Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

Pháp luật về quản lý môi trường từ thực tiễn tỉnh Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1004.83 KB, 116 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………../………...

…../…..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VĂN TIẾN SĨ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………../………...

…../…..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA


VĂN TIẾN SĨ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. VŨ ĐỨC ĐÁN

ĐẮK LẮK, NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các thông tin,
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn bảo đảm trung thực, khách quan,
khoa học.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Văn Tiến Sĩ


MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ

8

MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm môi trường, quản lý môi trường và pháp luật về quản

8

lý môi trường
1.2. Các nguyên tắc và nội dung của pháp luật về quản lý môi trường

17

1.3. Vai trò của pháp luật về quản lý môi trường và các yếu tố bảo

36

đảm thực hiện pháp luật về quản lý môi trường
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ MÔI

45

TRƯỜNG (TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CƯ KUIN)
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về

45

quản lý môi trường
2.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng thực hiện pháp


53

luật về quản lý môi trường ở huyện Cư Kuin
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ

81

TĂNG CƯỜNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
3.1. Quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với công tác

81

quản lý môi trường
3.2. Giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật

83

về quản lý môi trường
KẾT LUẬN

108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

110


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định sự sinh
tồn của toàn thể nhân loại và hệ sinh thái trên trái đất, là nền tảng quan trọng
cho sự tồn tại và phát triển bền vững của mọi quốc gia. Quản lý môi trường vừa
là nhiệm vụ, vừa là thách thức mà mọi quốc gia trên thế giới luôn đặc biệt quan
tâm giải quyết, không phân biệt là quốc gia đã phát triển hay đang phát triển.
Công nghiệp hoá là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia. Đối
với nước ta, từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển,
muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều
kiện tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và là tiền đề cho việc xây dựng
một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự
phân công và hợp tác quốc tế. Đây chính là nhiệm vụ quan trọng mà toàn
đảng và toàn dân ta đã xác định và đang phấn đấu thực hiện, vì mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu, kết quả của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại. Các
quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng luôn phải đối mặt với những khó
khăn, thách thức nghiêm trọng về môi trường.
Xác định vấn đề quản lý môi trường là một nhiệm vụ trọng tâm trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nước; trong thời gian qua, đặc biệt là giai
đoạn từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm triển khai
đồng bộ nhiều biện pháp (như: pháp luật, chính sách, kinh tế, khoa học - công
nghệ, giáo dục…) nhằm quản lý môi trường, trong đó pháp luật được xem
như là công cụ hữu hiệu, có ý nghĩa quan trọng nhất trong công tác quản lý
môi trường, với việc hàng loạt các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề
môi trường đã được Nhà nước ban hành, điển hình có thể kể đến như Luật
1


Bảo vệ môi trường, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và

phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học…
Thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước; công tác quản lý môi trường tại huyện Cư Kuin trong thời gian
qua bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực, pháp luật về quản lý môi trường
đã được quan tâm, triển khai thực hiện, nhận thức về pháp luật quản lý môi
trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; vấn đề ô
nhiễm môi trường cơ bản đã được kiểm soát.
Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về quản lý môi trường tại
huyện Cư Kuin vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập; nhận thức, sự hiểu biết đầy đủ
về tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế xanh là điều kiện bảo đảm cho
phát triển bền vững ở nhiều cấp ủy, chính quyền, ban ngành các cấp vẫn còn
rất hạn chế, tư tưởng “ưu tiên cho phát triển kinh tế, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ
môi trường” vẫn còn khá phổ biến trong công tác chỉ đạo, điều hành; nhận
thức về bảo vệ môi trường vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của nhân dân;
ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của một bộ phận không nhỏ
doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài còn
nhiều hạn chế, phần lớn vẫn chạy theo lợi nhuận, xem nhẹ vấn đề bảo vệ môi
trường; vi phạm pháp luật về môi trường vẫn còn diễn ra tương đối phổ biến;
quản lý Nhà nước về môi trường của một số cơ quan, chính quyền địa phương
chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra. Điều này đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và việc phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do đó, nghiên cứu những vấn đề còn
tồn tại để đề xuất giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện pháp
luật về quản lý môi trường là yêu cầu khách quan, cần thiết trong giai đoạn
hiện nay, góp phần đưa pháp luật về quản lý môi trường đi vào cuộc sống.
Với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, từ
đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện
2



pháp luật về quản lý môi trường trên địa bàn cả nước nói chung và huyện Cư
Kuin, tỉnh Đắk Lắk nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa thực sự quan trọng và
cấp thiết. Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài “Pháp luật về quản lý môi
trường - Từ thực tiễn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk” để làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực môi trường ở nhiều khía cạnh,
góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này rất phong phú
và đa dạng, trong đó có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến
đề tài luận văn, như:
“Quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt
Nam” của Nguyễn Thị Ngọc [8]. Tác giả đã phân tích hiện trạng môi trường
và việc quản lý môi trường đô thị ở Nhật Bản và ở Việt Nam; đánh giá những
tương đồng và khác biệt giữa đô thị Việt Nam và Nhật Bản ảnh hưởng đến
công tác quản lý môi trường ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp quản
lý môi trường đô thị cho Việt Nam từ kinh nghiệm quản lý môi trường đô thị
ở Nhật Bản như: Hoàn thiện và thực thi có hiệu quả luật pháp, chính sách, đây
chính là giải pháp quan trọng nhất, là công cụ làm nền tảng cho công tác quản
lý nhà nước về môi trường ở bất cứ một quốc gia nào; tăng cường chỉ đạo và
phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương,
doanh nghiệp; sử dụng các giải pháp kinh tế một cách linh hoạt; thúc đẩy các
hoạt động tự nguyện và tích cực của các thành phần xã hội trong bảo vệ môi
trường; ưu tiên chương trình trọng điểm, phát triển công nghệ thân thiện với
môi trường và chú trọng các giải pháp kỹ thuật quản lý khác; chú trọng thúc
đẩy hợp tác quốc tế về môi trường và một số giải pháp khác.
“Báo cáo môi trường quốc gia 2014 - Môi trường nông thôn” của Bộ
Tài nguyên và Môi trường [2], Báo cáo được hoàn thành sau khi Luật Bảo vệ
3



môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014. Nội dung báo
cáo đã đi sâu nghiên cứu và phân tích các đặc trưng của khu vực nông thôn,
quá trình đổi mới, phát triển nông thôn; các hoạt động phát triển kinh tế nông
thôn; diễn biến hiện trạng chất lượng môi trường nông thôn; kết quả đã đạt
được và những tồn tại trong công tác quản lý. Từ đó đã xác định các vấn đề
môi trường bức xúc và định hướng bảo vệ môi trường nông thôn trong thời
gian tới.
"Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng Việt Nam” của Nguyễn Trần Điện [4]. Tác giả đã phân tích
và đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề, đánh
giá tổng quát việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề của một
số quốc gia trên thế giới (Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore) và một số kinh
nghiệm tham khảo cho Việt Nam; phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường
làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, kết quả đạt được và những hạn
chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; đề xuất một
số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở
các tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam.
“Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh
Hải Dương” của Phạm Thị Thanh Xuân [29]. Tác giả đã phân tích và đưa ra
cơ sở khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công
nghiệp; đánh giá thực trạng, kết quả đã đạt được và hạn chế, tồn tại trong việc
thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; đưa ra bài học kinh nghiệm và các
giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công
nghiệp tỉnh Hải Dương.
“Quản lý nhà nước về môi trường - Từ thực tiễn huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội” của Vũ Thị Ninh [10]. Tác giả đã khái quát được một số
vấn đề lý luận quản lý nhà nước về môi trường; đánh giá thực trạng môi
4



trường và quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Thanh Trì; đề xuất các
giải pháp chung, giải pháp cụ thể và giải pháp trước mắt đối với huyện
Thanh Trì, trong đó có vấn đề hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về
môi trường.
“Rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam Một vấn đề cần thiết cấp bách” của Nguyễn Lan Nguyên [9]. Tác giả đã khái
quát được một số hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi
trường, như: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành một
cách kịp thời, có tính khả thi; thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường; nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, trình độ
pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được phần lớn các
vấn đề về lý luận và thực tiễn, đưa ra được nhiều giải pháp trong việc giải
quyết các vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chỉ mới
dừng lại ở việc phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường
nói chung, mang tính vĩ mô hoặc là đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nói riêng;
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và phân tích chủ đề pháp luật về
quản lý môi trường từ thực tiễn cấp huyện, để từ đó đề ra những giải pháp khả
thi nhằm hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi
trường trong hoạt động quản lý xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
- Làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý môi trường.
- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật về quản lý môi trường từ thực tiễn
huyện Cư Kuin.
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện
pháp luật về quản lý môi trường.
5



- Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận của pháp luật về
quản lý môi trường thông qua việc làm rõ các khái niệm về môi trường, quản
lý môi trường, đặc điểm quản lý môi trường, pháp luật về quản lý môi trường;
các nguyên tắc, nội dung, vai trò của pháp luật về quản lý môi trường và các
yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý môi trường.
- Phân tích khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về
quản lý môi trường, các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; phân tích, đánh giá
kết quả đạt được cũng như hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện pháp
luật về quản lý môi trường từ thực tiễn huyện Cư Kuin.
- Trên cơ sở các quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với
công tác quản lý môi trường và thực tế tổ chức thực hiện, đề xuất các nhóm
giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý
môi trường của cả nước nói chung và ở huyện Cư Kuin nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những
vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý môi trường và thực trạng pháp luật về
quản lý môi trường từ thực tiễn huyện Cư Kuin.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật về
quản lý môi trường từ thực tiễn huyện Cư Kuin giai đoạn năm 2011 đến nay
đối với hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, quản lý
chất thải và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo về môi trường.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, quan điểm của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về quản lý môi trường.

6



- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp
thống kê, logic, phân tích và tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu,
hoàn thiện các thể chế pháp luật phục vụ yêu cầu công tác quản lý môi trường
trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin tổng quan về thực trạng
pháp luật về quản lý môi trường từ thực tiễn huyện Cư Kuin; nguyên nhân của
những hạn chế và đề xuất những giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức
thực hiện pháp luật về quản lý môi trường trong hoạt động quản lý xã hội.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công
tác nghiên cứu các nội dung liên quan đến pháp luật về quản lý môi trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về quản lý môi trường.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường (từ thực tiễn
huyện Cư Kuin).
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện và tăng cường tổ chức
thực hiện pháp luật về quản lý môi trường.

7


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm môi trường, quản lý môi trường và pháp luật về
quản lý môi trường

1.1.1. Khái niệm môi trường
Môi trường là một khái niệm rất rộng và đa dạng. Tùy thuộc vào cách
tiếp cận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu mà có các khái niệm về môi
trường khác nhau. Tuy nhiên, đều hướng tới việc xác định rõ môi trường xung
quanh ta là gì, do các yếu tố nào hợp thành. Qua nghiên cứu, có những khái
niệm, định nghĩa về môi trường đáng chú ý như sau:
Môi trường theo định nghĩa thông thường là “Toàn thể hoàn cảnh xã
hội xung quanh có ảnh hưởng tới sinh vật” [7]; môi trường là “Toàn bộ những
điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát
triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [6].
Môi trường trong mối quan hệ tương quan với hệ sinh thái là “Tập hợp
tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài tác động lên cá thể” [16, tr.14],
đồng thời tác giả luận giải rằng khí quyển, thủy quyển, thạch quyển tồn tại
trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta, nhưng chỉ khi các cơ thể
sống xuất hiện mới gọi chung là môi trường, có nghĩa chỉ có cơ thể sống mới
có môi trường. Môi trường không chỉ gồm các điều kiện vật lý mà còn gồm cả
các sinh vật cùng sống.
Từ góc độ nghiên cứu về quản lý môi trường, có tác giả đã đưa ra khái
niệm “Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống
của con người như không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người…” [8].
Để giải quyết vấn đề quản lý chất lượng môi trường, một số tác giả đã
xác định “Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần vật chất bao quanh ta,
8


được hình thành do quá trình tự nhiên hoặc được tạo ra bởi con người, có khả
năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Môi trường được chia
làm hai loại là môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo” [12, tr.8].
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý thì “Môi trường là hệ thống các yếu tố

vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của
con người và sinh vật” [14, tr.8]. Như vậy, có thể hiểu rằng môi trường là
tổng thể các yếu tố tự nhiên (có sẵn, không do con người tạo ra: đất, nước, hệ
động, thực vật, ánh sáng, không khí…) và các yếu tố nhân tạo (do con người
tạo ra để thỏa mãn các nhu cầu của mình: nhà máy sản xuất các loại sản
phẩm, trang trại chăn nuôi, đường sá, cầu cống, phương tiện đi lại…) bao
quanh con người, tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người, sinh
vật; giữa con người và môi trường luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua
lại lẫn nhau, trong đó con người đóng vai trò là trung tâm của mối quan hệ.
Môi trường tác động tích cực hay tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của con
người đều phụ thuộc vào hành động và thái độ đối xử của con người đối với
môi trường.
Môi trường quan trọng là vậy, nhưng hiện trạng môi trường đang có
những thay đổi theo chiều hướng ngày càng bất lợi đối với sự tồn tại và phát
triển của con người, đặc biệt là các yếu tố mang tính tự nhiên như đất, nước,
không khí, hệ động vật, hệ thực vật… và sự thay đổi này đang diễn ra trên
phạm vi toàn cầu cũng như trong phạm vi từng quốc gia. Hiện trạng môi
trường ở Việt Nam vừa có những đặc điểm chung của môi trường thế giới,
vừa có những đặc điểm riêng do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử phát triển đất
nước qua các thời kỳ.
Việc môi trường bị hủy hoại do nhiều yếu tố khác nhau, trong số đó
phải kể đến các yếu tố như việc xả các loại chất thải, khí thải không qua xử lý
ra môi trường, tình trạng chặt phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi, quá
trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp…
9


Vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường và những hậu quả, thiệt hại
nghiêm trọng mà nó mang lại đã buộc các quốc gia phải có những biện pháp,
công cụ hữu hiệu để quản lý, bảo vệ môi trường như chính trị, kinh tế, pháp

luật, khoa học - công nghệ, giáo dục…, trong đó pháp luật là công cụ có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ môi trường.
1.1.2. Khái niệm quản lý môi trường, đặc điểm quản lý môi trường
1.1.2.1. Khái niệm quản lý môi trường
Khi đề cập tới vai trò của quản lý trong xã hội, C.Mác đã khẳng định:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên một quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể
sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng [28, tr.10-11].
Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và
phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến
phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế, đồng thời đều phải thừa nhận
và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành
và phát triển của các tổ chức trong xã hội và để hoạt động quản lý có thể diễn
ra thì bên cạnh chủ thể quản lý cần có các yếu tố khác như đối tượng quản lý
và những mục tiêu mà hoạt động quản lý hướng tới.
Mặc dù, hiện nay có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về thuật
ngữ quản lý. Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường và phổ biến thì quản lý
là sự tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý đối
với đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt những mục tiêu
nhất định đã đề ra.

10


Quản lý môi trường thực chất là một khía cạnh trong hoạt động quản lý
xã hội, nhưng đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm

thống nhất về quản lý môi trường. Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở:
Quản lý môi trường là hoạt động có mục đích nhằm duy trì và cải
thiện trạng thái của nguồn tài nguyên môi trường không bị ảnh
hưởng bởi hoạt động của con người. Đây thực chất là sự điều tiết tác
động xã hội của con người vào môi trường để đảm bảo rằng các hệ
sinh thái được bảo vệ và duy trì sử dụng công bằng giữa các thế hệ.
Thông qua việc xem xét các khía cạnh liên quan bao gồm khía cạnh
đạo đức, kinh tế, khoa học… để tìm ra yếu tố cốt lõi của xung đột từ
đó đưa ra biện pháp điều chỉnh phù hợp [8, tr.11-12].
Theo một số tác giả là người Việt Nam “Quản lý môi trường là quản lý
nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu dân cư về môi
trường” [5, tr.185]. Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng
cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO
14000) và bảo vệ sức khỏe của mọi người sinh sống, làm việc trong khu vực
chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất.
Quản lý môi trường là việc sử dụng tổng hợp mọi biện pháp thích hợp
nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích là
giữ hài hòa mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, bảo đảm đáp ứng nhu
cầu của con người nhưng cũng đồng thời bảo đảm chất lượng của môi trường,
bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường, hướng tới
sự phát triển bền vững. Hay nói một cách khác:
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội;
có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp
cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn
đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm
định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài
11


nguyên. Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện

pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn
hóa, giáo dục… Các biện pháp này có mối liên hệ chặt chẽ, đan xen
và hỗ trợ lẫn nhau tùy theo tính chất, quy mô của vấn đề đặt ra cần
phải giải quyết [5, tr.186].
Phân tích định nghĩa trên, có thể thấy rằng mục tiêu sâu xa của quản lý
môi trường là hướng tới sự phát triển bền vững mà thực chất là bảo đảm cân
bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, phát
triển kinh tế, xã hội tạo ra tiềm lực để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi
trường tạo ra tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh
tế, xã hội trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
những ưu tiên trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia
mà mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi.
1.1.2.2. Đặc điểm quản lý môi trường
* Cơ sở khoa học của quản lý môi trường:
Một là, cơ sở triết học về nguyên lý thống nhất của thế giới vật chất, mà
ở đây, tự nhiên, con người và xã hội có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành
một hệ thống thống nhất và tuân theo một chu trình sinh - địa - hóa cơ bản,
trong đó yếu tố con người giữ vai trò chủ đạo. Xuất phát từ tính thống nhất hệ
thống này, đòi hỏi việc giải quyết các vấn đề môi trường và thực hiện công
tác quản lý môi trường phải mang tính toàn diện, hệ thống và phù hợp với
trình độ phát triển của mỗi quốc gia, khu vực.
Hai là, cơ sở khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đó là sự phát triển mạnh
mẽ và tiến bộ của ngành khoa học về môi trường, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu, phát hiện ra các nguyên lý, quy luật môi trường, tạo ra các phương tiện
thiết bị kỹ thuật và công nghệ môi trường phục vụ cho việc phòng ngừa, xử
lý, phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường. Giúp cho việc quản lý
môi trường ngày càng hiệu quả hơn.
12



Ba là, cơ sở kinh tế. Công tác quản lý môi trường được hình thành
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua
các công cụ kinh tế. Mọi nguyên lý hoạt động trong nền kinh tế thị trường
được dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường, thông qua cạnh tranh, hoạt
động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi
hàng hóa theo giá trị. Do đó, Nhà nước cần phải đưa ra các công cụ kinh tế để
điều chỉnh và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho vấn đề bảo
vệ môi trường.
Bốn là, cơ sở luật pháp. Đó chính là các văn bản pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia về môi trường. Trong đó, pháp luật quốc tế là tổng thể các
nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa
quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ các khả năng có thể
gây ra thiệt hại cho môi trường; còn pháp luật quốc gia là tổng hợp các quy
phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa
các chủ thể trong quá trình sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu
tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau
nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người. Các văn
bản pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là cơ sở có ý nghĩa quan trọng để
thực hiện việc quản lý và bảo vệ môi trường.
* Nội dung chính của quản lý môi trường:
Quản lý môi trường chủ yếu tập trung vào 3 nội dung cơ bản, đó là:
“Xây dựng cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác quản
lý môi trường; thiết lập các công cụ quản lý môi trường; tổ chức các công tác
bảo vệ và quản lý môi trường” [5, tr.193].
Công tác quản lý môi trường có thể phân loại dựa vào phạm vi quản lý,
gồm có: Quản lý môi trường khu vực (nông thôn, đô thị…); quản lý môi
trường ngành, lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng…); quản lý
theo yếu tố tài nguyên (đất, nước, khoáng sản, rừng…).
13



Công tác quản lý môi trường có thể phân loại dựa vào tính chất quản
lý, gồm có: Quản lý chất lượng môi trường theo hướng ban hành và kiểm tra
việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường (không khí, đất,
nước…); quản lý kỹ thuật môi trường (quản lý các trạm quan trắc, giám sát,
đánh giá chất lượng môi trường; quản lý các trạm phân tích, các phòng thí
nghiệm phân tích chất lượng môi trường…); quản lý kế hoạch môi trường từ
việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch bảo vệ môi trường từ Trung ương
đến địa phương.
Trong quá trình thực hiện, các nội dung quản lý trên sẽ tạo thành một
hệ thống đan xen với nhau phục vụ công tác bảo vệ môi trường và hướng tới
sự phát triển bền vững.
* Các công cụ quản lý môi trường:
“Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về
luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững kinh tế - xã hội” [5, tr.232]. Công cụ quản lý môi trường
rất đa dạng, mỗi công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định,
không có một công cụ nào có giá trị tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng luôn có sự
liên kết và hỗ trợ lẫn nhau nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
kinh tế - xã hội.
Công cụ quản lý môi trường là biện pháp quan trọng của Nhà nước để
thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia. Tùy vào từng hoạt động môi
trường cụ thể mà cơ quan quản lý nhà nước lựa chọn biện pháp quản lý thích
hợp. Ví dụ, để quản lý môi trường đối với hoạt động sản xuất thì nên sử dụng
biện pháp kinh tế, còn để quản lý môi trường đối với hoạt động xã hội thì sử
dụng biện pháp hành chính. Việc nghiên cứu và hoàn thiện các công cụ quản
lý môi trường là nhiệm vụ bắt buộc và thường xuyên của các cơ quan quản lý
nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường.

14



Mặc dù, mỗi loại công cụ đều có vị trí, vai trò nhất định. Tuy nhiên,
pháp luật luôn được các quốc gia xác định là công cụ hữu hiệu và quan trọng
nhất trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ vấn đề trên,
tác giả quyết định đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật về
quản lý môi trường, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện và tăng cường
tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi trường.
1.1.3. Khái niệm pháp luật về quản lý môi trường
Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật đã giải quyết một cách
đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó
với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp. Theo đó, pháp luật chỉ phát
sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Nhờ nắm trong tay quyền
lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước để thể hiện ý chí của
giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của
Nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trong xã hội có giai cấp tồn tại
nhiều loại quy phạm khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai
cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật
thống nhất chung cho toàn bộ xã hội.
Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính
xã hội và có sự liên hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, hai tính chất này của
pháp luật thường có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo
đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị - xã hội trong mỗi nước, ở
một thời kỳ lịch sử nhất định.
Như vậy có thể hiểu, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do
Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của
giai cấp thống trị trong xã hội, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa ra đời cùng với Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã

15


hội chủ nghĩa, là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Do đó,
pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân
dân lao động.
Từ quan niệm chung về pháp luật và bản chất của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh
cưỡng chế của Nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi người tôn
trọng và thực hiện.
Pháp luật là công cụ đặc trưng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc quản lý xã hội nói chung, quản lý môi trường nói riêng. Trong vấn đề
quản lý môi trường, pháp luật quy định các quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi
người phải tuân theo khi tham gia khai thác và sử dụng các thành phần môi
trường, thực hiện các hoạt động có ảnh hưởng đến môi trường; pháp luật quy
định các biện pháp chế tài về hành chính, hình sự, kinh tế buộc mọi tổ chức,
cá nhân phải có thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường, góp phần quản lý,
bảo vệ môi trường; pháp luật quy định các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường,
là cơ sở pháp lý để theo dõi, đánh giá, quản lý môi trường cũng như xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật về môi trường; pháp luật quy định cơ cấu tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan quản lý môi trường, quy định
quyền hạn, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia vào
quá trình quản lý và bảo vệ môi trường; pháp luật quy định việc giải quyết các
vấn đề tranh chấp về môi trường phát sinh trong xã hội…
Từ những phân tích và luận giải trên, có thể đưa ra khái niệm pháp luật
về quản lý môi trường như sau: Pháp luật về quản lý môi trường là hệ thống
các quy tắc xử sự chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới
hình thức văn bản quy phạm pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng các

biện pháp chế tài của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
16


trong quá trình quản lý, khai thác, sử dụng, giữ gìn và bảo vệ các thành phần
môi trường, nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền mọi người được sống
trong môi trường trong lành, kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
1.2. Các nguyên tắc và nội dung của pháp luật về quản lý môi trường
1.2.1. Các nguyên tắc của pháp luật về quản lý môi trường
Pháp luật về quản lý môi trường điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội
phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình con người tiến hành các hoạt
động tác động đến môi trường. Nhiệm vụ của pháp luật về quản lý môi trường
là nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
với nhiệm vụ bảo vệ môi trường; quan hệ giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu
dài, căn bản của đất nước; quan hệ giữa việc bảo vệ môi trường với tư cách là
một tổng thể với bảo vệ từng thành phần môi trường; quan hệ giữa lợi ích
chung về mặt môi trường của cả cộng đồng với lợi ích cục bộ của từng tổ
chức, từng cá nhân; quan hệ giữa quốc gia, khu vực và quốc tế về vấn đề bảo
vệ môi trường. Do đó, pháp luật về quản lý môi trường được xây dựng, ban
hành và thực hiện dựa trên các nguyên tắc chủ yếu như sau:
1.2.1.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền con người được sống trong môi
trường trong lành
Môi trường trong lành có thể hiểu là môi trường sạch đẹp, thuần khiết,
chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái hay sự cố
môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh mạng và hoạt động bình thường của
con người. Quyền được sống trong môi trường trong lành thực chất là quyền
được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, bảo đảm cuộc sống được
hài hòa với tự nhiên. Quyền được sống trong môi trường trong lành là những
nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người, là một trong

những quyền cơ bản của con người đã được pháp luật quốc tế sớm ghi nhận,
bảo vệ và trở thành một nguyên tắc trọng tâm trong mối quan hệ giữa các
17


quốc gia. Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố Stockholm về môi trường con người
năm 1972 lần đầu tiên chính thức nêu rõ “Con người có quyền cơ bản được
sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và
phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ
hôm nay và mai sau” [19, tr.44], Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và
phát triển năm 1992 tiếp tục khẳng định “Con người là trung tâm của các mối
quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc
sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên” [19, tr.45]. Nguyên tắc
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chi phối hoạt động xây dựng pháp luật và
chính sách của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Đòi hỏi cơ bản
của nguyên tắc này là mọi quy phạm pháp luật môi trường, mọi chính sách
liên quan đến môi trường đều phải xem xét đến tiêu chí bảo đảm điều kiện
sống của con người, trong đó có điều kiện môi trường là ưu tiên hàng đầu.
Cùng với việc tham gia các cam kết quốc tế về môi trường, Việt Nam
đã thừa nhận quyền con người được sống trong môi trường trong lành là một
nội dung pháp lý trong hệ thống pháp luật về quản lý môi trường. Điều này đã
được khẳng định cụ thể tại Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền được
sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [13,
tr.22] và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Bảo vệ môi trường gắn kết hài
hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới
và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo
đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành” [14, tr.12].
Việc thừa nhận quyền này trong các quy định của pháp luật đồng nghĩa với
việc Nhà nước sẽ có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo
vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho mọi người được

sống trong một môi trường trong lành, đồng thời đây cũng chính là cơ sở pháp
lý để mọi người tự bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của
chính mình.
18


1.2.1.2. Nguyên tắc tính thống nhất trong quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một lĩnh vực phức tạp và có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường
trong lành gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội
và phát triển bền vững đất nước. Do đó, việc quản lý và bảo vệ môi trường
phải có sự thống nhất và đây chính là một trong các nguyên tắc của pháp
luật về quản lý môi trường đã được ghi nhận tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013
và Điều 140 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Để thực hiện nguyên tắc
này, đòi hỏi các yêu cầu sau đây: Việc xây dựng và ban hành các chính sách,
quy định của pháp luật về quản lý môi trường phải có sự cân nhắc toàn diện
đến các yếu tố khác nhau của môi trường để việc điều chỉnh các quan hệ xã
hội trong lĩnh vực này không bị phân tán và thiếu tính đồng bộ; việc quản lý
môi trường được thực hiện dưới sự điều hành thống nhất của một cơ quan;
các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, quy trình thẩm định, phê
duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường với vai trò là những công cụ kỹ
thuật quan trọng trong quản lý môi trường, phải được xây dựng và áp dụng
một cách thống nhất trong phạm vi cả nước; việc bảo vệ môi trường phải
luôn được coi là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn xã hội. Mọi cơ quan, tổ
chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân đều phải tham gia bảo vệ
môi trường thông qua việc tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ các quy định của
pháp luật về môi trường, thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng
nhằm bảo vệ môi trường.
1.2.1.3. Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững
“Phát triển bền vững” là một khái niệm xuất hiện từ phong trào bảo vệ

môi trường trong thời điểm những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20.
Trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi
trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, phát triển bền vững được
định nghĩa “Là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
19


không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” [17].
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển
bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và
hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Theo
quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Phát triển bền vững là phát
triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài
hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”
[14, tr.8]. Phát triển bền vững là một trong những nguyên tắc quan trọng trong
hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường và hầu hết các quốc gia trên thế giới
đã ghi nhận nguyên tắc này trong hệ thống pháp luật của mình. Để bảo đảm
thực hiện nguyên tắc phát triển bền vững, đòi hỏi các yêu cầu sau đây: Các
biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường phải luôn được xác định là yếu tố cấu
thành trong các chiến lược hoặc các chính sách phát triển kinh tế của quốc
gia, địa phương, vùng miền và của từng ngành, từng tổ chức; phải xây dựng
được bộ máy và cơ chế quản lý có hiệu lực, hiệu quả trong việc ngăn chặn,
phòng, chống tham nhũng và lãng phí các nguồn lực, nhất là nguồn tài nguyên
thiên nhiên; phải hoàn thiện quy trình quyết định chính sách và tăng cường
tính công khai, minh bạch của các quy trình đó, bảo đảm để các quyết định,
chính sách ban hành hướng đến sự phát triển bền vững; đánh giá tác động môi
trường phải luôn là một bộ phận cấu thành của mọi dự án đầu tư.

1.2.1.4. Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa
Môi trường khác với các hiện tượng xã hội khác thể hiện ở khả năng
khôi phục hiện trạng, đó là không thể thực hiện được hoặc nếu thực hiện được
thì sẽ rất khó khăn và tốn kém cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc. Thực tế
đã chứng minh, một số hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra là
20


không thể khắc phục được, còn đối với những trường hợp có thể khắc phục
thì nguồn lực bỏ ra để khắc phục các hậu quả về môi trường bao giờ cũng lớn
hơn rất nhiều so với nguồn lực bỏ ra để thực hiện việc phòng ngừa. Chính vì
vậy, ngăn ngừa những hành vi gây hại cho môi trường luôn được chú trọng
hơn so với việc áp dụng các hình phạt hoặc chế tài khác. Nguyên tắc coi trọng
tính phòng ngừa là một trong những nguyên tắc của hoạt động quản lý, bảo vệ
môi trường và được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Hoạt
động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng
ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường” [14, tr.12]. Nguyên tắc này chính
là cơ sở pháp lý cho việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật nhằm
ngăn chặn các hoạt động có khả năng gây nguy hại cho môi trường.
Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn áp dụng trong quản lý môi trường rất
đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, bản chất chính của các biện
pháp phòng ngừa, ngăn chặn là nhằm mục đích kích thích lợi ích hoặc triệt
tiêu các lợi ích vốn là động lực của việc vi phạm pháp luật môi trường, nâng
cao ý thức tự giác chấp hành của con người trong việc thực hiện các biện
pháp bảo vệ môi trường. Để phòng ngừa có hiệu quả, nguyên tắc này đòi hỏi
các yêu cầu sau đây: Phải dự báo được những rủi ro mà con người và thiên
nhiên có thể gây ra cho môi trường. Đây chính là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, quyết định đến hiệu quả của việc phòng ngừa, là cơ sở để xây
dựng các biện pháp ngăn chặn, chuẩn bị đối phó; phải có những biện pháp
ngăn chặn, loại trừ, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra một cách khả thi,

hiệu quả, đặc biệt là có sự chuẩn bị đầy đủ về lực lượng, phương tiện và
phương án sẵn sàng ứng phó với những rủi ro, sự cố xảy ra.
1.2.1.5. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” lần đầu tiên được ghi nhận
trong văn kiện của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế. Nguyên tắc này xuất
phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại “hàng hóa” đặc biệt (vì nó
21


×