Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

bÁO CÁO SÁNG KIẾN : MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 56 TUỔI KHÁM PHÁ KHOA HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (95.32 KB, 10 trang )

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi khám phá khoa
học”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn giảng dạy
3. Tác giả:
Họ và tên:
Ngày, tháng, năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm non
Chức vụ, đơn vị công tác: Trường Mầm non Tân Lập - Huyện Vũ Thư Tỉnh Thái Bình
Điện thoại ……………. Email:
Tỷ lệ đóng góp sáng kiến: 100%
4. Đồng tác giả: Không có
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Mầm non Tân Lập – Huyện Vũ Thư – Tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Xã Tân Lập – Huyện Vũ Thư – Tỉnh Thái Bình
Điện thoại: …………………..
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9 năm 2015
II. BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi khám phá khoa
học”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khám phá khoa học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
Con người - từ khi mới sinh ra đã muốn ngắm nhìn thế giới xung quanh, có nhu
cầu khám phá thế giới thông qua các hoạt động. Càng lớn, nhu cầu đó càng tăng
lên. Nhưng vì ban đầu trẻ chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, chưa tự khám
phá được nên người lớn phải giúp đỡ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào
1



các hoạt động. Khi được làm quen với thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích lũy
được kiến thức, kĩ năng về tự nhiên, xã hội, giúp trẻ phát triển đồng bộ về các
mặt như: Đức – Trí - Thể - Mĩ - Lao động. Chính vì vậy, khi đến trường mầm
non không chỉ được chăm sóc tốt mà trẻ còn được làm quen với nhiều môn học
như: Tạo hình, Âm nhạc, văn học, chữ cái.... Trong đó, môn học “Làm quen với
môi trường xung quanh” có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhận thức.
Vì thế, trong chương trình giáo dục mầm non mới, môn học này đã được đổi tên
thành “Khám phá khoa học”. “Khám phá khoa học” nhằm hình thành, phát triển
nhận thức về các sự vật, hiện tượng, giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với thiên
nhiên, với xã hội. Không những thế, thế giới xung quanh mang lại nguồn biểu
tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ. Sinh động là
vậy, thích thú là vậy, và có lẽ chính vì thế mà trẻ luôn có niềm khao khát tìm
hiểu, khám phá về thế giới vô tận ấy.
Là một giáo viên dạy lớp 5 – 6 tuổi, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt
động khám phá khoa học đối với trẻ trong giai đoạn này. Song trên thực tế:
- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phòng học chật hẹp, đồ dùng phục vụ tiết dạy
còn rất hạn chế như: những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật ...
- Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn, đồ chơi của trẻ cũng rất ít, thiếu
những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát .
- Góc tự nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú.
- Vốn hiểu biết về môi trường tự nhiên, xã hội còn mức độ .
Chính vì vậy, tôi thấy mình cần phải tìm ra biện pháp tối ưu nhất để giúp trẻ
khám phá khoa học, đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài. “Một số biện pháp

giúp trẻ 5 – 6 tuổi khám phá khoa học”.
* Mục đích của giải pháp:
Khi ghiên cứu đề tài tôi mong muốn nhằm mục đích:
- Hình thành và phát triển ở trẻ các kỹ năng quan sát, tư duy, phân tích, tổng
hợp, khái quát…


2


- Cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết từ môi trường tự nhiên(cỏ cây, hoa lá…) đến
môi trường xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội , mối quan hệ của con
người với nhau), và hiểu biết về chính bản thân mình.
*Nội dung của giải pháp:
Biện pháp 1: Nghiên cứu tiết dạy, soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng.

Để giúp trẻ yêu thích và khám phá khoa học một cách hiệu quả, việc đầu tiên
tôi luôn xác định rõ mục đích - yêu cầu, sau đó tìm ra biện pháp tối ưu để có thể
mang nội dung cần khám phá đến trẻ một cách đầy đủ, nhẹ nhàng, và tự nhiên
nhất.
Bên cạnh đó, đối với mỗi hoạt động khám phá, nếu thiếu đồ dùng trực quan
cũng giống như “ Bác nông quên cày” vậy. Trong khi đồ dùng do nhà trường
trang bị còn quá nghèo nàn, các dụng cụ cho trẻ làm thí nghiệm, không gian để
trẻ thực hành còn chật hẹp…Trước yêu cầu thực tế, tôi đã đặt ra cho mình kế
hoạch làm đồ dùng đồ chơi chơi từ các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương:
Ví dụ:
- Từ các sợi rơm bện thành các con tôm, hay từ các vải vụn tạo ra các con vật, quấn
các loại cây…
- Để giúp trẻ làm các thí nghiệm tôi sưu tầm các hòn bi, hòn sỏi, các miếng gỗ,
các ống thổi, các màu nước.
Ngoài ra, bằng công tác xã hội hoá lớp tôi đã có thêm được rất nhiều cây ăn
quả, chậu cây cảnh để trẻ quan sát… Sau một thời gian làm đồ dùng đồ chơi, công
tác xã hội hóa giáo dục đến nay, lớp tôi đã có thêm nhiều các đồ dùng đồ chơi
phong phú về chủng loại. Có đồ dùng đồ chơi đưa vào sử dụng trong các tiết học
đã giúp trẻ được quan sát, tri giác các đồ vật một cách trực tiếp từ đó trẻ hiểu,
quan sát tốt, tìm rất nhanh các vật mẫu mà cô đưa ra, so sánh và phân loại rõ

ràng, ngôn ngữ phát triển tốt, tư duy của trẻ nhanh nhậy và chính xác hơn…
Biện pháp 2: Xây dựng môi trường gây hứng thú cho trẻ.
Việc xây dựng môi trường học và vui chơi cho trẻ là phương tiện, điều kiện
giúp trẻ hình thành các kỹ năng quan sát, phân tích, và những đam mê tìm hiểu
khám phá. Chính vì vậy, để gây ấn tượng cho trẻ tôi sưu tầm, thiết kế các hình
3


ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu có màu sắc đẹp, bố cục hợp lý và đặt tên thật ngộ
nghĩnh phù hợp với tâm lý của trẻ.
Ví dụ:
* Mảng chủ đề tôi đặt ở vị trí chính dễ thấy, dễ quan sát, vừa tầm với trẻ để trẻ
có thể giúp cô bổ xung cho mảng chủ đề của lớp thêm phong phú.
* Đối với góc chơi “Bé với thiên nhiên”, tôi đã thiết kế những hình ảnh có màu
sắc bắt mắt, nội dung sáng tạo, phù hợp, chứa đựng những nội dung học tập: quá
trình phát triển của cây… giúp trẻ hoạt động khám phá một cách tích cực và
hiệu quả.
* Ở góc chơi khác tôi sắp xếp rất nhiều hình ảnh kích thích tính tư duy tìm hiểu
khám phá cho trẻ như: Bảng pha màu giúp trẻ hiểu biết về cách pha trộn màu
sắc từ hai màu hay ba màu có thể tạo ra màu mà trẻ yêu thích. Hay những hình
ảnh mang tính chất giáo dục giúp trẻ có những thái độ đúng đắn với thiên nhiên
và sự vật xung quanh. Để phát triển toàn diện nhận thức cho trẻ thông qua góc
chơi thì ngoài những hình ảnh mang tính lý thuyết, tôi thường cho trẻ được thực
hành để trẻ được trải nghiệm và giải quyết tình huống một cách sáng tạo.
* Trong những giờ hoạt động góc tôi thường xuyên chuẩn bị chu đáo các đồ
dùng: Giấy màu, tranh ảnh sách báo cũ, sáp màu, màu nước, vải vụn, lá cây…..
để trẻ được chơi và tham gia hoạt động thực tế nhằm đem lại niềm vui cho trẻ,
giúp trẻ phát triển tư duy, óc sáng tạo và quan tâm hơn đến khoa học một cách tự
nhiên.
Với môi trường lớp học được xây dựng sáng tạo, phong phú các bé lớp tôi đã

rất tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá. Qua đó vốn hiểu biết về thế
giới xung quanh tăng lên, phát huy tối đa khả năng tư duy sáng tạo của trẻ.
Chính vì vậy trẻ lớp tôi luôn tò mò, tự đặt câu hỏi về những sự vật, hiện tượng
xung quanh với bạn, cô và người lớn. Các bé còn biết tự tìm hiểu những điều
mình chưa biết.
Biện pháp 3: Lồng ghép tích hợp khám phá khoa học vào các hoạt động
khác.
4


Trong dạy học không có môn học nào, không có phương pháp nào là duy nhất.
Vì vậy, để đạt được hiệu quả giáo dục cần phải phối hợp lồng ghép giữa các lĩnh
vực, các phương pháp, mới có được hiệu quả tốt nhất. Chính vì thế, tôi thường
xuyên lồng ghép khám phá khoa học vào trong các môn học khác một cách khoa
học, hợp lý.
Ví dụ: Trong hoạt động âm nhạc trẻ học bài hát “Cá vàng bơi”
Tôi cho trẻ quan sát bức tranh (chậu cá thật) về những chú cá vàng đáng yêu
sau đó hỏi trẻ:
+ Đây là cá gì? Nêu các đặc điểm của chúng?
+ Chúng thường được nuôi ở đâu? Cá vàng ăn gì?
+ Nuôi cá vàng để làm gì? Nêu cảm nhận của các con về những chú cá này?
Sau khi trò chuyện, tìm hiểu về những chú cá vàng xong tôi giới thiệu với trẻ
bài hát nói về những chú cá đáng yêu này. Bài hát “Cá vàng bơi”.
Qua tiết học âm nhạc tôi đã giúp trẻ có thêm những hiểu biết về đặc điểm, vai
trò của những con cá vàng. Từ đó, trẻ cảm thấy yêu thích bài hát hơn, hoạt động
khám phá trở nên hứng thú và sôi nổi hơn.
Không những thế, với các môn khác như : Toán, tạo hình, văn học… tôi cũng
luôn khéo léo lồng ghép để giúp trẻ đến với hoạt động một cách nhẹ nhàng,
thoải mái hơn.
Biện pháp 4: Tạo điều kiện cho trẻ khám khoa học mọi lúc mọi nơi.

Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng chính là
cho trẻ thường xuyên hoạt động với các sự vật hiện tượng xung quanh một cách
trực tiếp như nhìn, sờ, nắn, ngửi, nếm, nghe, chơi với chúng…Trong quá trình
hoạt động đó, trẻ được bộc lộ mình, được hình thành và phát triển về tâm lý.
Mỗi khi tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, trẻ được lĩnh hội những
kinh nghiệm xã hội của loài người chứa trong các sự vật hiện tượng. Qua đó, trẻ
học được cách gọi tên, cách sử dụng, biết được các đặc điểm thuộc tính, mối
quan hệ của các sự vật hiện tượng, mở rộng vốn từ cho trẻ. Xuất phát từ đặc
điểm trên, trong quá trình giảng dạy hàng ngày, tôi luôn tạo cho trẻ các cơ hội để
trẻ được tiếp xúc với các sự vật hiện tượng một cách tự nhiên thông qua giờ đón
5


trả trẻ, dạo chơi thăm quan, hoạt động ngoài trời và các hoạt động khác bằng các
hình thức khác nhau: quan sát vật thật, tranh ảnh, băng hình, hoặc thăm quan
trưc tiếp. Tôi trò chuyện với trẻ về công viêc của những người thân trong gia
đình: của bố mẹ, anh, chị,… các phương tiện hàng ngày bố mẹ đưa trẻ đến lớp.
Không những thế hàng tháng tôi tổ chức cho trẻ thăm quan các công việc của
bác cấp dưỡng. Ngoài ra, cô và trẻ còn cùng nhau tham gia lao động như: Lau
chùi đồ dùng đồ chơi, chăm sóc góc thiên nhiên, từ đó trẻ biết tác dụng của đất
và nước đối với cây, biết một số việc có ích khác: giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó
khăn… Qua các công việc này trẻ rất hứng thú tham gia.
Ví dụ: Ở chủ điểm thực vật tôi cho trẻ đi thăm quan khu vườn trường tạo cơ
hội cho trẻ được quan sát và tri giác các loại cây, hoa, rau trong vườn trường.
Qua các buổi học tôi đều đặt ra cho trẻ các nhiệm vụ và yêu cầu cho trẻ như:
Phải nêu được tên gọi, đặc điểm, sự giống và khác nhau của các cây, hoa…Khi
giao nhiệm vụ tôi thấy các bé chú ý nhìn, quan sát và sờ, ngửi.. sau đó trả lời các
câu hỏi một cách tích cực và hứng thú.
Mặt khác, tôi luôn tận dụng các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể diền ra hàng ngày
cho trẻ quan sát và nhận biết các hiện tượng thời tiết như: “ nắng, mưa, gió,

mây” và cảnh vật xung quanh trẻ. Như vậy ngay trong các buổi chơi tôi đã tạo
cơ hội cho trẻ tiếp xúc, quan sát, tri giác các sự vật hiện tượng, mối quan hệ của
con người trong xã hộimottj cách tự nhiên. Do đó giờ học của tôi luôn nhẹ
nhàng dù lượng kiến thức mang đến cho trẻ không phải ít.
Biện pháp 5: Sử dụng trò chơi thực nghiệm vào khám phá khoa học.
Câu hát “Xung quanh ta có bao điều kì lạ, mà sao ta biết chẳng bao nhiêu” đã
nói lên thế giới xung quanh ta rất bao la, rộng lớn. Nó bao gồm tất cả sự vật,
hiện tượng, cây cỏ, con vật, các vấn đề về tự nhiên và xã hội. Vậy làm thế nào
để những điều kì lạ ấy sẽ trở nên quen thuộc và luôn hiện hữu trước mỗi chúng
ta. Đây cũng chính là những băn khoăn trăn trở trước mỗi lần cho trẻ khám phá.
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn các trò chơi luôn có tính mở, để hấp dẫn, lôi kéo,
kích thích được khả năng ham muốn được khám phá, tìm tòi của trẻ. Các trò
chơi thực nghiệm được lựa chọn dựa trên cơ sở đặc điểm nhận thức của trẻ lứa
6


tuổi mầm non và phù hợp với các nội dung của môn “Khám phá khoa học” theo
chương trình giáo dục mầm non.
Ví dụ:
*Trò chơi : “Tìm lá cho cây”: Qua trò chơi này giúp trẻ nhận biết và phân biệt
được các loại lá cây.
* Thí nghiệm về vật nổi vật chìm dưới nước.
Cho trẻ tự lấy đồ chơi đã chuẩn bị sẵn thả vào chậu nước , và yêu cầu trẻ nhận
xét vật nào chìm? vật nào nổi tại sao ?
Thí nghiệm này giúp trẻ hiểu được những vật có tính chất kim loại như sắt sẽ
chìm những vật nhẹ, mỏng, xốp khó chìm trong nước.
Qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, các thao tác tư duy: so sánh, tổng hợp, khái
quát, phân tích, óc phán đoán, khả năng suy luận của trẻ cũng được phát triển.
Ngoài ra trẻ được trải nghiệm và tự bản thân trẻ có thể dễ dàng nhận được các
đặc điểm, mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng xung quanh, tiếp thu các kiến

thức khoa học dễ dàng hơn, vốn kinh nghiệm và vốn từ của trẻ trở nên phong
phú hơn khả năng diễn đạt cũng tốt hơn.
Biện pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh học sinh.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non cũng như sự
giáo dục đồng bộ của gia đình và nhà trường.
Bản thân là một giáo viên đứng lớp 5 – 6 tuổi, ngoài việc tuyên truyền các
chuyên đề nhà trường giao về lớp tôi đã làm tốt công tác tuyên truyền tới các
bậc phụ huynh như: Thường xuyên trao đổi về tình hình sức khỏe, học tập của
trẻ. Đặc biệt qua các giờ đón trả trẻ, tôi đã trao đổi với các bâc phụ huynh về
những đồ dùng đồ chơi mà lớp còn thiếu. Từ đó, huy động các bậc phụ huynh
cùng tham gia đóng góp ủng hộ như: Cây hoa, cây cảnh và một số cây ăn quả để
trồng ở vườn trường và góc thiên nhiên. Ngoài ra có phụ huynh còn ủng hộ cả
những viên nam châm để cô trò chúng tôi cùng làm những thí nghiệm đơn giản.

7


Nhờ có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh mà những giờ hoạt
động khám phá của trẻ trở nên phong phú và hấp dẫn hơn, từ đó tiết học của tôi
đạt được hiệu quả cao hơn.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Các giải pháp trên được triển khai và áp dụng ngay tại lớp của tôi, nó đã
góp phần giúp trẻ học tốt hơn hoạt động khám phá khoa học và có thể áp dụng
cho tất cả trẻ lứa tuổi mầm non, và cũng có thể áp dụng rộng rãi tại một số
trường Mầm non trong toàn huyện.
3.4. Hiệu quả và lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp:
Qua thực hiện một số biện pháp trên tôi đã đạt được kết quả như sau.
- Bản thân tôi linh hoạt, tự tin hơn khi tiến hành hoạt động, bên cạnh đó tôi được
trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật chăm sóc và giảng dạy trẻ.

- Tạo được môi trường học phong phú với nội dung của từng chủ đề, đồ dùng đồ
chơi và trang thiết bị cũng đã được trang bị đầy đủ hấp dẫn hơn.
- Các hoạt động khám phá khoa học không còn tẻ nhạt, khô khan đối với trẻ mà
trẻ tích cực tham gia hoạt động phát huy tính sáng tạo và khả năng tư duy khi
khám phá khoa học cụ thể trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng hoạt động.
- Trẻ có kỹ năng quan sát, so sánh, phân loại tốt, hiểu biết thêm về tự nhiên, xã
hội …
- Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc cho trẻ khám
phá khoa học, để từ đó phối kết hợp với cô giáo tạo điều kiện cho trẻ được khám
phá một cách tích cực, đạt kết quả cao nhất, điều đó cũng đã góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục trẻ trong trường mầm non.
3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:
STT
1
2
3

Họ và tên
Nguyễn Đức An
Phạm Minh Anh
Nguyễn Hải Anh

Năm
sinh
2010
2010
2010

Địa điểm học


Chức danh

Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL

Học sinh
Học sinh
Học sinh
8


4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46

Nguyễn Quang Bách
Nguyễn Xuân Bảo
Trần Xuân Bắc
Nguyễn Đức Cường

Nguyễn Việt Cường
Hoàng Văn Cường
Trần Mạnh Cường
Nguyễn Tiến Dũng
Đặng Việt Dũng
Nguyễn Văn Duy
Trần Quốc Đoàn
Trịnh Thiên Đức
Trần Thị Hồng
Đặng Thu Huyền
Hoàng Thị Huyền
Vũ Văn Hải
Đỗ Mạnh Hùng
Vũ Duy Hưng
Trần Đức Hậu
Trần Sách Hiếu
Trần Ngọc Khoa
Đinh Gia Khánh
Trần Tùng Lâm
Ng. Ngọc Thảo Ly
Vũ Khánh Ly
Đỗ Thị Trà My
Nguyễn Thị Nga
Vũ Thị Tuyết Nhi
Ng. Trần Minh Phương
Trần Minh Quân
Pham Minh Quang
Vũ Duy Minh Tấn
Vũ Duy Tấn
Phạm Văn Tú

Hoàng Thủy Tiên
Nguyễn Võ Bảo Trâm
Ng. T. Phương Thảo
Nguyễn Phương Thảo
Phạm Quỳnh Tú Uyên
Hoàng Hải Yến
Vũ Thị Hải Yến
Trần Thị Vân
Nguyễn Thị Thu Hiền

2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010

2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010
2010

Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL

Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL

Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL
Trường MNTL

Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh

Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
9


47

Đặng Văn Việt
2010
Trường MNTL
3.6. Các thông tin cần được bảo mật: Không có


Học sinh

3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Từ những kết quả đạt được và sau một thời tôi đã áp dụng sáng kiến tôi đã rút
ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân như:
- Nắm vững chuyên môn nghiệp vụ.
- Trong công tác giảng dạy, người giáo viên phải yêu nghề mến trẻ , luôn tìm tòi
các biện pháp mới áp dụng phù hợp, để tạo hứng thú cho trẻ thực hiện các kỹ
năng .
- Cô giáo phải nghiên cứu kỹ nội dung cần cung cấp cho trẻ phù hợp và chính
xác , nhất là áp dụng các hình thức sáng tạo, nâng cao kiến thức cho trẻ vì trẻ rất
thích cái mới (tình tò mò ham hiểu biết).
- Trẻ cần được tiếp xúc, khám phá mọi lúc mọi nơi.
- Chú trọng tuyên truyền phối kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ học sinh và
cộng đồng.
3.8. Tài liệu kèm: Không có
4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền: Tôi xin cam kết
báo cáo sáng kiến này không sao chép hoặc vi phạm bản quyền nào, nếu sai tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng sáng kiến các cấp và trước pháp luật.
Thái Bình, ngày 22 tháng 3 năm 2016
CƠ QUAN ĐƠN VỊ

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

10




×