Tải bản đầy đủ (.doc) (80 trang)

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây xoan đào (pygeum arboreum endl ) tại huyện lâm bình, tỉnh tuyên quang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.16 MB, 80 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN CÂY XOAN ĐÀO
(Pygeum arboreumEndl.) TẠI HUYỆN
LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN CÂY XOAN ĐÀO
(Pygeum arboreumEndl.) TẠI HUYỆN
LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành : Lâm học
Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN CÔNG QUÂN


Thái Nguyên - 2017


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào. Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã được
ghi rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện cho luận văn này đã được
cảm ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng
quản lý sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài.

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Người viết cam đoan

Hoàng Thi Linh


ii

LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học va phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) tại huyện
Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang”.
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn
thành. Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng

dẫn TS. Nguyễn Công Hoan và TS.Trần Công Quân là người tận tâm hướng
dẫn tác giả trong thời gian thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo phòng Đào tạo, khoa Lâm
nghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những kiến thức và phương pháp
nghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường.
Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND huyện Lâm Bình, và Hạt Kiểm
Lâm huyện Lâm Bình đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá
trình nghiên cứu.
Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn
bè và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong
thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua.
Do năng lực còn hạn chế nên luận văn không tránh được những thiếu sót.
Vi vậy, tác giả kính mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo
và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn của tác giả thêm phong phú và hoàn
thiện hơn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn
Hoàng Thi Linh


1

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT.......................................... vi
DANH MỤC HÌNH..............................................................................................viii

DANH MỤC BẢNG ............................................................................................. vii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

1. Tính cấp thiết..................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................... 2
3. Ý nghĩa nghiên cứu ........................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................................... 3

1.1. Trên thế giới ................................................................................................... 3
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng ....................................................................... 3
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng ........................................................................ 5
1.2. Ở Việt Nam .................................................................................................... 8
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng ....................................................................... 8
1.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng ........................................................... 11
1.3. Những nghiên cứu về cây Xoan đào trong và ngoài nước........................... 13
1.3.1. Trên thế giới .............................................................................................. 13
1.3.2. Ở Việt Nam ............................................................................................... 14
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu ....................................................................
19
1.4.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu .................................................... 19
1.4.2. Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội ........................................................... 20
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 23

2.1. Đối tượng và phạmvi nghiên cứu................................................................. 23
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ................................................................... 23
2.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 23


2.3.1. Đặc điểm về phân bố loài Xoan đào ......................................................... 23
2.3.2. Đánh giá hiện trạng thảm thực vật nơi xoan đào phân bố ........................ 23

2.3.3. Đặc điểm hình thái và sinh thái nơi Xoan đào phân bố ............................ 23
2.3.4. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao.............................................. 23
2.3.5. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh ....................................... 23
2.3.6. Đề xuất biện pháp bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu ........................... 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 24
2.4.1. Phương pháp luận...................................................................................... 24
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu .................................................................... 24
2.4.3. Xử lý số liệu .............................................................................................. 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................... 31

3.1. Đặc điểm về phân bố loài Xoan đào ............................................................ 31
3.2. Hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu ........................................ 32
3.2.1. Trạng thái rừng thứ sinh phục hồi kiểu IIa ................................................ 32
3.2.2. Trạng thái rừng thứ sinh phục hồi kiểu IIb ................................................ 33
3.3. Đặc điểm hình thái và sinh thái nơiloài Xoan đào phân bố ......................... 36
3.3.1. Đặc điểm hình thái loài Xoan đào............................................................. 36
3.3.2. Đặc điểm sinh thái nơi Xoan đào phân bố ................................................ 41
3.4. Đặc điểm cấu trúc rừng có loài Xoan đào phân bố ...................................... 43
3.4.1. Cấu trúc tổ thành ....................................................................................... 43
3.4.2. Đặc điểm cấu trúc tầng thứ ....................................................................... 47
3.4.3. Chỉ số đa dạng sinh học ............................................................................ 49
3.5. Đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh ............................................................. 50
3.5.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ ...................................................................... 50
3.5.2. Nguồn gốc, chất lượng và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng ............................ 52
3.5.3. Phân bố cây tái sinh theo chiều cao .......................................................... 54
3.5.4. Cây tái sinh triển vọng .............................................................................. 56
3.6. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài..................................... 56


PHẦN 4 - KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................... 58


4.1. Kết luận ........................................................................................................ 58
4.2. Kiến nghị ...................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 60


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt

Nghĩa đầy đủ

D 1.3

Đường kính ngang ngực

ha

Hecta

Hvn

Chiều cao vút ngọn

N

Số cây

ODB


Ô dạng bản

OTC

Ô tiêu chuẩn

STT

Số thứ tự

UBND

Uỷ ban nhân dân


vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi .......................................... 29
Bảng 3.1. Đặc điểm địa hình nơi cây Xoan đào phân bố.................................... 31
Bảng 3.2 - Các pha vật hậu của loài Xoan đào tại khu vực nghiên cứu ............. 39
Bảng 3.3 - Đặc điểm đất tại nơi Xoan đào phân bố ........................................... 42
Bảng 3.4 - Kết quả phân tích đất tại nơi Xoan đào phân bố .............................. 43
Bảng 3.5 - Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu ...................... 44
Bảng 3.6 - Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại khu vực nghiên cứu ......... 47
Bảng 3.7 - Đánh giá chỉ số đa dạng tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu ........... 49
Bảng 3.8 - Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh ....................................... 51
Bảng 3.9 - Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh triển vọng............................. 52
Bảng 3.10 - Phân bố cây theo cấp chiều cao....................................................... 55
Bảng 3.11 – Số lượng và tỷ lệ (%) cây tái sinh triển vọng ................................. 56



viii

DANH MỤC HÌNH

Hinh 2.1 - Cách bố trí OTC diện tích 1000m2 .................................................... 26
Hinh 3.1 - Hình thái thân, tán cây Xoan đào tại khu vực nghiên cứu................. 37
Hinh 3.2 - Hinh thái lá non, lá trưởng thành cây Xoan đào ................................ 37
Hinh 3.3 - Hình thái nụ, hoa cây Xoan đào tại khu vực nghiên cứu................... 38
Hinh 3.4 - Hình thái quả non, quả xanh và quả chín cây Xoan đào ................... 38


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo
lại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ về
bản chất các qui luật sống của rừng trước hết là các quá trình tái sinh, sự hình
thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiên
môi trường khác nhau.
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) là
loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, dễ gây
trồng, phù hợp với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái khác nhau. Trong điều
kiện tự nhiên, cây có thể cao tới 40m, đường kính ngang ngực đạt 75cm; ở rừng
trồng, câycao từ 20-25m, thân thẳng tròn, đường kính 40-45 cm.Ở Việt Nam,
cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) được biết đến như một loài cây gỗ lớn,
có phân bố rộng và đa tác dụng. Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI, bền chắc, không
cong vênh, mối mọt, lõi giác màu vàng rất đẹp, gỗ dùng làm cột nhà, đồ gia

dụng; thân thẳng tròn đều, đơn trục không có bạnh vè; vỏ, lá và rễ cây có mùi bọ
xít dễ phân biệt với loài khác. Ngoài ra, Xoan đào còn là loài cây phục vụ trồng
rừng gỗ lớn. Với đặc tính ưu việt là ưa sáng khi trưởng thành, khả năng chống
chịu cao, sinh trưởng tương đối nhanh, tái sinh tự nhiên tốt,... Xoan đào là loài
cây đang được lựa chọn phục vụ trồng hỗn giao với cây bản địa, trồng dưới tán
rừng thứ sinh và làm giàu rừng.
Tuy nhiên, hiện nay những thông tin về loài cây, thị trường lâm sản, các
biện pháp kỹ thuật trong nhân giống và trồng rừng Xoan đào còn rất ít và tản
mạn. Mặt khác, Xoan đào chưa có tên trong danh mục các loài cây chủ yếu cho
trồng rừng sản xuất (Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005). Do vậy,
để đưa cây Xoan đào trở thành loài cây chủ lực trong phục hồi rừng và trồng
rừng gỗ lớn cần phải có những hiểu biết về đặc điểm sinh thái, lâm học đến tái
sinh tự nhiên làm cơ sở khoa học trong bảo tồn và phát triển loài.


Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài:“Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
va phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) tại huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được đặc điểm lâm học và phân bố cây Xoan đào (Pygeum
arboreum Endl.) tại khu vực nghiên cứu, phục vụ công tác bảo tồn loài.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
Bổ sung các thông tin khoa học về loài Xoan đào làm cơ sở khoa học
cho công tác bảo tồn, nhân giống, gây trồng làm giàu rừng và phát triển loài
trong tự nhiên.


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới

1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một
giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các
mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong
hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái. Cấu trúc rừng bao gồm cấu
trúc sinh thái, cấu trúc hinh thái và cấu trúc tuổi.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards, P. W. (1952)[33], Baur,G. N. (1964) [34], Odum, E. P. (1971) [37]
tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả
định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Baur, G. N. (1964) [34] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói
chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu
nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa
tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh cải thiện
rừng.
Odum, P. (1971) [37] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học.
Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot,R. (1965) [30], Plaudy,J. (1987)
[32] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các
cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống,
tầng phiến.
Richards, P. W. (1959, 1968, 1970) [33] đã phân biệt tổ thành rừng mưa
nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài


cây đơn giản. Cũng theo tác giả thi rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3

tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ
lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực
vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Schumarcher, F. X. và Coil, T. X. (1960) [39] đã sử dụng hàm Weibull để
mô hình hoá cấu trúc đường kính loài. Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol,
hàm mũ, Peason, Poisson.....cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá
cấu trúc rừng.
Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng
theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái. Cơ sở phân loại theo xu
hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số
đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hướng phân
loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949). Trong nhiều
hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần
xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một
hướng theo ngoại mạo sinh thái.
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô
tả rừng ở trạng thái tĩnh. Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến
đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá
trình phát sinh phát triển của rừng.
Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thế giới
sử dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cả các hệ
sinh thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun 1969, Lamprecht
H.,
1969)
[36].
Phương pháp phân tích lâm sinh đã được Lamprecht, H. (1969) [36] mô tả
chi tiết. Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vận dụng
phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới cho phân tích
cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt (1994) [35].



Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc
thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây
con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng,
lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai trò lịch
sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vi vậy, tái sinh rừng được
hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là
tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thi hiệu quả tái sinh rừng được
xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng
cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1952;
Baur G.N, 1964; Rollet, 1969) [34]. Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong
đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát
những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít
được quan tâm nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của
rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng
ít nhiều đã bị biến đổi Van Steenis, J. (1956) [40] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái
sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài
cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các
cách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu
rừng. Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức
chặt tái sinh. Công trình của Walton, A. B. Bernard, R. C - Wyatt Smith (1950)



[43] với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai; Taylor (1954) [41], Jones (1960)
với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana. Nội dung
hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur, G. N. (1976) [29]
tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng.
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới
đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards,P.W. (1952), Bernard Rollet
(1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã
nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m; 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên
có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson. Ở Châu Phi trên cơ sở các
số liệu thu thập Tayloer (1954) [41], Barnard (1955) xác định số lượng cây tái
sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân
tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á
như Budowski (1956),Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng
nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các
biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới
tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [3].
Lamprecht, H. (1969) [36] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây
trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm
cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng.
Đối với rừng nhiệt đới thi các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm
tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này. Tác giả Baur,G.
N. (1976) [29] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây
con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường
không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái
sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng
vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật



độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường
không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít
được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau
nương rẫy.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi
qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất
mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Những quần thụ
kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh
trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể.
Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thi thảm cỏ có điều kiện
phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn
cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm,
1992) [15].
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) [38] nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và
Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu
đến rừng thành thục. Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ
lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái
sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của
khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ
1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ
số đa dạng loài rất thấp. Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá
trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Long Chun và cộng sự (1993)
đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thi
có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thi có 60 họ, 134 chi, 167 loài.
(dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].



Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên
thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái
sinh tự nhiên ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái
sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài
nguyên rừng một cách bền vững.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc
điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc
kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các
cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình.
Trần Ngũ Phương (1970) [12] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong
đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng.
Ngày nay, hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) [42] được
coi là khung phân loại chung cho TTV trên trái đất. Hệ thống phân loại này dựa
vào cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin chung về sinh thái, địa
lý. Thảm thực vật chia thành 5 lớp quần hệ: 1. Lớp quần hệ rừng kín; 2. Lớp
quần hệ rừng thưa; 3. Lớp quần hệ cây bụi; 4. Lớp quần hệ cây bụi lùn và các
quần xã gần gũi; 5. Lớp quần hệ cây thảo. Trong lớp quần hệ cây bụi chia ra
thành 2 phân lớp: phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh và phân lớp
quần hệ cây bụi chủ yếu rụng lá. Trong mỗi phân lớp này được chia thành nhiều
nhóm quần hệ và quần hệ thảm cây bụi.
Thái Văn Trừng (1978) [20] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh
mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế
sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng
(2000) [21] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại
đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực

vật dựa trên


yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5
nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ).
Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng
phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở lên
gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) [42].
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo
đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn. Đây là quy luật cơ bản nhất
trong các quy luật kết cấu lâm phần. Biết được quy luật phân bố, có thể xác định
được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ sở xác định
trữ lượng lâm phần.
Nguyễn Văn Trương (1983) [19] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã
xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một
cách cơ giới. Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình
Phương (1987) đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường
xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự
phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương
pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây.
Nguyễn Anh Dũng (2000) [5] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm
cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông
Đà - Hoà Binh.Bùi Thế Đồi (2001) [6] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc
điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền
Bắc Việt Nam.
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [14] thử nghiệm phương pháp
nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng,
hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho rằng đa số loài cây có cấu
trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng
thời cấu trúc của loài cũng có những biến động.

Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thi việc mô hình hoá cấu trúc
đường kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng


theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trì nh của các
tác giả như: Đồng Sĩ Hiền (1974) [7] dùng hàm Meyer và hệ đường cong
Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự
nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam. Trần Văn Con
(1991) [4] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng
khộp ở Đăklăk.
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17], thống kê thành phần loài của Vườn
Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có
ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần
và ngành Hạt kín. Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau.
Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn
như: Hoàng thảo tam đảo (Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia
longicaudata), Trà hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum
petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi).
Đặng Kim Vui (2002) [22], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi
sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ
Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất 10 loài, sau đó đến họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Misaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi
họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae),
họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Ngoài ra, cấu
trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất
nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất 75% -80%, chủ
yếu tập trung vào các loài cây bụi.
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng
việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu

cũng như trong sản xuất. Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các


phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các
đặc điểm của đối tượng cần quan tâm.
1.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên
cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái,
Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình....các kết quả nghiên
cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [18] tổng kết và kết luận về
tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, hiện
tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không
mang tính chất chu kỳ. Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ có
h < 20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác. Những
loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và
chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm
chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau
trong rừng tự nhiên.
Trần Ngũ Phương (1970) [12] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa
mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con
người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thi kết quả cuối cùng
là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã
tự nó phát triển lại thi sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần
lên những dạng thực bi cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối
cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”.
Phùng Ngọc Lan (1986) [9] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai
thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu
Lũng, Lạng Sơn. Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng
đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm.
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái

sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu,
Yên Bái và Lạng Sơn). Nguyễn Duy Chuyên (1988) [2] đã khái quát đặc điểm


phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý
thuyết. Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản
xuất nguyên liệu.
Vũ Tiến Hinh (1991) [8] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại
Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số
tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt
chẽ với nhau. Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thi hệ số tổ
thành ở tầng tái sinh cũng vậy.
Nguyễn Ngọc Lung (1993) [10] và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh
nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm chắc
các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực vật. Qua
đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi đúng hướng,
quá trình này được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền
Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [16] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về
lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi. Qua đó, tác giả kết
luận: rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn
nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang
trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích
rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa
sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá
kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ.
Khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường
xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu, Nghệ An. Nguyễn Duy Chuyên (1995) [3] đã
nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố tổ thành cây tái sinh, số
lượng cây tái sinh. Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái sinh cho

toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên
có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm.


Thái Văn Trừng (2000) [20] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt
Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá
trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện khác của môi
trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thi tổ hợp các
loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách
tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương
thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường.
Trần Ngũ Phương (2000) [13] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng
tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng
tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già
cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thi tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một
tầng thi trong khi tầng trên già cỗi, một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay
thế sau khi bị tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện
thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một
lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung
gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”.
1.3. Những nghiên cứu về cây Xoan đào trong và ngoài nước
1.3.1. Trên thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về loài
Xoan đào ở một số lĩnh vực khác nhau. Có thể điểm qua một số công trình của
các tác giả như sau:
Về phân loại và thực vật học, đặc điểm hình thái giải phẫu thực vật có
công trình nghiên cứu của các tác giả Pakkad, (1997) [45], Kalkman, C. (1998)
[44], Bibian Michael Diway and Paul P.K. Chai, (2004) [46], Lim S.C. and Gan
K.S.,(2009) [47], [54], [55], [56], [57], …. Kết quả đã chỉ ra rằng, Xoan đào
có tên khoa học là(Pygeum arboreum Endl) tên đồng nghĩa (Prunus arborea),

tên khác theo tiếng Thái Lan - Lào May Mactec, thuộc họ Rosaceae.
Trên thế giới Xoan đào phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới như: Lào,
Campuchia, Ấn độ, Pakistan,Chine, Malaysia, Myanmar, Thailan.Xoan đào là


cây gỗ lớn trong điều kiện tự nhiên cây có thể cao tới 40m, đường kính 75cm.
Thân cây hình trụ,thẳng, vỏ mỏng, nhẵn màu xám bạc, bên ngoài vỏ màu xanh lá
cây, dác gỗ màu trắng. Cành non được bao phủ bởi lông mịn dày đặc màu nâu,lá
đơn nguyên hình trứng hoặc elip rộng 2-7cm, dài khoảng 15cm, hai mặt lá đều có
lông. Hoa chùm màu vàng trắng mọc ở nách lá hình chuông chia làm nhiều thùy.
Quả hạch, hình cầu, có lông, đường kính khoảng 0,5cm màu xanh lá cây sau đó
màu đỏ hoặc đen.
Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, phân bố của Xoan đào liên quan đến đất
có một số nghiên cứu của tác giả như:Le Dinh Kha el at (2003) [48], Vu Thi Que
Anh et al (2003) [49], Soedjito (2015) [50],[58], [59],…... kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra rằng, Xoan đào có biên độ sinh thái rộng và trồng trên nhiều loại lập địa
khác nhau. Song những nơi còn tính chất đất rừng cây sinh trưởng và tái sinh
mạnh hơn. Xoan đào là loài cây mọc phân tán (ít khi mọc thành cụm) trong các
rừng nguyên sinh và thứ sinh.Ở Malaysia cho thấy loài Xoan đào thường tồn tại
trong các rừng già thứ sinh có cấu trúc 3 tầng, trong đó Xoan đào thường xuất
hiện trong tầng cao nhất và mọc hỗn giao với các loài khác nhau như:Koopassia
malaccensis, Cratoxylum arborescens, Baccaurea hookeri,…
Kết quả nghiên cứu ở Indonesiađã chỉ ra rằng, Xoan đào là cây ưa sáng,
dễ tái sinh tự nhiên nên Xoan đào có mật độ cao nhất với hệ số tổ thành loài IV
là 27%. Mặc dù theo thời gian phục hồi, mật độ Xoan đào có giảm đi nhưng vẫn
có giá trị IV% cao nhất sau khi rừng phục hồi 30 năm.
Về giátrị sử dụng của gỗ Xoan đào có nghiên cứu của các tác giả như
Kalkman, C. (1998) [44], Lim S. C. and Gan K. S., (2009) [47], Ian Michael
Cohen, (2011) [51], [58], [59],…...cho thấy gỗ Xoan đào được xếp ở nhóm VI,
gỗ bền đẹp có đặc tính cơ lý rất tốt, trọng lượng gỗ trung bình, bề mặt gỗ có màu

đỏ nhạt dễ gia công dùng để đóng đồ nội thất và cao cấp trong gia đình.
1.3.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về loài Xoan đào, trong
đó có các tác giả như: Trần Nguyên Giảng và Nguyễn Đình Hưởng (1977) [23],
Đỗ


Đình Sâm và cộng sự (2002) [24], Thuyễn Thành Vân và Nguyễn Tiên Phong,
(2010) [26], Nguyễn Thị Nhung và cộng sự(2009) [11], Nguyễn Văn Thông,
(2001) [14], Lê Đình Khả và cộng sự, (2006) [25], Vũ Văn Định và cộng sự
(2016) [9], [60], [61],... trong đó tập trung nghiên cứu vào một số lĩnh vực sau:
Nghiên cứu về phạm vi phân bố, đặc điểm hình thái và phân loại thực vật
có các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, (2009)
[11],Vũ Văn Định và cộng sự, (2016) [9], Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên
(2000) [5],….. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Xoan đào có tên thường gọi làXoan
đào hay Mạy thoong (theo dân tộc Tày), tên khoa học là Pygeum
arboreum Endl, thuộc họ Hoa hồng Rosaceae.Xoan đào phân bố chủ yếu trong
thứ sinh ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai, Phú
Thọ, Hòa Bình, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh… và một
số tỉnh của Tây Nguyên.
Xoan đào là cây gỗ lớn cao từ 20 - 25m, thân thẳng tròn,đường kính 40 75cm. Vỏ nhẵn màu tro bạc, cành non phủ đầy lông mịn màu rỉ sắt, có nhiều bi
khổng tròn, màu nâu nhạt, toàn thân có mùi hôi bọ xít.Lá đơn nguyên, phiến lá
dày, hơi nhọn. Hoa chùm mọc ở nách lá, màu trắng vàng, đài hình chuông chia
làm nhiều thùy. Cánh hóa nhỏ, phủ nhiều lông.Xoan đào ra hoa tháng 8-9 quả
chín tháng 11-12, khi chín vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu nâu đậm. Quả
hạch, hình thận, đường kính 2cm. Hạt có màu nâu nhạt, có nhiều dầu thơm.
Về đặc tính sinh thái có nghiên cứu của các tác giả Ngyễn Văn Thông
(1993, 2001) [14], [15], Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2009) [11], Lê Mộng
Chân và Lê Thị Huyên, (2000) [5],….. kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Xoan
đào là cây bản địaphân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh, có mặt hầu

hết ở các tỉnh miền Bắc, sinh trưởng tốt và đây là loài cây khôi phục diện tích
rừng bị suy thoái. Xoan đào là cây ưa sáng trong 2 - 3 năm đầu cần độ tàn che
0,5 - 0,6 mùa ra hoa tháng 5 - 6 quả chín tháng 10 - 12, khả năng tái sinh hạt và
chồi tốt. Xoan đào có biên độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền


×