Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

……………/…………

….…./…….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM VĂN ĐOÀN

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐĂK LĂK – 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/…………….

BỘ NỘI VỤ
….…./…….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM VĂN ĐOÀN



THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH – TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN BÁ CHIẾN

ĐĂK LĂK – 2017

2


LỜI CAM ĐOAN
Bằng văn bản này, tác giả xin cam đoan rằng các nội dung được trình
bày trong Luận văn “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk” là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của tác giả..
Tác giả xin cam đoan là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực
hiện. Các số liệu trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực và được tác giả
chú thích rõ ràng.
Tác giả

Phạm Văn Đoàn

3


MỤC LỤC
trang

Lời cam đoan................................................................................................ 3
Mục lục......................................................................................................... 4
Danh mục các chữ viết tắt........................................................................... 6
Danh mục các bảng..................................................................................... 7
MỞ ĐẦU. .......................................................................................... 8
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................8
2. Tình hình nghiên cứu đề tài..............................................................10
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn..................................................12
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu..........................................................13
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn.......... 13
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.........................................14
7. Kết cấu luận văn............................................................................... 15
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH ..................16
1.1. Những khái niệm có liên quan .......................................................16
1.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính ...............................................................................................................21
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH .............................................................................................47
2.1. Tình hình và đặc điểm của khiếu kiện hành chính trên địa bàn tỉnh
Đăk Lăk từ năm 2012 đến 2016 ......................................................................47
2.2. Đánh giá thực trạng thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân
tỉnh Đăk Lăk trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính .....................................49

4


2.3. Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk .......................72

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐĂK LĂK .........................78
3.1. Tình hình khiếu kiện hành chính trong xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính trong những năm tới trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ....................................78
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Tòa
án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.......................................81
KẾT LUẬN.....................................................................................98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………100

5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PLTTGQCVAH

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

TA

Tòa án

TAND

Tòa án nhân dân


TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TP

Thành phố

UBND

Ủy ban nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

TTHC

Tố tụng hành chính

6


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng


Tên bảng

2.1

Kết quả xử lý đơn khiếu kiện của Tòa án nhân dân
cấp sơ thẩm tỉnh Đăk Lăk

2.2

Kết quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa
án nhân dân trong tỉnh Đăk Lăk

7

Trang

47

51


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự ra đời của Toà Hành chính và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính năm 1996, quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu
Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân chính thức được pháp
luật quy định. Trải qua 20 năm hình thành và phát triển với những sửa đổi, bổ
sung của hệ thống pháp luật, thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Toà án
nhân dân (TAND) các cấp ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện cho Tòa

phát huy vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá
nhân, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.
So với các vụ án hình sự, dân sự đã có từ lâu đời trong lịch sử tố tụng tư pháp
Việt Nam, việc giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta vẫn được coi là mới
mẻ cả về phương diện lý luận và cả về thực tiễn áp dụng pháp luật.
Trong điều kiện phát triền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng, các khiếu kiện hành chính ngày càng gia tăng và trở nên
gay gắt. Trước tình hình đó, pháp luật Tố tụng hành chính (TTHC) ngày càng
hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho người dân trong việc thực
hiện quyền khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính để bảo vệ
quyền lợi chính đáng của mình, Vì lý do này, số lượng vụ án hành chính được
TAND các cấp thụ lý giải quyết hàng năm đều tăng nhiều về số lượng, tính
chất tranh chấp ngày càng phức tạp.
Mặc dù TAND các cấp đã có nhiều cố gắng trong công tác xét xử các
vụ án hành chính nhưng kết quả giải quyết còn nhiều hạn chế. Thực tiễn xét
xử của ngành Tòa án trong thời gian vừa qua cho thấy, thời hạn giải quyết các
vụ án hành chính thường bị kéo dài quá hạn pháp luật quy định, có những vụ
án giải quyết qua nhiều năm chưa kết thúc, nhiều vụ án xét xử thiếu khách

8


quan, chưa chính xác đã gây tâm lý phản cảm, giảm sút niềm tin trong một bộ
phận quần chúng nhân dân.
Bên cạnh đó, ngày 8/12/2015 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII,
Luật tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội thông qua với nhiều quy
định đã được sửa đổi, bổ sung so với Luật TTHC năm 2010. Trong đó, có
nguyên tắc tranh tụng trong TTHC đã được quy định tại Mục 3 (Tranh tụng
trong phiên tòa) thuộc Chương XI (Phiên tòa sơ thẩm) nhằm bảo đảm tranh
tụng công khai, dân chủ giữa bên khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân và

bên bị kiện là cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan quản lý hành chính. Những quy định này cần được
nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính (đặc biệt
là thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hành chính) để đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp của đất nước.
Đắk Lắk là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, trong những năm vừa
qua do tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã thúc
đẩy kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không
ngừng được nâng lên, một số công trình, nhà máy, xí nghiệp được xây dụng,
lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, vui chơi giải trí phát triển. Tuy nhiên,
bên cạnh những mặt tích cực đó thì tình hình khiếu kiện hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai, nhà ở, các lĩnh vực thuế, xây dụng, môi trường đô thị,
kinh doanh, dịch vụ du lịch... ngày càng phức tạp. Số lượng vụ án hành chính
được TAND tỉnh thụ lý giải quyết ngày càng tăng nhưng chất lượng giải
quyết các vụ án vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế dẫn đến việc các đương sự
kháng cáo, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị, gây nên bức xúc trong quần
chúng nhân dân.
Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
cả về cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử

9


sơ thẩm vụ án hành chính dưới góc độ luật Hiến pháp và Hành chính nhằm
tìm ra những ưu điểm và những hạn chế, vướng mắc; rút ra những bài học
kinh nghiệm đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế,
tồn tại, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện thẩm quyền của
TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là rất cần thiết và khách quan,
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo quan điểm của Đảng được thể hiện tại
các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng

tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”. và Nghị quyết số 49/NQ-TW
ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Vì vậy, tác
giả chọn nghiên cứu đề tài: “Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm Luận văn tốt nghiệp
Cao học Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính là cấp thiết,
khách quan trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để vụ án hành chính được xét xử kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, TAND đóng vai trò quyết định. Do
đó, vấn đề thẩm quyền của TAND trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
đã được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và những người hoạt động thực tiễn
quan tâm. Việc nghiên cứu đề tài này được thể hiện trong nhiều công trình
khoa học được công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các Luận văn
Thạc sỹ, một số giáo trình giảng dạy về pháp luật. Có thể nêu ra các công
trình, bài viết sau đây:
Tác giả Nguyễn Đức Chính “Thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính
theo Luật TTHC Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành “Lý luận và
Lịch sử Nhà nước và pháp luật”- Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014. Luận
văn đã làm rõ một cách đầy đủ về cơ sở lý luận, nhận thức chung về thẩm
quyền của Tòa hành chính quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử của

10


Tòa hành chính trước và sau khi có Luật TTHC năm 2010 đồng thời đánh giá
thực tiễn thi hành các quy định này trong hoạt động giải quyết vụ án hành
chính của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm
thực hiện những quy định về thẩm quyền của Tòa hành chính. Luận văn chưa
cập nhật quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án theo Luật TTHC năm
2015. Luận văn đề cập đến thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính nói chung

cho nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính chỉ được tác giả nêu lên
ở mức độ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của hoạt
động thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
Sách “Giáo trình Luật Hành chính và Tài phán hành chính Việt Nam”
(2008), Học việc Hành chính Quốc gia.
Tác giả Vũ Thị Hòa (2011), “ Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền xét
xử theo Luật tố tụng hành chính 2010”. Tạp chí kiểm sát, số 8, Hà Nội.
Bài viết phân tích làm rõ quy định của Luật TTHC năm 2010 về đối
tượng khởi kiện và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nói
chung. Bài viết không đề cập đến cơ sở lý luận về thẩm quyền xét xử nói
chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính cũng như thực tiễn
thực hiện thẩm quyền của Tòa án.
TS. Nguyễn Văn Thuân (2016), “Thẩm quyền của Tòa án theo Luật
TTHC năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bài viết đề cập đến sự cần
thiết về việc ban hành Luật TTHC năm 2015 đồng thời nêu lên một số điểm
mới về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các vụ án hành chính như
theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án ... Bài viết không đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính của TAND.
Nhìn chung, những công trình, tài liệu trên đây đã tập trung nghiên cứu
các quy định chung về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án theo

11


quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 và
Luật TTHC năm 2010 mà chưa đề cập đến quy định của Luật TTHC năm
2015 và chưa nghiên cứu một cách hệ thống về hoạt động thực hiện thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của TAND. Vì vậy, việc lựa chọn đề
tài “Thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ

thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” của tác giả là hoàn toàn mới, chưa có một công
trình nào nghiên cứu.
Thông qua việc nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả mong muốn làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động thực hiện thẩm quyền của TAND trong
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, từ đó đưa ra
những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm
quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính nhằm đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện
thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại tỉnh Đăk
Lăk, luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm
quyền của TAND trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm
trong thời gian tới
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra và thực hiện những nhiệm vụ
như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xác định
những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu;
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ các đặc điểm của thẩm quyền của
TAND trong xét xứ sơ thẩm vụ án hành chính.

12


- Xây dựng một số khái niệm, nội dung của thẩm quyền của TAND
trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính;
- Khảo sát, thống kê, đánh giá thực trạng thực hiện Thẩm quyền của
TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

giai đoạn năm 2012 đến năm 2016;
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu, dự báo những yếu tố ảnh hưởng và đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện “Thẩm quyền của TAND
trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện Thẩm quyền
của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Các hoạt động thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của
TAND trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục xét xử sơ thẩm.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, do TAND tỉnh Đắk Lắk
thực hiện.
Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thục hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật Nhà nước về thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan để làm
rõ tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận về thẩm quyền của

13


TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Từ đó, xác định những nội
dung nào của các công trình khoa học trước chưa đề cập đến để tiếp tục
nghiên cửu, bổ sung hoàn thiện về lý luận.

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng để thống kê
và phân tích tài liệu, báo cáo tổng kết thực hiện thẩm quyền của TAND trong
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong thực tiễn nhằm tổng hợp rút ra những
ưu điềm, hạn chế, vướng mắc.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để tiến hành nghiên
cứu, phân tích hoạt động thực hiện thẩm quyền của TAND trong xét xử sơ
thẩm vụ án hành chính từ một số vụ án cụ thể để tìm ra những ưu điểm và
khuyết điểm, thiếu sót mang tính phổ biến. Từ đó rút ra những nguyên nhân,
điều kiện dẫn đến các vi phạm của TAND khi thực hiện thẩm quyền của
TAND trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính để tiếp tục nghiên cứu, bổ sung
hoàn thiện về lý luận.
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia được sử dụng để tọa đàm, trao đổi
với các chuyên gia nhằm tìm hiểu các kinh nghiệm trong hoạt động thực hiện
nhiệm vụ và quyền hạn của TAND trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ
tục xét xử sơ thẩm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận vãn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học pháp lý
chuyên ngành luật hành chính; làm rõ nội dung thẩm quyền của TAND trong
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động xét xử của TAND.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo,
bồi dưỡng chuyên sâu nghiệp vụ cho Thẩm phán, Thư ký tòa án. Một số giải

14


pháp của luận văn là tài liệu để các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tham
khảo khi sửa đổi, bổ sung Luật TTHC hiện hành của Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm có 03 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét
xử sơ thẩm vụ án hành chính
Chương 2: Thực trạng thực hiện thẩm quyền của Toàn án nhân dân tỉnh
Đăk Lăk trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Toàn
án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk.

15


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm thẩm quyền
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng “thẩm quyền”có nghĩa là “quyền
xem xét, quyết định” [ 21].
Theo Từ điển Luật học, “thẩm quyền” là “Quyền chính thức được xem
xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề.
Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho
cơ quan Nhà nước, người nắm giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ
quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ".
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu “thẩm quyền” là quyền do pháp luật
quy định một chủ thể nhất định (cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền
trong cơ quan, tổ chức) được xem xét, cân nhắc, quyết định một vấn đề; thẩm
quyền là khả năng được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một
phạm vi theo quy định của pháp luật.

Để bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động bình thường, không chồng
chéo, dẫm đạp lên nhau, mỗi cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước có một
chức năng, nhiệm vụ và những quyền hạn riêng biệt. Thẩm quyền của mỗi cơ
quan, tổ chức, cá nhân được xác định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành
chính, cấp hành chính để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của họ. Phạm
vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước được gọi là
thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Thẩm quyền chính là thuộc tính tất
yếu của cơ quan quyền lực Nhà nước là tổng thể quyền và nghĩa vụ và là cơ
sở để phân biệt cơ quan Nhà nước này với cơ quan Nhà nước khác.

16


Như vậy, “thẩm quyền” là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ phạm vi,
giới hạn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một chủ thể trong việc thực
thi quyền lực Nhà nước do pháp luật quy định.
1.1.2. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án
Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, Tòa án có chức năng,
nhiệm vụ riêng biệt. Theo Hiến pháp năm 2013, “TAND là cơ quan xét xử của
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, Tòa án “bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [12].
Với chức năng xét xử, Tòa án có thẩm quyền và trách nhiệm xem xét
giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, nhân danh Nhà nước ra các
phán quyết nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội. Thẩm quyền xét xử là quyền
chuyên biệt được trao riêng cho cơ quan Tòa án, không phân biệt cấp Tòa án
hay vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, mỗi Tòa án lại được phân định theo cấp, theo
khu vực hành chính, theo vụ việc (ví dụ: thẩm quyền xét xử của Tòa sơ thẩm).
Vậy, “thẩm quyền xét xử của Tòa án” là “quyền xem xét và quyết định
trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật” .

Thẩm quyền của Tòa án trong việc xét xử các vụ án hành chính là phạm
vi thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, được pháp luật TTHC quy định để
giải quyết các tranh chấp hành chính bằng thủ tục TTHC.
1.1.3. Khái niệm “vụ án hành chính” và “xét xử sơ thẩm vụ án hành chính”
1.1.3.1. Khái niệm vụ án hành chính
“Vụ án” nói chung là một thuật ngữ dùng để chỉ một vụ việc hình sự,
dân sự, hành chính được đưa ra giải quyết tại Tòa án (TA) hoặc cơ quan
Trọng tài. Theo Từ điển Luật học, “vụ án” là “Một vụ việc có dấu hiệu trái
pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật
được đưa ra TA hoặc cơ quan Trọng tài giải quyết [21].

17


Theo Luật Tổ chức TAND, TA xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn
nhân - gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính và những việc
khác theo quy định của pháp luật” [ 13].
Khiếu kiện hành chính là biểu hiện của tranh chấp hành chính, phát
sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước giữa một bên là cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức (được gọi là chủ
thể quản lý) và một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân (gọi là đối tượng quản lý
hành chính nhà nước) khi các chủ thể này tham gia vào quan hệ hành chính
nhà nước.
Khiếu kiện hành chính là quyền và là phương thức để bảo vệ quyền, lợi
hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Khi có căn cứ cho rằng quyết định
hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định xử lý kỷ luật
buộc thôi việc công chức…là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi hợp
pháp của mình thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn giữa việc
khiếu nại đến cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành

chính có thẩm quyền đề nghị xem xét lại quyết định, hành vi đó hoặc khởi
kiện yêu cầu TA giải quyết. Nói cách khác, khiếu kiện hành chính là hành vi
tự vệ và tự định đoạt của đối tượng quản lý hành chính nhà nước khi có sự
xâm phạm của việc thực thi quyền hành pháp.
Việc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quyết định hành chính, hành
vi hành chính đã làm phát sinh vụ án hành chính tại TA. Nếu việc khởi kiện
tuân thủ đúng điều kiện, đúng thủ tục do pháp luật TTHC quy định thì TA có
thẩm quyền phải có trách nhiệm thụ lý, giải quyết vụ án hành chính để đảm
bảo quyền, lợi hợp pháp của đương sự. Để làm phát sinh vụ án hành chính
phải hội đủ các điều kiện: (1) Có việc khởi kiện (theo quy định của Luật
TTHC) và (2) được TAND có thẩm quyền thụ lý vụ án.

18


Từ những vấn đề trên, có thể khái niệm vụ án hành chính là “vụ án phát
sinh tại TA có thẩm quyền do có cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để yêu
cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho mình và được TAND thụ lý để
giải quyết”.
1.1.3.2. Khái niệm xét xử vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm
Theo Từ điển Luật học, “xét xử” là “hoạt động xem xét, đánh giá bản
chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp
lý của vụ việc, từ đó nhân danh nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng
với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc”. Xét xử sơ
thẩm” là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một TA có thẩm quyền” [21].
Khiến kiện hành chính mang là hành vi tự vệ và tự định đoạt của cơ
quan, tổ chức, cá nhân trước quyết định hành chính, hành vi hành chính mà họ
cho rằng trái pháp luật. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lê nin, khiếu nại
hành chính là mâu thuẫn cần được giải quyết để duy trì sự ổn định xã hội và là

động lực cho sự phát triển. Giải quyết khiếu kiện hành chính giúp cho cơ quan
nhà nước nhận ra và khắc phục những thiếu sót, bất cập nhằm nâng cao năng
lực quản lý của bộ máy hành chính, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy,
thẩm quyền và trách nhiệm của TAND là phải giải quyết khiếu kiện hành
chính một cách khách quan, công bằng.
Trình tự giải quyết vụ án hành chính trải qua các bước: Nhận đơn khởi
kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tổ chức đối thoại, giải quyết vụ án tại
Tòa án cấp sơ thẩm, kháng cáo, kháng nghị và giải quyết vụ án theo thủ tục
phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm cho các bản án,
quyết định của TA được xem xét một cách thận trọng để vụ án được giải
quyết khách quan, công bằng. Trong đó, xét xử sơ thẩm là thủ tục xét xử đầu

19


tiên, không thể thiếu và có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ
án. Bản án, quyết định hành chính sơ thẩm không phải là phán quyết cuối
cùng vì đương sự có quyền kháng cáo, VKSND có quyền kháng nghị đối với
bản án, quyết định hành chính sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Nếu việc
giải quyết vụ án hành chính được khách quan, công bằng tại cấp sơ thẩm sẽ
củng cố lòng tin của nhân dân đối với cơ quan xét xử; việc giải quyết vụ án sẽ
không bị kéo dài do việc kháng cáo, kháng nghị, tiết kiệm được thời gian,
công sức, tiền bạc của nhà nước và của đương sự.
Vì vậy, “xét xử vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm” là thủ tục giải
quyết vụ án đầu tiên, trong đó TA áp dụng những trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định để xem xét giải quyết các yêu cầu của đương sự bằng một bản
án hoặc quyết định về việc giải quyết vụ án.
1.1.4. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ
thẩm vụ án hành chính

Khi có đơn khiếu kiện hành chính hợp pháp, TA cấp sơ thẩm có thẩm
quyền có trách nhiệm thụ lý vụ án và tiến hành các biện pháp cần thiết theo
đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để giải quyết vụ án hành chính.
Dựa trên những tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do TA thu thập
được trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán phải xem xét, đánh giá tính
căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính để
ra phán quyết chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự.
Như vậy, thẩm quyền của TA trong việc xét xử các vụ án hành chính là
quyền hạn và nghĩa vụ của TA trong việc thụ lý, giải quyết các vụ án hành
chính. TA có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện, thụ lý, lập hồ sơ để giải quyết
vụ án, ra các bản án, quyết định. Trên cơ sở thực hiện những quy định của
pháp luật TTHC và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, TA được
nhân danh quyền lực của nhà nước xem xét, ra các phán quyết để giải quyết

20


vụ án hành chính nhằm bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân và nâng
cao tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước.
Khi giải quyết vụ án hành chính, TA có thẩm quyền xem xét tính tính
hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện sau đây:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC năm 2015, quyết định
hành chính bị khởi kiện là “văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành; quyết định về
vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính; được áp dụng một lần đối
với một hoặc một số đối tượng cụ thể; quyết định này làm phát sinh, thay đổi,
hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [15].

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 thì hành vi
hành chính bị khởi kiện là “hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc
của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan,
tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; hành vi đó
làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân” [15].
1.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính
Nếu hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thành lập Tòa Hành chính và
trao quyền xét xử vụ án hành chính cho Tòa Hành chính thì hệ thống pháp
luật Anh – Mỹ lại không thành lập Tòa hành chính độc lập mà việc xét xử vụ
án hành chính vẫn do TA thường (TA tư pháp giải quyết). Cùng quan điểm
với các nước theo giải pháp trung gian (Nhật Bản, Trung Quốc…), Tòa Hành

21


chính của Việt Nam nằm trong hệ thống TAND các cấp, được trao quyền xét
xử các vụ án hành chính và được phân cấp từ cấp huyện, cấp tỉnh, cấp cao và
cấp tối cao. Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của TA Việt Nam được xem
xét với các nội dung: Thẩm quyền theo loại việc (những khiếu kiện hành
chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TA), thẩm quyền theo cấp TA, xác
định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khiếu kiện.
Bởi quản lý nhà nước là nhằm duy trì trật tự xã hội để bảo đảm lợi ích
chung của xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Do đó, nó được
thực hiện theo một hệ thống theo thứ bậc chặt chẽ, thông suốt từ trung ương
đến địa phương. Trong đó, cấp dưới phục tùng cấp trên, thực hiện chỉ thị,
mệnh lệnh của cấp trên và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên. Mỗi
cư quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi trách nhiệm,

thẩm quyền được giao. Do vậy, khiếu kiện hành chính cũng phải được thực
hiện từ dưới lên trên theo thứ bậc tương ứng nhằm bảo đảm cho TA hành
chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Thẩm quyền theo cấp TA được quy
định một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo hoặc tranh chấp
thẩm quyết giữa các TA với nhau, tạo điều kiện cho TA giải quyết nhanh
chóng và đúng đắn các vụ án hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ
quan xét xử. Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của TA có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết
của đội ngũ cán bộ TA. Trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng nhằm bảo đảm
cho TA thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.2.1. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Luật TTHC năm 2015 quy định những khiếu kiện hành chính thuộc
thẩm quyền giải quyết của TA là cơ sở pháp lý để TA xác định trách nhiệm
giải quyết của mỗi cấp TA đối với từng khiếu kiện hành chính cụ thể. TA có
căn cứ thụ lý, giải quyết các khiếu kiện hành chính phát sinh trong xã hội

22


thuộc thẩm quyền của mình. Quy định này tránh được sự chồng chéo trong
việc thực hiện nhiệm vụ, tránh được việc chuyển đi chuyển lại giữa TA với
các cơ quan nhà nước làm kéo dài thời gian giải quyết. Quy định những khiếu
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TA cũng bảo đảm cho việc thực hiện
quyền tiếp cận công lý của công dân. Từ quy định của pháp luật, đương sự có
căn cứ xác định những khiếu kiện hành chính được TA giải quyết và Tòa nào
phải giải quyết khiếu kiện để gửi đơn khởi kiện. Quy định này còn giúp
đương sự được thuận lợi trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
khi tham gia tố tụng, tiết kiệm được thời gian và chi phí không cần thiết.
Nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương “Mở rộng thẩm quyền xét xử của
Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính” đã được quán triệt tại Nghị quyết

số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” và để bảo đảm sự thống nhất của pháp luật (Luật Khiếu
nại, Luật Tố cáo, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015); đồng thời bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật TTHC năm 2015 quy định khiếu kiện
hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND gồm:
- “Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức
vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh.
- Khiếu kiện danh sách cử tri;
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các
quyết định, hành vi sau đây:
+ Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật
nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo
quy định của pháp luật;

23


+ Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử
lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng và quyết định
hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức” [15].
Quy định về các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết
của TAND theo phương pháp loại trừ như đã nêu trên đây là sự kế thừa và
phát triển các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
(TTGQCVAHC) năm 1996 và Luật TTHC năm 2010. Quy định này tạo sự
thuận lợi cho đương sự trong việc thực hiện quyền khiếu kiện, bảo đảm cho
TAND bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng thời đảm

bảo tính khả thi và tạo nên sức sống lâu bền cho Luật TTHC năm 2015.
1.2.2. Thẩm quyền theo cấp của Tòa án nhân dân trong xét xử sơ
thẩm các vụ án hành chính
1.2.2.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Thẩm quyền của TA cấp huyện trong việc xét xử vụ án hành chính dựa
trên dấu hiệu về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện
hành vi hành chính. TA có thẩm quyền là TA có cùng phạm vi địa giới hành
chính với người bị kiện. Theo quy định tại Điều 31 Luật TTHC năm 2015,
TA cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, gồm:
“Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với TA hoặc của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính,
hành vi hành chính của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp
huyện”. Các “khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm
vi địa giới hành chính với TA đối với công chức thuộc thẩm quyền

24


quản lý của cơ quan, tổ chức đó và khiếu kiện danh sách cử tri của
cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính
với TA"[15].
Quy định này là cần thiết bảo đảm cho Luật TTHC phù hợp với các
quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 và bảo đảm hiệu quả của việc
giải quyết khiếu kiện hành chính.
1.2.2.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tính trong việc xét xử sơ
thẩm các vụ án hành chính
Về cơ bản, Luật TTHC năm 2015 quy định TAND cấp tỉnh có thẩm

quyền xét xử hành chính sơ thẩm đối với các khiếu kiện không thuộc thẩm
quyền xét xử hành chính sơ thẩm của TA cấp huyện, đối với những khiếu
kiện có người bị kiện ở trung ương thì TA có thẩm quyền là TA có cùng
phạm vi địa giới hành chính với người khởi kiện. Ngoài ra, TA cấp tỉnh có thể
lấy một số khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử hành chính sơ thẩm của TA
cấp huyện lên để giải quyết. Theo quy định tại Điều 32 Luật TTHC năm 2015
thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với
những khiếu kiện hành chính sau:
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch
nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, TAND tối cao,
VKSND tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của
người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành
chính với TA; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi
làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải
quyết thuộc TA nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định
hành chính, có hành vi hành chính.

25


×