chồng muốn vào
thăm thì phải có mặt của mẹ chồng, em dì hay em gái chồng. Thậm chí cháu
khóc, ông cũng không được phép vào buồng con dâu bế cháu mà phải nhờ người
khác vào bế cháu ra ngoài hộ; Con dâu không được đi ngang qua trước mặt bố
chồng, anh chồng..
Người Tày có tục nhận con nuôi, nhận bạn tồng kể cả trong trường hợp
người khác dân tộc. Nhận con nuôi có nhiều dạng, nhiều nguyên nhân như : đỡ
đầu ăn học, chữa khỏi bệnh, truyền dạy nghề thầy cúng… Nhận con nuôi nhưng
không phải nuôi thực sự. Mặc dù vậy, khi nhà bố mẹ nuôi có công việc bận rộn
hay khi gặp khó khăn, con nuôi phải có trách nhiệm giúp đỡ như đối với cha mẹ
đẻ của mình. Vào dịp lễ tết con nuôi phải đến lễ tết và có lễ vật cho bố mẹ nuôi.
Khi bố mẹ nuôi qua đời, con nuôi phải để tang báo hiếu và có lễ vật hiến tế như
đối với bố mẹ ruột. Ngược lại bố mẹ nuôi cũng phải có trách nhiệm bảo vệ, giúp
đỡ con nuôi nhưng chủ yếu là về mặt tinh thần. Một dạng khác là nhận con nuôi
thực sự hay còn gọi là nhận con thừa tự. Con thừa tự sẽ được đón về ăn ở hẳn
tại nhà bố mẹ nuôi, coi bố mẹ nuôi như bố mẹ đẻ. Con thừa tự phải làm mọi
nghĩa vụ của một người con và được hưởng mọi quyền lợi như con trai trong nhà
bố mẹ nuôi.
Lễ đón nhận con thừa tự rất thiêng liêng và trang trọng có cha mẹ hai bên,
các bậc chú, bác, anh chị em thân tộc đến chứng kiến. Sau buổi lễ, người con
thừa tự được đổi họ của bố đẻ sang họ của bố nuôi. Và từ đây, người con thừa tự
được công nhận là con trai của gia đình có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ nuôi và

là người thừa hưởng tài sản của bố mẹ nuôi và cũng là người thờ cúng tổ tiên
sau này.
Các chàng trai, cô gái người Tày khi gặp bạn cùng giới có thể cùng dân
tộc, có thể khác dân tộc nhưng qua trao đổi chuyện trò, đi lại với nhau mà thấy
hợp nhau thì họ sẽ kết tồng với nhau.Đôi bạn tồng coi nhau như anh em, chị em
11


ruột thịt và coi bố mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em… của bạn như bố mẹ, chú bác,
anh chị em… của mình. Khi kết bạn tồng rồi, họ rất có trách nhiệm với nhau,
quan tâm, giúp đỡ chia sẻ buồn vui với nhau. Đặc biệt khi ông bà, bố mẹ của
bạn qua đời, họ phải sắm lễ vật hiến tế và để tang báo hiếu như đối với ông bà,
bố mẹ mình. Sau này, trải qua nhiều đời, con cháu họ vẫn tiếp tục giữ mối tình
thân thiết đó. Tục nhận con nuôi và kết bạn tồng thực sự là một nét đẹp, một nét
văn hóa độc đáo, thuần phong mỹ tục của người Tày nơi đây và cũng là cơ sở để
tạo nên sự cố kết cộng đồng dân tộc.
1.1.3.2. Tín ngưỡng dân gian
Xã hội người Tày nói chung và người Tày Định Hóa nói riêng không có
một tôn giáo chính thống nào nhưng là xã hội ảnh hưởng đa giáo, trong đó có cả
Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian. Với những quan
niệm thần bí trong ý thức của mình, người Tày đã mường tượng ra nhiều thần
thánh, ma quỷ có sự chi phối vào cuộc sống con người. Trước hết đó là khái
niệm về ma (Phi)
Người Tày chia ma thành hai loại : ma lành và ma dữ
Ma lành gồm: ma tổ tiên, ma bếp, ma thổ công, ma bà mụ… là những ma
bảo vệ che chở cho con cháu và gia súc, giúp trừ đuổi những ma quỷ đến xâm
nhập và làm hại con cháu nhưng con cháu không được làm phật ý nếu không sẽ
có thể bị trách phạt bởi các linh thần này.
Ma dữ bao gồm: ma sông, ma núi, ma cây to, ma người chết vì tai nạn, ma
gà… Người Tày kiêng sợ nhất là ma gà. Ma gà mà nhập vào người sống sẽ

chuyên đi hại người. Đồng bào còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện ly kỳ xoay
quanh về chuyện ma gà như : khi trời tối sẽ bay đến các nhà trong làng bản gây
ốm đau cho người, gây hại cho gia súc, gia cầm của người ta… Vì vậy, gia đình
nào bị coi là có ma gà thì rất khó lấy vợ, lấy chồng, luôn bị hàng xóm xa lánh.
Để cầu mong sự bảo vệ, che chở và phù hộ của ma lành, hàng năm đồng
bào Tày ở huyện Định Hóa tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng. Và trong các nghi lễ
12


đó vai trò của các thầy cúng rất quan trọng. Thầy cúng được coi là cầu nối giữa
con người với thế giới của các đấng thần linh ngự trị. Hầu như bản nào cũng có
vài người làm nghề thầy cúng và thầy cúng rất được mọi người kính trọng.
Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che chở cho gia đình. Một hình thức thờ
cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Tày đó là thờ cúng tổ
tiên. Vì vậy gia đình nào cũng có một bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa nhà, đây là
nơi tôn nghiêm nhất. Người Tày thường thắp hương cúng tổ tiên vào ngày mùng
1 và ngày rằm hàng tháng với những đồ lễ đơn giản như: hoa quả, rượu hay
nước sạch. Vào những dịp lễ tết nhất là tết nguyên đán và tết rằm tháng bảy, cỗ
bàn cúng tổ tiên rất thịnh soạn đủ các loại bánh trái, rượu, thịt gà, thịt lợn… Khi
trong nhà có công to việc lớn như cưới xin, vào nhà mới, lễ đầy tháng… người
Tày đều cúng báo cáo với tổ tiên. Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, người Tày ở
Định Hóa còn thờ các vị thần che chở bảo vệ cho gia đình, làng bản.
Gia đình nào cũng có bàn thờ Bà Mụ - vị thần cai quản và bảo hộ cho trẻ
em đặt ngay sát vách ngoài cửa buồng.
Thờ vua bếp: nhà người Tày nào cũng thờ vua bếp. Người ta bảo rằng vua
bếp là vị thần cai quản theo dõi công việc làm ăn ở trong nhà mình suốt cả năm
để đến cuối năm lên tâu trình với Ngọc hoàng. Người Tày thờ vua bếp ở ngay
trong nhà bếp. Người Tày thờ cúng vua bếp vào ngày rằm và mồng 1 chỉ thắp
hương và khấn vái, đến ngày 23 tháng Chạp mới cần phải có lễ vật. Ngoài ra khi
trong nhà có việc vui, việc đột xuất dù lớn hay nhỏ người ta đều thắp hương cho

vua bếp và cầu khấn vua bếp phù hộ, bảo vệ cho mọi sự được may mắn tốt lành.
Thờ thần tài: đồng bào Tày tin rằng thần tài là người đem của cải, vàng
bạc, gia súc, gia cầm về cho nhà mình và bảo vệ tất cả của cải trong gia đình. Để
thờ thần tài người Tày cắm một lọ hương ở bên cửa ra vào hay ở đầu cầ u thang
lên sàn nhà. Ngày mồng 1 và ngày rằm họ thắp hương và khấn cầu thần tài phù
hộ cho gia đình
13


Thờ thổ công: đây là vị thần bảo vệ và che chở cho cà bản làng. Theo
quan niệm của đồng bào, vị thần này là người có thật, có công lao xây dựng bản
làng. Khi qua đời họ được dân bản nhớ ơn, thờ làm thần bản mệnh của cả bản.
Nơi thờ thần thổ công thường ở đầu hay cuối làng bản, nơi có gốc cây to, nơi có
nhiều người qua lại. Người ta làm một cái lều nhỏ với đôi gắp gianh và đặt một
ống hương ở trong. Vào dịp tết nguyên đán hay trong lễ cầu mùa, các gia đình
mang lễ vật đến miếu thờ để cúng thổ thần. Miếu thờ thổ thần có ở mọi làng bản
của người Tày ở Định Hóa để bảo vệ, che chở cho cả làng như một yếu tố
không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của cộng đồng làng bản người Tày
nơi đây. Bên cạnh miếu thờ thổ thần, ở Định Hóa còn thấy xuất hiện rải rác
những ngôi đình thờ Thành Hoàng.
Một số nghi lễ liên quan đến sản xuất
Vào dịp đầu xuân, người Tày ở Định Hóa thường tổ chức lễ hội Lồng tồng
nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, một năm mùa màng bội thu, gia đình yên
ấm, no đủ. Khi cày bừa xong, khi gieo mạ, lúc lúa ra đòng, khi gặt hái đồng bào
đều tổ chức một lễ cúng nhỏ thần ruộng và thần lúa. Đặc biệt là lễ cơm mới. Khi
lúa bắt đầu chín, gia chủ hái vài bông treo trên bàn thờ tổ tiên, ngụ ý mời tổ tiên
về chứng giám. Sau đó, họ thổi cơm từ những lượm lúa mới gặt, cúng tổ tiên,
thần thánh và mời anh em họ hàng đến ăn mừng.
Đối với một số loại cây trồng, đồng bào cũng áp dụng một số hình thức
ma thuật. Muốn cho bầu bí khỏi thui, người ta treo những bùi nhùi rơm nhỏ lên

cây với ngụ ý là mong cho quả khỏi rụng; hay khi trồng khoai sọ, khoai lang
đồng bào Tày thường chôn theo một hòn đá có hình tương tự củ khoai để mong
cho khoai chắc củ, củ to và không bị hà, thối…
Như vậy, tín ngưỡng dân gian của đồng bào Tày ở huyện Định Hóa tuy có
những yếu tố mang tính chất dị đoan nhưng cũng có những yếu tố tích cực.
Đồng bào Tày thờ cúng tổ tiên là thể hiện lòng biết ơn đối với những thế hệ đi
trước và cũng để cố kết những thành viên có chung một dòng máu. Thờ thần thổ
14


công bảo vệ làng bản tạo ra một sợi dây linh thiêng gắn kết các thành viên trong
cộng đồng làng bản. Đó là những yếu tố tạo nên sự cố kết cộng đồng và cũng là
nét đặc trưng trong đời sống tâm linh của người Tày.
Không chỉ có tín ngưỡng dân gian phong phú, đa dạng mà đời sống văn
hóa nghệ thuật của đồng bào cũng hết sức đa dạng, phong phú thể hiện qua các
làn điệu dân ca như then, lượn, phong slư, các thể loại truyện chữ nôm, các
thành ngữ, tục ngữ, câu đố… Then là loại hình nghệ thuật vừa mang tính tôn
giáo, vừa là yếu tố nghệ thuật truyền thống đặc sắc được quần chúng yêu thích
cả về giai điệu dìu dặt tha thiết của cây đàn tính, cả về giọng hát của người ca.
Lượn và phong slư là thể loại thơ trữ tình của thanh niên nam nữ. Thành ngữ,
tục ngữ là thể loại truyền miệng nói về kinh nghiệm lao động sản xuất, về dự
báo thời tiết, quan hệ xã hội… có dấu ấn trong mọi cuộc sống và có giá trị thực
tiễn cao. Nội dung này chúng tôi sẽ trình bày chi tiết ở chương sau.
Tiểu kết chương 1
Định Hóa là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, xã hội, văn hóa của các
dân tộc nói chung và người Tày nói riêng. Vị trí địa lý này có nhiều đất đồi núi
thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, trồng các loại cây ăn quả và cây công
nghiệp.
Người Tày ở Định Hóa có những bộ phận gắn bó ở đây từ buổi đầu dựng
nước nhưng cũng có một bộ phận ở dưới xuôi lên. Gia đình của người Tày là gia

đình phụ hệ, vai trò của người đàn ông được coi trọng. Kinh tế truyền thống là
sản xuất nông nghiệp, săn bắn, hái lượm mang tính tự cung tự cấp. Đồng bào
Tày có nhiều hoạt động tôn giáo tín ngưỡng dân gian phong phú, mang đậm bản
sắc dân tộc và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Chương 2
TÌM HIỂU VĂN HÓA ĂN Ở (ẨM THỰC) CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Ăn – uống
2.1.1. Ăn
15


Người Tày ở Định Hóa là cư dân nông nghiệp với nông phẩm chính là gạo
tẻ cho nên cơm gạo tẻ là thành phần chủ yếu trong những bữa ăn hàng ngày. Lúa
nếp không được trồng cấy nhiều nên gạo nếp chỉ dùng vào những dịp đặc biệt
như chế biến các loại bánh, đồ xôi… trong các dịp lễ tết, hội hè. Bữa ăn quen
thuộc trong ngày được phân bố như sau: Có hai bữa chính và hai hoặc ba bữa
phụ. Bữa chính được tổ chức vào buổi trưa ăn khi mặt trời gần đứng bóng. Bữa
thứ hai tổ chức vào việc xế chiều ăn lúc chập tối. Những bữa phụ trong ngày
thường có người ăn người không. Bữa ăn phụ này thường dành cho người già và
trẻ nhỏ.
Đồng bào có tập quán ăn bữa nào cũng nấu nhiều hơn nhu cầu cần thiết
của những thành viên trong gia đình để đề phòng khi có khách đến nhà đúng bữa
thì không phải nấu thêm cơm. Cơm nấu nhiều còn là để cơm nguội cho các cháu
nhỏ và người già ăn bất cứ lúc nào. Đồng bào Tày kiêng vét sạch nồi cuối bữa ăn
bởi họ cho rằng nếu vét sạch nồi cuối bữa sẽ bị nghèo đói. Bữa ăn bình thường
hàng ngày, có khi có các món: món thịt lạp, thịt thính, hém thịt, hém cá hay tôm,
cá tươi bắt được ở sông, suối, ao đầm, thường thì cơm và rau xào mỡ với; rau tự
túc trồng theo thời vụ như: rau bí, mướp, bầu, các loại đỗ quả, rau cải… Ngoài
ra, họ còn nhặt hái thêm rau rừng tự nhiên như rau ngót rừng, rau má, các loại

nấm… Phương thức chế biến thực phẩm của đồng bào Tày ở Định Hóa cũng rất
đa dạng bao gồm chế biến dùng lửa và chế biến không dùng lửa.
Thứ nhất lá chế biến dùng lửa có các món:
Nướng: Thông thường người Tày hay nướng các vật phẩm như thịt, cá,
ngô, khoai, măng… Nếu là thịt, thịt được thái lát to, ướp muối và gia vị cho
ngấm, sau đó xâu thịt vào que nhỏ rồi nướng trên than hồng. Nếu nướng cá thì
mổ sạch, ướp muối rồi kẹp vào chiếc kẹp tre nhỏ thành từng gắp và nướng trên
than hồng. Nếu nướng măng thì cho vào giữa lửa… Nướng là cách thức chế biến
đơn giản, không cầu kỳ, ít tốn thời gian, ít hao nguyên liệu lại đảm bảo chất
16


lượng, ăn ngon miệng phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lao động của đồng bào
miền núi.
Rán: các món rán nhất thiết phải dùng mỡ và một cái chảo gang. Chế biến
món rán như sau: Cho chảo lên bếp rồi cho mỡ vào đun nóng sau đó cho thực
phẩm như thịt, cá… vào rán.
Xào: người Tày thường xào thức ăn theo hai cách. Cách thứ nhất là xào
không phối chế với các loại thịt trâu, thịt lợn, thịt gà, thịt bò,… và các loại rau
như su hào, bắp cải, rau cải, măng… Cách thứ hai là xào phối chế với một số rau
hay gia vị như: thịt lợn xào nấm hương, lòng gà xào lá tỏi… Quay: thịt quay có
thể từ các loại thịt của vật nuôi như gà, vịt, lợn… Sau khi con vật đã được làm
sạch lông, sạch ruột người ta nhồi các loại gia vị hay thêm chút phụ gia vào đầy
bụng rồi khâu lại. Sau đó dùng đoạn tre dài xiên từ mõm con vật ra phía hậu
môn. Hai đầu đoạn tre bắc ngang qua bếp lửa. Con vật được quay đều để hứng
nhiệt mọi phía cho đến khi chín vàng. Các loại phụ gia để nhồi vào thịt quay như
lá mác mật, lá ổi, lá xả, lá chanh…
Nấu: đồng bào Tày ưa ăn các món nấu dù là trong bữa cơm hàng ngày,
cơm khách hay ngày lễ tết. Nấu trải qua các bước: cho mỡ vào chảo đun sôi, cho
thức ăn cần nấu vào, cho muối trắng đảo đều, đậy vung cho tới khi chín thì nêm

gia vị tùy theo từng món khác nhau rồi cho nước vừa đủ, đậy vung lại đun đên
khi sôi chín là được, trừ các loại rau thơm, hành,… đến khi thức ăn đã nấu chín
mới cho vào rồi bắc xuống ngay. Đồng bào ở Định Hóa có các món nấu như:
canh thịt lợn cà chua, canh thịt gà với gừng hoặc nghệ, canh hoa chuối,…
Ngoài ra còn có các cách chế biến dùng lửa khác như: rang, hấp, bung,…
Với cách chế biến không dùng lửa đồng bào làm ra các món rất ngon và đặc
trưng của đồng bào như: Các món thịt lạp, thịt thính, thịt hém, hém cá được chế
biến hết sức khéo léo và cầu kỳ:
Món thịt lạp: Để chế biến món này, trước hết người ta pha thịt đã lọc hết
xương ra thành từng miếng dầy khoảng ba ngón tay, dài theo khổ thịt. Sau đó
17


rửa sạch, cho vào chum, ướp với muối, bột củ giềng, một ít rượu rồi trộn đều và
đậy kín chum trong vòng 2 - 4 ngày. Sau đó lấy thịt ra đem xâu từng miếng thịt
treo lên gác bếp, ăn dần. Thịt lạp có thể để ăn từ 6 tháng đến một năm.
Món thịt thính: Thịt lợn được người Tày đem thái nhỏ rồi xào chín đem
trộn đều với bột gạo rang. Sau đó người ta bỏ thịt thính vào chum để ăn dần.
Thịt thính không để được lâu như thịt lạp nên thường họ để ăn dần trong 2 - 3
tuần. Khi ăn họ cho thịt thính hấp lên nồi cơm để ăn cho nóng.
Món hém thịt: Thịt lợn được rửa sạch, để ráo nước rồi thái thành miếng
như bao diêm. Sau đó đem thịt ướp muối, có cho thêm chút nước mắm, hạt tiêu,
húng lìu, trộn đều. Sau khoảng 2 - 3 giờ đồng hồ, họ lấy thịt cho lên bếp xào
chín, để nguội và cho vào chum rượu nếp. Ủ từ 7 ngày trở lên thì lấy ra ăn.
Món hém cá: Cá mổ ra, moi ruột, chặt thành khúc rồi rửa sạch để ráo
nước. Sau đó đem ướp cá với muối, gừng giã nhỏ, một chút rượu trong vòng 3
tiếng. Rồi lấy cá bỏ vào chum rượu nếp. Hém cá phải ủ lâu hơn hém thịt, ủ từ 15
- 20 ngày trở lên.Trước khi ăn họ lấy cá hấp lên miệng nồi cơm hoặc cho lên
chảo chưng sôi.
Với gạo tẻ họ thổi cơm bằng nồi. Khi nấu cơm đồng bào không cần phải

đãi gạo chỉ cần vo qua một lần với nước, cho vào nồi với lượng nước vừa đủ rồi
cho lên bếp nấu đến khi cơm vừa cạn nước thì bắc xuống vần ở cạnh kiềng. Gạo
tẻ còn được xay thành bột để chế biến một số loai bánh như: bánh đúc, bánh đa,
bánh dậm… và cất rượu.
Người Tày còn có riêng một ngày tết cốm. Một số món cốm được chế
biến khá công phu. Đơn giản nhất là món cốm non trộn với đỗ xanh và đường.
Cốm cá là món được làm bằng thịt cá chép, cá quả thái miếng nhỏ, xào với hành
mỡ rồi đổ cốm vào đảo đều, ăn khi còn nóng. Cốm thịt lại là món được làm bằng
thịt vịt băm nhỏ, trộn đều với cốm sau đó lầy lá gói lại rồi dùng nước xáo luộc
lên. Đó là cỗ cốm của ngày tết cốm. Người Tày còn có món xôi màu rất hấp
dẫn. Ngày Tết Thanh minh có xôi nhuộm lá cẩm màu tím hoặc màu xanh, đỏ. Tết
18


Trung thu có xôi trám đen. Nhưng phong phú đa dạng hơn vẫn là các thứ bánh
chế biến từ gạo nếp và bột gạo nếp. Tết tháng giêng là tết lớn nhất có bánh
chưng, bánh khảo, bánh bỏng, chè lam. Tết Thanh Minh có bánh lá ngải, bánh
rán. Tết Đoan Ngọ có bánh tro… Với các loại rau củ, măng, đậu, bí, mướp…
người Tày thường xào khan với mỡ, hoặc nấu canh với tôm, thịt rất ít khi ăn
luộc. Cá, thịt cũng phổ biến món ăn rán, nấu, hầm cách thủy rất ít làm món kho
mặn. Gia vị chế biến món ăn của người Tày nơi đây là: thảo quả, húng lìu, bột
quế, hành, sả, ớt, tiêu, giềng, nghệ, gừng, tỏi,… và các thứ rau thơm.
Với đường, mật cũng được cư dân chế biến thành những món ăn ngọt vào
các dịp lễ tết như chè nếp, bánh chè lam, kẹo lạc, một số loại bánh ngọt… Nhìn
chung, các loại thức ăn của người Tày nhiều món mang sắc thái bản địa và tộc
người thông qua việc khai thác và chế biến món ăn. Về hình thức, các loại thức
ăn thường ngày không cầu kỳ kể cả hình dáng, màu sắc bên ngoài, kích thước
đến trang trí bày biện khi ăn uống. Họ ít quan tâm đến việc phải thái thịt có hình
thù gì, trang điểm thêm lá rau gì hay tạo dáng thế nào cho đẹp mắt. Trong cách
sắp xếp đĩa thức ăn, mâm thức ăn người Tày lại quan tâm đến việc sắp đĩa thịt

ngon cho khách, cho người già, trẻ nhỏ. Ý thức ưu tiên luôn luôn ăn sâu trong
tinh thần của người nội trợ, trở thành nếp, thành thói quen của mỗi người khi ăn
uống; Về vị, đồng bào thiên về ăn các thức ăn có vị chua và đắng, ít ngọt, độ
mặn vừa phải, rất ít chát; Về chất, người Tày ưa ăn chất béo. Trong chế biến các
món ăn hàng ngày cũng như trong các mâm cỗ, các món rau của họ thiên về xào
mỡ hoặc xào mỡ rồi nấu canh. Đặc biệt là các món chế biến từ thịt; Về mùi,
đồng bào ăn các món thiên về mùi tự nhiên mà không có sự cải biến mùi bằng
cách như phi hành thơm để xào thịt, dùng bột húng lìu, bột quế để nấu thức
ăn… Điều này rất hãn hữu ở người Tày trong cách chế biến món ăn.
Cách phân phối trong bữa ăn gia đình người Tày ở Định Hóa mang tính
bình đẳng, nhân ái. Mọi thành viên ngồi chung một mâm cơm, cùng ăn, không
phân biệt trai, gái, dâu, rể, chỉ phân biệt chủ - khách. Khách được ưu ái hơn.
19


Người già, trẻ em, người ốm yếu và phụ nữ mang thai hay ở cữ được ưu tiên.
2.1.2. Uống
Trong sinh hoạt hàng ngày, người Tày ở huyện Định Hóa có tập quán
uống nước trà, lá vối, nước sôi để nguội. Ngoài ra người Tày còn uống rượu. Và
rượu là đồ uống không thể thiếu được trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng người
Tày nói chung và người Tày ở Định Hóa nói riêng. Nguyên liệu để nấu rượu
thường là gạo, ngô, sắn, thân cây móc… Để tạo được một thứ đồ uống ngon như
vậy là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự tuân thủ các nguyên tắc nhất định.
Chẳng hạn như nấu rượu ngô, rượu ngô Định Hóa được nấu từ ngô ủ bằng
men lá. Trước hết, phải phơi ngô nếp nương thật khô, thật kĩ. Sau đó, cho vào
nồi nấu với lượng nước vừa phải, bao giờ thấy ngô nở bung nứt thành 3 cạnh thì
lấy ra rải mỏng trên cót cho bay bớt hơi nước. Trong lúc đội ngô nguội thì mang
men ra giã nhỏ thành bột. Khi thấy ngô còn ấm thì rắc men, đảo đều. Để khoảng
hai ngày hai đêm, thấy mùi thơm thì cho vào các chum vại ủ, sau khoảng 15 - 20
ngày thì có thể mang ra nấu cất lấy rượu.

Khi đun phải dùng củi tốt, để lửa cháy đều, tạo cho lượng hơi nước bốc
lên đều. Khi rượu chảy từ chõ vào hũ đựng thì úp khăn mặt ướt vào miệng để
rượu không bị bay hơi.
Để có được rượu ngon, ngoài tuân thủ các yêu cầu cơ bản trên còn phải có
một loại men riêng theo cách truyền thống của từng gia đình. Người Tày thường
sử dụng men lá để nấu rượu. Men này do đích thân họ đi rừng hái hàng chục loại
lá, rễ cây khác nhau mang về tự pha chế.
Trong quá trình nấu rượu, người Tày thường kiêng không cho người đi đỡ
đẻ, người đi dự đám ma nhìn và sờ vào rượu. Phụ nữ sau khi sinh con 40 ngày
mới được tiếp xúc với rượu. Khi nấu rượu họ thường cho sẵn một con dao cũ
vào bếp lửa, nếu có người mà kỵ vô tình đến xem hoặc hỏi chuyện thì rút dao ra
cắm vào cạnh bếp, đây là cách làm mẹo để rượu không bị hỏng.
2.1.3. Ứng xử trong ăn uống
20


Cũng như một số đồng bào dân tộc khác cư trú ở vùng đất huyện Định
Hóa, bữa ăn hàng ngày của người Tày phụ thuộc vào nhịp điệu mùa vụ của nông
lịch. Thường ngày thì gia đình người Tày nào cũng ăn hai bữa chính, các bữa ăn
phụ trong ngày chỉ dành cho người già và trẻ nhỏ. Còn trong những ngày vào
mùa vụ, gia đình người Tày nào ở đây cũng ăn ba bữa trong một ngày. Công
việc chế biến thức ăn cũng như tổ chức bữa ăn hàng ngày trong gia đình người
Tày thường do người phụ nữ đảm nhiệm. Khi trong gia đình có các công việc lớn
như: làm nhà mới, lễ mừng thọ, lễ đầy tháng, dịp lễ tết… thì đồng bào cũng có
sự phân công lao động: người đàn ông thường đảm nhiệm chế biến các món ăn
như: chế biến thịt lợn, chó… mang tính phức tạp, còn người phụ nữ thường làm
những công việc như dọn dẹp, nấu cơm, đun nước và làm một số loại bánh…
Trong bữa cơm của gia đình người Tày thường có sự ưu tiên cho người
già, trẻ nhỏ, người ốm đau và phụ nữ ở cữ hay có mang. Người Tày thường có
câu “Người già ăn gạo trắng. Con gái ăn gạo giã dối. Con trai ăn gạo xay” ý

muốn nói lên một đạo lý là dành phần ngon cho người già. Trẻ em thường được
nhường cho chiếc đùi gà. Người đẻ được ăn thịt gà nấu với gừng, nghệ và phải
kiêng các loại thịt trâu, bò, ngựa, cá không vảy và các loại thịt thú rừng. Trẻ em
kiêng ăn quả cật vì họ cho rằng trẻ em mà ăn quả cật sẽ học dốt; không được ăn
chân gà vì sẽ viết chữ xấu; không ăn móng lợn vì sẽ không đi qua được các cây
cầu…
Đối với người Tày, trong bữa ăn nồi cơm phải luôn được đậy kín vung để
giữ cơm được nóng. Đôi đua cả để trong nồi phải quay ra phía sau, tuyệt đối
không được quay đũa cả vào mâm hay quay về phía bất kỳ người nào đang ăn
bởi nếu không người đó sẽ bị nghẹn hoặc đau bụng. Trong mâm cơm không
được gõ đũa bởi như vậy sẽ gọi ma đến nhà. Người Tày trong bữa ăn không có
thói quen gắp thức ăn cho nhau (trừ người già, trẻ nhỏ hoặc khách). Đặc biệt
đồng bào Tày có ý thức chờ nhau cùng ăn, hiếm khi ăn trước khi chưa đủ người.
Điều này thể hiện tính cộng đồng, cộng cảm trong ăn uống của đồng bào Tày nơi
21


đây.
Trong gia đình người Tày, thì người phụ nữ bao giờ cũng phải thức khuya,
dậy sớm để chuẩn bị bữa ăn cho gia đình. Họ luôn chăm chút cho gia đình, bố
mẹ, con cái, và luôn dành những khẩu phần thức ăn ngon nhất cho gia đình, còn
với mình luôn chịu sự thiệt thòi. Bởi vậy mỗi bữa ăn trong gia đình người Tày
thể hiện những nét văn hóa ứng xử rất nhân văn và nó thực sự là giờ khắc sum
vầy của các thành viên trong gia đình; Bữa cơm người Tày biểu hiện tính nhân
văn, nhân bản mang tính phổ biến của cộng đồng như: sự hiếu thuận, đức hy
sinh của người phụ nữ… đều được biểu hiện trong bữa cơm gia đình.
Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội người Tày ở
Định Hóa nói riêng và của người Tày nói chung còn khá sâu đậm, tư tưởng
“trọng nam khinh nữ” đang còn bị chi phối và nó được biểu hiện ngay trong mỗi
bữa cơm của gia đình người Tày.

Người Tày là tộc người rất mến khách, khi có khách tới nhà dù nhà đó
giàu hay nghèo thì bao giờ chủ nhà cũng mang rượu ra để mời khách trước khi
mời nước uống. Và bao giờ đồng bào cũng mời khách ăn trước. Đồng bào
thường dùng rượu làm phương tiện giao tiếp, để khởi đầu cho câu chuyện và để
tỏ lòng hiếu khách của mình. Bởi vậy, rượu là thứ đồ uống phổ biến và là thức
uống không thể thiếu được trong các dịp lễ tết, hội hè, đám cưới, đám tang…
Một đặc điểm của người đàn ông Tày là ít khi họ uống rượu nhâm nhi một mình.
Điều này tạo nên tính cách của người đàn ông Tày: không bê tha nghiện ngập.
Nhưng khi có bạn nhất là trong những ngày hội hè, lễ tết họ sẽ uống hết mình để
hòa vui cùng bạn bè.
Tiểu kết chương 2

22


Người Tày ở Định Hóa có nền văn hóa phong phú, đa dạng. Ngày thường
họ ăn cơm tẻ là chủ yếu với các món ăn được chế biến khéo léo như thịt lạp,
thịt hém… Ngày lễ tết có xôi nhiều màu, có các loại bánh như bánh chưng
gù, bánh tro… Rượu là thứ đồ uống không thể thiếu trong đời sống ăn uống
sinh hoạt của đồng bào nơi đây. Trong ăn uống người Tày luôn luôn có sự
ưu tiên cho người già, trẻ nhỏ, khách, người đẻ. Tính chất ưu tiên trong ăn
uống đã trở thành nếp, thành thói quen của mỗi thành viên trong gia đình. Từ
đó góp phần làm nổi bật nền văn hóa đa dạng của người Tày ở huyện Định
Hóa tỉnh Thái Nguyên.Chương 3
GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA ẨM THỰC
CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường cùng với quá trình giao lưu văn
hóa giữa miền xuôi và miền ngược, giữa các dân tộc, đời sống vật chất văn hóa
của người Tày Định Hóa đang có sự biến đổi và có sự mai một về các giá trị của
văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa ẩm thực. Cho nên vấn đề bảo tồn và

phát huy những giá trị truyền thống của người Tày nơi đây là hết sức cấp thiết
để người Tày giữ gìn được bản sắc văn hóa vốn có riêng của dân tộc mình.
Để có thể gìn giữ và phát huy được bản sắc văn hóa truyền thống của
người Tày Định Hóa cần phải có những giải pháp thích hợp:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm
nghèo ở vùng sâu vùng xa. Tăng cường đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ tri
thức, nâng cao học vấn đối với đồng bào Tày nơi đây
Thứ hai, tuyên truyền giáo dục rộng rãi văn hóa dân tộc Tày cho đồng bào
nhất là lớp trẻ để nâng cao lòng tự hào dân tộc, để đồng bào nhận thấy rõ giá trị
văn hóa độc đáo của dân tộc mình. Bởi vì bản sắc dân tộc chỉ có thể được bảo
tồn, phát huy khi mọi di sản văn hóa quý báu được lưu giữ vững chắc trong bảo
tàng và ý thức của mỗi người dân, do chính họ là người thực hiện. Việc tuyên
23


truyền này không chỉ thông qua việc giáo dục trường học mà còn thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài phát thanh, đài truyền hình,…
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh phong trào quần chúng trong cộng đồng dân
tộc Tày, làm cho vốn văn hóa tiếp tục đâm chồi nảy lộc ngay trên mảnh đất mà
nó đã sinh ra. Đó là việc duy trì, phát triển phong trào văn hóa quần chúng, mở
các lớp đào tạo, tập huấn, hướng dẫn nàng cao hiểu biết tầm quan trọng của văn
hóa ẩm thực nối riêng và tất cả các hoạt đọng văn hóa của người Tayd nói chung
tại thôn bản, bên cạnh đó tranh thủ sự trao truyền của các bậc nghệ nhân, già
làng để những giá trị văn hóa có thể được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Thứ tư, đối với các lễ hội dân gian, cần có kế hoạch khôi phục lễ hội
truyền thống của đồng bào Tày. Vì đó là các lễ hội liên quan đến đời sống phồn
thực sinh hoạt của dân tộc Tày. Trước mắt và lâu dài là phải làm cho các lễ hội
dân gian truyền thống của đồng bào Tày song hành cùng với những loại hình
văn hóa hiện đại.

Tiểu kết chương 3
Đồng bào Tày có kho tàng văn học dân gian hết sức phong phú với nhiều
thể loại như dân ca, câu đố, tục ngữ… nhưng văn hóa ẩm thực lại phản ánh rõ
nhất cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của đồng bào. Người Tày luôn mang
những nét đẹp của văn hóa ẩm thực vào trong các lễ hội với mục đích để cầu
mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống yên vui... Các lễ hội còn
là dịp để đồng bào người Tày ở Định Hóa vui chơi, giao lưu kết bạn với nhau,
giúpđỡ nhau trong lao động sản xuất. Những giá trị văn hóa đó cần phải được
gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ để bản sắc văn hóa Tày không bị mai
một đi.

24


KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày ở huyện Định Hóa tôi đã rút ra
một số kết luận sau :
Định Hóa là một huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, có vị
trí chiến lược hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử. Đây là
vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng tạo điều kiện hình
thành nền kinh tế tự cung tự cấp cho nhân dân, có tác dụng ổn định đời sống
và là hậu phương cho lực lượng vũ trang cách mạng. Định Hóa là nơi sinh cơ lập
nghiệp lâu dài của nhiều dân tộc trong đó chiếm số đông và có mặt lâu đời nhất
là dân tộc Tày.
Dân tộc Tày vốn có truyền thống văn hóa bản địa rực rỡ từ lâu đời trên
mảnh đất Định Hóa, nơi đã từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử đấu tranh giữ
nước oanh liệt của cả dân tộc Việt Nam, từng là cái nôi của nhiều cuộc cách
mạng, kháng chiến.Văn hóa Tày là một trong những yếu tố văn hóa đặc trưng
của vùng Việt Bắc trước đây nói chung và Định Hóa nói riêng.
Người Tày ở Định Hóa làm kinh tế nông nghiệp với hình thức canh tác

ruộng lúa và nương rẫy là chủ yếu. Bên cạnh đó đồng bào còn phát triển trồng
hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm kết hợp với các hình thức đánh bắt, hái
lượm. Thủ công nghiệp phát triển nhiều nghề đa dạng như dệt vải, đan lát, nghề
rèn, nghề mộc,…
Quan hệ xã hội của người Tày ở Định Hóa thể hiện qua các mối quan hệ
cộng đồng làng bản, dòng họ và gia đình. Đồng bào ở đây cư trú thành làng bản
lấy quan hệ dòng họ, làng giềng làm cơ sở. Gia đình của người Tày là gia đình
nhỏ phụ hệ, vai trò của người đàn ông được coi trọng. Trong sinh hoạt hàng
ngày có nhiều quy định khắt khe dành cho con gái, con dâu thể hiện rõ nét tính
chất phụ quyền này người Tày còn có tục nhận con nuôi.
Người Tày theo tín ngưỡng dân gian thờ đa thần cùng với quan niệm vạn
vật hữu linh với hệ thống miếu thờ thổ công, thờ cúng tổ tiên, các nghi lễ liên
25


×