Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Giải pháp đổi mới nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp chủ nhiệm tại lớp 12b2 trường THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (607.1 KB, 33 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của sáng kiến
1. Về không gian
Giải pháp đổi mới nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát
triển năng lực cho học sinh lớp chủ nhiệm tại lớp 12B2 trường THPT ..., ..., ....
2. Về thời gian:
Giải pháp được nghiên cứu, thực hiện từ tháng 09 năm 2018 đến hết tháng
03 năm 2019.
3. Thực trạng của việc thực hiện vấn đề:
Tiết sinh hoạt lớp, đó là một tiết học có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng
trong phát triển nhà trường, lớp học và đặc biệt là phát triến phẩm chất, năng lực
của cá nhân học sinh. Thế nhưng có một thực tế không thể phủ nhận là tại nhiều
trường học THPT hiện nay thì các tiết sinh hoạt đoàn, sinh hoạt lớp còn bị xem
nhẹ. Mặc dù tiết sinh hoạt (sinh hoạt Đoàn, sinh hoạt hướng nghiệp) có được
xếp trong thời khóa biểu chính khóa như các môn học khác trong tuần học,
nhưng do bộ Giáo dục và Đào tạo không ban hành phân phối chương trình hay
nội dung chương trình cụ thể cho các tiết sinh hoạt, chính vì vậy tùy vào đặc
điểm tình hình riêng tại địa phương, trường lớp mà giáo viên chủ nhiệm
(GVCN) có thể tự xây dự kế hoạch nội dung sinh hoạt riêng cho lớp mình chủ
nhiệm phù hợp với đặc điểm tình hình tại đơn vị mình công tác. Điều này đã dẫn
đến một thực trạng với những cơ sở giáo dục nghiêm khắc và với những giáo
viên tâm huyết những quy định về việc thực hiện nội dung tiết sinh hoạt sẽ được
thực hiện tốt, thưc hiện đúng quy định. Tuy nhiên ngược lại với các đơn vị
trường học quản lí lỏng lẻo, GVCN thiếu trách nhiệm, không tâm huyết với
nghề với công tác chủ nhiệm thì tiết sinh hoạt sẽ không được chú trọng quan tâm
và như vậy tiết sinh hoạt sẽ được tổ chức một cách qua loa, hình thức, chiếu lệ
cho xong. Như vậy thực tế này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới nền nếp nhà
trường, lớp học và đặc biệt là ảnh hưởng đến quyền lợi của học sinh, ảnh hưởng
đến sự phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
Hơn thế, hiện nay có những GVCN còn chưa ý thức hết được tầm quan
trọng của các tiết sinh hoạt trong việc phát triển phẩm chất, năng lực đối với HS


nên chưa chú trong đến đổi mới cách thức, hình thức tổ chức cũng như đổi mới
nội dung tiết sinh hoạt. Hầu hết các tiết sinh hoạt được tổ chức theo một công
thức chung đơn điệu, nhàm chán. Chẳng hạn như đến tiết sinh hoạt GVCN nhận
xét, đánh giá hoạt động trong tuần vừa qua; Phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm
(thậm chí là mắng mỏ) những HS vi phạm, khuyết điểm rồi triển khai nội dung
kế hoạch tuần kế tiếp.v.v... Với những tiết sinh hoạt lớp(SHL) kiểu như vậy đã
bộc lộ những nhược điểm nhất định như:
- Chưa tạo được sự hứng thú cho HS đến với tiết sinh hoạt thậm chí còn tạo
cho HS tâm lí mệt mỏi, căng thẳng và có khi còn là áp lực với HS (nhất là những
HS ý thức còn chưa tốt);
1


- Chưa tạo được cho HS một môi trường giao tiếp thuận lợi để các em có
thể được bộc lộ những suy nghĩ, cách cảm nhận hay hành động của bản thân
trong không khí hào hứng của lớp học. Chưa tạo cho HS cơ hội để các em được
phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của bản thân;
- Chưa giúp HS hiểu rằng đối tượng chính, vấn đề chính của tiết sinh hoạt
chính là vấn đề của các em phải giải quyết. Hơn thế nhiều HS có suy nghĩ vấn
đề của tiết sinh hoạt chính là vấn đề của thầy cô giáo chủ nhiệm.
Như vậy với cách thức tổ chức và nội dung sinh hoạt lớp như vậy không
những chưa nâng cao được hiệu quả giáo dục từ tiết sinh hoạt mà đặc biệt còn
chưa đáp ứng được mục tiêu “đổi mới căn bản toàn diện” giáo dục trong giai
đoạn hiện nay.
Vì vậy đối với người GVCN việc nghiên cứu, tìm tòi nhằm tìm ra giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời phát triển năng lực cho HS qua
các tiết sinh hoạt là yêu cầu hết sức cần thiết để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của
đất nước trong giai đoạn mới và trên hết là thực hiện có hiệu quả mục tiêu đổi
mới giáo dục theo Nghị quyết 29, Hội nghị Trung ương 8 khóa XII.
4. Tổng quan những thông tin về vấn đề cần nghiên cứu:

Phát triển năng lực cho HS không chỉ là mục đích chính của các môn học
chính thức trong nhà trường mà còn là một trong những mục tiêu cần hướng tới
trong các tiết sinh hoạt của GVCN. Sinh hoạt đó là một tiết học có thể nói là khá
thoải mái về nội dung và cách thức thực hiện, trong tiết học đó GVCN có thể tự
chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp với tình hình thực tế của
trường, lớp và đặc biệt là phù hợp với đối tượng HS lớp mình chủ nhiệm. Mục
tiêu quan trọng nhất của GVCN đối với lớp mình chủ nhiệm có thể nói là làm
sao để xây dựng được một tập thể lớp vững mạnh toàn diện, một tập thể lớp
không chỉ học tập tốt mà các thành viên trong lớp còn phải luôn có tinh thần
đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Nhưng có lẽ với một giáo viên chủ nhiệm tâm huyết thì như vậy là chưa đủ, bởi
lẽ với mục tiêu như vậy thì chưa đủ đảm bảo cho HS những kĩ năng, năng lực
cần thiết để đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống khi các em ra ngoài xã hội.
Chính vì vậy việc trang bị cho HS những năng lực cơ bản để thích nghi với cuộc
sống xã hội là một yêu cầu cần thiết cần được chú ý của những người làm công
tác chủ nhiệm đặc biệt là đối với HS bậc trung học phổ thông, đây là thế hệ đang
bước rất gần để đến với cuộc sống xã hội rộng lớn bên ngoài.
Hơn thế, đổi mới mục tiêu giáo dục theo định hướng phát triển năng lực
cho HS là một nội dung quan trọng được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tại
Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày 4/11/2013 về “đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục”, Đảng ta đã xác định mục tiêu chính trong giáo dục là đổi mới kiểm tra
đánh giá, đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực HS. Mặc dù được
Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhưng quá trình đổi mới vẫn đang ở giai
đoạn đầu, giai đoạn “thử nghiệm”, “tìm đường” vì vậy mà mỗi người làm công
tác giáo dục nói chung và giáo viên làm công tác chủ nhiệm nói riêng phải
2


không ngừng vận động, nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp,
biện pháp mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục góp phần thực hiện tốt

mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người không chỉ có tri thức mà còn
phải có năng lực để có thể làm, có thể “chung sống”, có thể “khẳng định” được
mình trong cuộc sống đồng thời góp phần xây dựng phát triển đất nước.
II. Lý do chọn đề tài
Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới và thời kì hội nhập toàn cầu
đất nước, yêu cầu đối với giáo dục về đào tạo con người đòi hỏi ngày càng cao,
trách nhiệm của giáo dục trong công cuộc đổi mới đất nước ngày càng nặng nề.
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, giáo dục nước ta đã đạt
được rất nhiều thành tựu, khẳng định được vị trí của con người Việt Nam ta trên
con đường chinh phục tri thức của nhân loại. Bên cạnh những thành tựu đã đạt
được chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế rằng HS của chúng ta có thể rất
giàu có về tri thức nhưng lại bị hạn chế về năng lực sống so với các nước khác
trên thế giới và trong khu vực. Đây là trở ngại chính trên con đường hội nhập,
hợp tác lao động quốc tế của nước ta. Thực trạng trên đòi hỏi giáo dục nước ta
phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của đất nước trên con đường hội nhập kinh tế
quốc tế. Chính vì vậy mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra đường lối đổi mới giáo
dục theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa 12, cụ thể là Nghị quyết số 29
NQ/TW ngày 4/11/2013 về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục” trong đó mục
tiêu chính là đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới PPDH theo hướng phát triển
năng lực HS.
Với cương vị là một giáo viên trực tiếp đứng lớp và đặc biệt là vị trí của
một giáo viên chủ nhiệm, hơn thế lại là GVCN học sinh lớp 12 (đối tượng HS
cuối cấp, chuẩn bị bước ra ngoài xã hội) hơn ai hết tôi ý thức rất rõ về trách
nhiệm của mình trong việc thực hiện mục tiêu đổi “mới căn bản toàn diện giáo
dục” theo định hướng phát triển năng lực hoc sinh ở nơi mình công tác.
Nơi tôi công tác, trường THPT ... một ngôi trường thuộc huyện vùng sâu
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh .... Học sinh trong trường chủ yếu là
đồng bào các dân tộc, các em đến từ các xã xa xôi hẻo lánh, địa bàn cư trú rộng
lại cách xa các trung tâm văn hóa, chính trị lớn; giao thông đi lại khó khăn, việc
giao lưu tiếp súc với bên ngoài còn hết sức hạn chế.

Vì vậy mức độ nhận thức của các em nói chung còn chậm, sự nhanh nhạy
trước cái mới còn hết sức hạn chế, các em không chỉ nghèo nàn về kiến thức
khoa học mà còn thiếu cả những hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội,
đặc biệt là sự hạn chế về các năng lực sống đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hàng
ngày. Các em chưa biết hoặc còn hết sức lúng túng trong cách giải quyết tình
huống mình gặp phải trong cuộc sống, khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao
tiếp, sự mạnh dạn tự tin khi đứng trước đám đông ở nhiều HS còn rất hạn chế...
Để khắc phục hiện tượng trên ngoài việc đổi mới PPDH đối với các môn học
trong nhà trường thì việc nghiên cứu tìm tòi để tìm ra biện pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả của các tiết sinh hoạt đối với lớp chủ nhiệm nhằm đáp ứng nhu
3


cầu của giáo dục trong tình hình mới là hết sức cần thiết . Làm thế nào để có thể
đào tạo ra những HS không chỉ có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải có những
năng lực tối thiểu để các em có thể tự tin khi bước ra ngoài xã hội, đáp ứng được
nhu cầu của xã hội?
Với quan điểm và suy nghĩ như trên, tôi đã không ngừng tìm tòi, suy nghĩ,
đưa ra và áp dụng thử nghiệm sáng kiến: Giải pháp đổi mới nội dung và hình
thức tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp chủ
nhiệm tại lớp 12B2 trường THPT ....
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Về phạm vi áp dụng
- Sáng kiến được áp dụng cho học sinh lớp 12B2 trường THPT ...:
+ Tổng số: 41 học sinh
+ HS nam: 28 học sinh
+ HS nữ: 13 học sinh
+ HS dân tộc: 39 học sinh ( Trong đó: dân tộc Mông : 13 HS, dân tộc Thái:
25 học sinh).
+ HS dân tộc Kinh: 03 học sinh.

2. Về đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu, áp dụng thử nghiệm nội dung: Giải pháp đổi mới nội dung
và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp
chủ nhiệm tại lớp 12B2 trường THPT ... (gồm 41 HS như mục 1.)
IV. Mục đích nghiên cứu
- Giúp HS hình thành và phát triển những kĩ năng, năng lực
sống cần thiết đáp ứng nhu cầu của bản thân trong cuộc sống
hàng ngày và sự phát triển của xã hội trong tình hình mới. Đồng
thời bồi dưỡng thêm cho HS một số kiến thức về các lĩnh vực
của đời sống xã hội qua đó làm phong phú thêm về đời sống tư
tưởng, tình cảm cho HS giúp các em tự hoàn thiện mình hơn,
sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội.
- Giúp GVCN hiểu sâu sắc hơn tầm quan trọng của tiết sinh hoạt trong
công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong cho HS và đặc biệt là khả năng
phát triển năng lực cho HS qua các tiết sinh hoạt.
- Hơn thế tác giả sáng kiến hy vọng góp phần nhỏ bé của
mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nâng
cao chất lượng giờ sinh hoạt lớp nói riêng, từ đó góp phần hiện
thực hóa mục tiêu đổi mới giáo dục của Đảng, Nhà nước ta.
PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng của giải pháp đã biết
4


Qua tình hình thực tế tại đơn vị công tác và tham khảo thông tin về mục
đích, nội dung và cách thức tổ chức giờ sinh hoạt tại các đơn vị lớp học và các
nhà trường phổ thông trung học, bản thân tôi nhận thấy một thực trạng như sau:
Về mục đích: Hầu hết các GVCN đều có quan niệm rằng sinh hoạt là một
tiết học nhằm đạt hai mục đích chính. Thứ nhất là nhằm tổng kết, đánh giá
những hoạt động mà lớp đã làm được và chưa làm được trong tuần trong tháng

vừa qua đồng thời tìm và đưa ra biện pháp phát huy mặt mạnh, khắc phục những
tồn tại, hạn chế của lớp. Thứ hai là đưa ra phương hướng nhiệm vụ kế hoạch của
tuần, tháng tiếp theo. Với mục đích tiết sinh hoạt như trên có thể nhận thấy mục
đích ấy còn có phần hạn chế, chưa xuất phát từ nhu cầu cầu của HS, chưa chú
trọng phát triển HS môt cách toàn diện.
Về nội dung: Phần lớn nội dung các giờ sinh hoạt đã và đang được các
GVCN thực hiện còn nghèo nàn, chưa thực sự gắn với nhu cầu của học sinh.
Các em không thực sự cảm nhận được vị trí chủ thể của mình, vấn đề của chính
mình phải giải quyết để phát triển và hoàn thiện bản thân trong môi trường tập
thể mà chủ yếu đây là vấn đề của thầy, cô. Thực tế nội dung trong các giờ sinh
hoạt thường được GVCN thực hiện hoặc giao cho cán bộ lớp thực hiện xoay
quanh các nội dung như tổng kết, nhận xét, đánh giá những ưu khuyết điểm của
lớp mình chủ nhiệm trong tuần, tháng vừa qua và tìm ra biện pháp để khắc phục
tồn tại hạn chế ấy. Sau nội dung trên, GVCN đưa ra kế hoạch, nhiệm vụ của lớp
trong tuần, tháng kế tiếp. Với nội dung như vậy GVCN mới chú trọng đến nội
dung chính là làm sao để xây dựng được một tập thể tốt, các thành viên trong tập
thể ấy ngoan, thực hiện tốt các nội quy và các kế hoạch của trường lớp mà chưa
quan tâm đến việc phát triển toàn diện cho cá nhân HS, đặc biệt là chưa phát
triển được năng lực HS.
Về hình thức, cách thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp: Thực tế tổ chức các
tiết sinh hoạt của không ít GVCN tại các lớp học ở những địa phương khác nhau
còn đơn điệu, công thức, nhàm chán không gây được hứng thú với học sinh.
Thậm chí giờ sinh hoạt còn là giờ học vô cùng áp lực, căng thẳng đối với một số
học sinh. Với phương pháp truyền thống và với mục đích, nội dung sinh hoạt
(như đã nói ở trên) đa số các GVCN thường lựa chọn hình thức sau để tổ chức
triển khai các nội dung sinh hoạt: Đầu tiên, GVCN hoặc cán bộ lớp nhận xét,
đánh giá những hoạt động của lớp trong tuần, tháng vừa qua. Trong trường hợp
cán bộ lớp là người thực hiện nội dung sinh hoạt lớp thì GVCN sẽ là người nhận
xét đánh giá bổ sung và là người đóng vai trò quyết định việc đưa ra biện pháp
phát huy những mặt đã làm được của lớp đồng thời quyết định hình thức kỉ luật

đối với các trường hợp HS vi phạm nội quy, quy chế trường lớp. Đặc biệt để
khắc phục những tồn tại hạn chế của lớp, của HS có GVCN đã chưa thực sự
quan tâm, tìm hiểu, xem xét hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm để có thể đồng cảm,
chia sẻ, tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn, vi phạm của HS. Thay vào đó
GVCN với quan điểm “Tốt thì được khen, lỗi thì phải phạt” nên đã tiến hành các
hoạt động như tra hỏi, phán xét, kỉ luật HS bằng những hình thức thiếu tính sư
phạm. Đây chính là lí do dẫn đến sự sợ hãi, thậm chí là chán ghét, oán hận của
5


HS đối với GVCN cũng như đối với tiết sinh hoạt.Tiếp theo sau đó, GVCN triển
khai kế hoạch, phương hướng nhiệm vụ của tuần, tháng kế tiếp.Với hình thức tổ
chức như trên sẽ giúp GVCN làm chủ nội dung tiết sinh hoạt, tiến hành các nội
dung hoạt động theo đúng giáo án, đúng kế hoạch đã đặt ra. Đồng thời biện pháp
khắc phục những tồn tại hạn chế mà GVCN đưa ra có thể có tác dụng tốt với
những HS có ý thức. Tuy nhiên hình thức ấy bộc lộ những hạn chế nhất định
như : Chưa lấy HS làm trung tâm, chưa phát huy hết vai trò chủ thể của HS và
chưa phát triển được năng lực cho HS. Vì vậy có thể nói với hình thức tổ chức
tiết sinh hoạt như trên là chưa phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng, Nhà
nước ta về giáo dục HS theo hướng phát triển năng lực người học trong thời kì
mới.
Ngày nay cũng có nhiều GVCN tại nhiều lớp, nhiều trường thuộc các cấp
học, bậc học khác nhau đã tìm tòi, khám phá đổi mới mục đích, nội dung và
hình thức tổ tiết chức sinh hoạt nhằm tạo hứng thú hơn cho HS, giảm áp lực
căng thẳng cho các em khi đến tiết sinh hoạt đồng thời phát triến một số kĩ năng
năng lực cần thiết cho HS qua tiết sinh hoạt. Nhưng hoạt động này chưa nhiều,
chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được mục đích phát
triển của giáo dục nước ta. Vì vậy vấn đề đặt ra đối với giáo dục nói chung và
đặc biệt là GVCN nói riêng phải đổi mới cả về mục đích, nội dung và hình thức
tổ chức tiết sinh hoạt để đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục nước ta trong tình hình

mới - dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
II. Nội dung sáng kiến
1. Bản chất của giải pháp
1.1. Mục đích của giải pháp
Nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế của các giờ sinh hoạt hiện nay
đang được thực hiện tại một số trường, một số điạ phương và làm phong phú
hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình thức tổ chức các giờ sinh hoạt để tạo hứng
thú cho học sinh đối với tiết sinh hoạt. Đặc biệt nhằm phát triển một số năng lực
cần thiết cho HS lớp 12 trước ngưỡng cửa cuộc sống và góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả giờ sinh hoạt trong nhà trường trung học phổ thông, góp phần
hiện thực hóa mục tiêu của giáo dục nước ta trong tình hình mới - dạy học theo
định hướng phát triển năng lực người học. Với những mục đích trên, tôi đã tiến
hành áp dụng thử nghiệm sáng kiến: Giải pháp đổi mới nội dung và hình thức
tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp chủ nhiệm
tại lớp 12B2 trường THPT ... trong quá trình làm công tác chủ nhiệm của mình.
1.2 Nội dung của giải pháp
Để sáng kiến được thực hiện mang lại hiệu quả cao, tôi đã tiến hành các
bước như sau:
Bước 1: Khảo sát năng lực thực tế cần phát triển cho học sinh

6


Trước khi khảo sát, người thực hiện khảo sát cần hiểu rõ bản chất khái
niệm năng lực để có những nhận thức đúng đắn về việc phát triển năng lực cho
HS.
Theo phó giáo sư - tiến sĩ Dương Thị Kim Oanh của Trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh thì “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả
và trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh
vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở

hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, cũng như sẵn sàng hành động”.
Trong cuốn Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh của Bộ GD & ĐT vụ giáo dục
trung học có viết: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và
có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân...
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao
động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua hoạt động của cá nhân
nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản
mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung
cốt lõi”. Theo quan niệm đó thì năng lực này bao gồm: Năng lực làm chủ và
phát triển bản thân (Năng lực tự học, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL
quản lí bản thân); Năng lực xã hội (NL giao tiếp, NL hợp tác); Năng lực công cụ
(NL tính toán, NL sử dụng ngôn ngữ, NL ứng dụng công nghệ thông tin). Còn
trong nội dung tập huấn dạy học theo định hướng phát triển năng lực năm 2017
của Bộ GD&ĐT, Vụ trưởng Vụ trung học phổ thông có nói: Dạy học theo định
hướng hướng phát triển năng lực tức là dạy cho học sinh biết các sử dụng kiến
thức kĩ năng đã được học trong nhà trường vào giải quyết các tình huống, vấn đề
trong cuộc sống.
Từ sự nhận thức đúng đắn về đặc điểm bản chất của năng lực cũng như
mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh của Bộ GD & ĐT trong những năm
gần đây, tôi tiến hành khảo sát năng lực vốn có của HS lớp 12B2 do tôi chủ
nhiệm để từ đó có biện pháp phát triển năng lực cho HS một cách hợp lí.
Để nắm bắt đặc điểm tình hình năng lực vốn có của HS trong lớp mình chủ
nhiệm, tôi đã tiến hành phát phiếu khảo sát với nội dung trả lời một số câu hỏi
trắc nghiệm và câu hỏi xử lí tình huống diễn ra trong đời sống hàng ngày và
trong một số lĩnh vực khác (phụ lục 1). Kết quả khảo sát mà tôi thu được như
sau:

Bảng 1.1

7


SS
Bạo
dạn
linh
hoạt

41

SL
07

%
17

Các năng lực có thể phát triển qua tiết sinh hoạt
NL giao tiếp
NL sử dụng ngôn ngữ
NL giải quyết vấn đề
Chưa
Nhút
Phong
Chưa
Hạn chế
Linh
Chưa rõ
Chưa biết
thật bạo

nhát, e
phú, linh thật
hoạt,
ràng.
cách giải
dạn, linh
ngại,
hoạt
phong
thấu
Chưa
quyết
hoạt
lúng túng
phú, linh
đáo
triệt để
hoạt
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
SL % SL %
SL %
22 53,7 12 29,3 08 19,5 22 53,7 11 26,8 07 17 26 63,5 08 19,5

Bảng 1.2
SS


Các năng lực có thể phát triển qua tiết sinh hoạt
NL thu thập thông tin
NL sử dụng công nghệ thông tin

NL hợp tác

41

Sẵn sàng
hợp tác

Ngại hợp
tác

Không
hợp tác

SL
15

SL
26

SL
0

%
36,6

%

64,6

%
0

Linh
hoạt,
phong
phú, có
chọn lọc
SL
10

%
24,3

Chưa
thật
phong
phú,
chưa
thật linh
hoạt
SL %
23 56,1

Hạn chế

SL
08


%
19,5

Thành
thạo

SL
08

%
19,5

Chưa
thật
thành
thạo

SL
33

%
80,5

Chưa
biết
cách sử
dụng

SL

0

%
0

Bằng cách khảo sát như trên đã giúp tôi nắm bắt được tình hình thực tế về
năng lực của HS lớp tôi chủ nhiệm. Qua kết quả khảo sát trên bảng thống kê, tôi
nhận thấy HS của mình còn rất hạn chế về các năng lực như: NL giao tiếp, NL
sử dụng ngôn ngữ, NL giải quyết vấn đề,...Từ thực tế trên, tôi thiết nghĩ cần phải
có kế hoạch tổ chức các hoạt động để phát triển năng lực cho phải trong cuộc
sống. Với suy nghĩ như vậy, tôi thấy giờ sinh hoạt là một trong những giờ học
rất phù hợp với mục đích đó.
Bước 2: Xác định những nguyên tắc cơ bản của việc đổi mới nội dung
và hình thức tiết sinh hoạt.
Để quá trình đổi mới thành công, đổi mới nhưng vẫn phải đảm bảo kế
hoạch giáo dục chung của nhà trường, GVCN cần phải xác định rõ ràng những
nguyên tắc của việc đổi mới. Với mục tiêu như trên, tôi xác định các nguyên tắc
đổi mới nội dung và hình thức tiết sinh hoạt như sau:
- Bám sát mục tiêu giáo dục và đặc điểm tình hình thực tế của nhà trường,
lớp;
- Ưu tiên hàng đầu cho việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống và ý thức
tập thể;
- Nội dung và hình thức sinh hoạt phải phù hợp với đặc điểm đối tượng học
sinh, chú trọng quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh.
- Bên cạnh đó cần kết hợp giáo dục rèn luyện kỹ năng sống và phát triển
năng lực cho HS. Phát huy tối đa tính chủ động, tích cực của HS.
- Đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện tổ chức
hoạt động của nhà trường.
Bước 3: Xây dựng kế hoạch đổi mới nội dung và hình thức tổ chức giờ
sinh hoạt

8


1. Xác định mục tiêu cần đạt đối với tiết sinh hoạt
Trước khi xây dựng kế hoạch đổi mới nội dung và hình thức tiết sinh hoạt,
GVCN cần xác định mục tiêu cần đạt đối với một tiết sinh hoạt nói chung để
làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, hình thức sinh hoạt.
Để một môn học, một bài học, một giờ học bất kì nào đó đạt được hiệu quả
cao thì bao giờ giáo viên cũng phải xác định được mục tiêu cần đạt tới của môn
học, bài học hay giờ học đó. Đối với giờ sinh hoạt lớp cũng vậy, để đạt được
hiệu quả như mong muốn thì bao giờ người GVCN cũng phải xác định rõ mục
đích chính của giờ sinh hoạt ấy là gì, từ đó GVCN chọn nội dung, hình thức tổ
chức sinh hoạt sao cho có thể đạt hiệu quả cao nhất.
Giờ sinh hoạt có thể nói là một giờ học đặc biệt không giống với bất kì giờ
học, môn học nào khác trong nhà trường phổ thông, đây là giờ học không có
sách giáo khoa, không có phân phối chương trình mà nội dung giờ sinh hoạt của
lớp là tùy vào tình hình thực tế của nhà trường, lớp học mà GVCN lựa chọn sao
cho phù hợp. Do vậy mà việc xác định mục tiêu giờ học ở các lớp học, trường
học trong cùng thời gian cũng không giống nhau, nhưng về cơ bản một giờ sinh
hoạt lớp cần đạt được những mục tiêu sau:
Về kiến thức: Mỗi tiết sinh hoạt cần giúp học sinh nhận ra được những ưu
điểm, những tồn tại hạn chế của bản thân và của lớp trong tuần vừa qua. Có kế
hoạch, phương pháp phát huy những ưu điểm và có biện pháp khắc phục những
tồn tại một cách đúng đắn, có hiệu quả. Đồng thời học sinh cần nắm được kế
hoạch động của trường, của các đoàn thể và của lớp trong tuần tiếp theo. Bên
cạnh đó tiết sinh hoạt còn giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về các lĩnh
vực của đời sống.
Về kĩ năng: Mỗi tiết sinh hoạt cần rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng
cơ bản như: Kĩ năng lắng nghe, kĩ năng xử lí tình huống, kĩ năng sử dụng ngôn
ngữ trong giao tiếp, kĩ năng tổ chức, điều khiển một hoạt động sinh hoạt tập thể,

sinh hoạt ngoại khoá...
Về thái độ: Các tiết sinh hoạt cần giáo dục cho học sinh những tư tưởng
tình cảm tốt đẹp như: Có tinh thần tự giác, có ý thức trách nhiệm và tính kỉ luật
cao; Có thái độ tích cực, nghiêm túc trong học tập, rèn luyện; Có ý thức xây
dựng tập thể lớp đoàn kết vững mạnh; Có sự chủ động, sáng tạo trong công việc
hàng ngày và một số tư tưởng, tình cảm tiến bộ khác.
Về năng lực: Tùy vào đặc điểm nội dung, mỗi tiết sinh hoạt sẽ giúp học
sinh phát triển cho HS một số năng lực nhất định như: Năng lực thu thập và xử lí
thông tin và tạo lập văn bản; Năng lực tổ chức các hoạt động; Năng lực sử dụng
ngôn ngữ, năng lực giao tiếp; Năng lực giải quyết tình huống; Năng lực hợp tác
và những năng lực khác.
Có thể nói trong các mục tiêu trên, mục tiêu nào cũng quan trọng và để đạt
được tất cả các mục tiêu đó đòi hỏi GVCN phải không ngừng cố gắng trau dồi
kiến thức, kĩ năng, năng lực và cả kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm.
9


2. Xây dựng kế hoạch đổi mới nội dung và hình thức giờ sinh hoạt lớp:
Để đạt được những mục tiêu cơ bản như đã nói ở trên đặc biệt là để phát
triển năng lực cho HS đối với lớp chủ nhiệm đòi hỏi mỗi GVCN căn cứ vào đặc
điểm tình hình riêng của trường, lớp mình để xây dựng cho bản thân và lớp
mình chủ nhiệm một kế hoạch sinh hoạt lớp cụ thể cho từng học kì và trong cả
năm học. Với lớp tôi chủ nhiệm, do đặc điểm tình hình với những đặc trưng của
địa phương miền núi vùng sâu vùng xa về cơ bản HS ở đây là ngoan nhưng do
điều kiện sống ở xa các trung tâm văn hóa, chính trị xã hội lớn, các em ít có điều
giao lưu tiếp xúc với bên ngoài. Đặc biệt các em là HS lớp 12 sắp ra trường,
đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, vì vậy mà việc phát triển năng lực cho
các em trước những yêu cầu của cuộc sống là điều vô cùng cần thiết. Căn cứ vào
đặc điểm tình hình như trên của lớp mình chủ nhiệm, tôi xây dựng kế hoạch sinh
hoạt cho lớp12B2 do tôi chủ nhiệm với những nội dung và hình thức như sau:

KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÁC
TIẾT SINH HOẠT LỚP 12B2 TRONG NĂM HỌC 2018-2019.
Thời
gian
(Tháng)
8,9/2018

Nội dung

Hình thức
Ghi chú

- Ổn định tổ chức nền nếp - GVCN thực hiện;
lớp;
- Giao nhiệm vụ luân
- Sơ kết đánh giá và triển phiên cho các thành
khai các kế hoạch hoạt động viên trong lớp chuẩn bị
của trường lớp;
nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt.
- Cuộc thi: Tìm hiểu về - Cuộc thi (Thi giữa
truyền
thống
Trường các nhóm - tổ)
THPT ....

10/2018

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;

phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
-Tìm hiểu chủ đề: Tình bạn, - Phỏng vấn trực tiếp;
tình yêu; Giáo dục giới tính (Hoạt động phỏng vấn
và trả lời phỏng vấn;
Sử dụng phương pháp
đóng vai).
10


- Hùng biện

11/2018

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
- Sinh hoạt theo chủ đề - Trải nghiệm sáng tạo
“Tôn sư trọng đạo”
(Gặp gỡ thầy cô giáo một trong những người
đầu tiên công tác tại
trường khi nhà trường
mới thành lập)


12/2018

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
- CĐ: Giáo dục nghề nghiệp - Thu thập thông tin,
+Tìm hiểu các ngành nghề trình chiếu và xem tư
trong xã hội;
liệu
+ HS chia sẻ những hiểu - Phỏng vấn, Đối thoại,
biết và ước mơ nghề nghiệp Thuyết trình
trong tương lai của mình - Trải nghiệm sáng tạo.
với tên gọi: “Ước mơ của
mình”

1,2/2019

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
- CĐ: Giữ gìn và phát huy - Thi giữa các nhóm;

bản sắc văn hóa dân tộc - Thi thuyết trình, biểu
(Tìm hiểu, trao đổi về nét diễn một số nét đặc
đẹp trong văn hóa truyền văn hóa Tây Bắc.
thống các dân tộc Tây Bắc
11


tại ...)
3/2019

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
- CĐ: Sức mạnh tuổi trẻ ...

4/2019

Trải nghiệm sáng tạo
(Gặp gỡ và trao đổi
với một số đoàn viên
thanh niên tiêu biểu
cho tấm gương vượt
khó vươn lên thành
công trong cuộc sống
tại huyện ...)


- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
- Sơ kết đánh giá và triển viên trong lớp chuẩn bị
khai các kế hoạch hoạt động nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
của trường lớp;
-Tổ chức cho HS học tập - Phối hợp với nhà
quy chế thi TNTHPTQG và trường tổ chức thực
hiện.
làm hồ sơ đăng kí dự thi.
- CĐ: Phương pháp học tập

- Mời học sinh lớp
khác nhưng cùng khối
có thành tích tốt trong
học tập đến chia sẻ
kinh nghiệm;

+ Tìm hiểu, chia sẻ các kinh
nghiệm học tốt các môn của
các cá nhân có thành tích
học tập tốt trong trường,
lớp...;
- Những cá nhân trong
+ Kinh nghiệm ôn thi lớp chia sẻ;
TNTHPTQG;

- Mời GV bộ môn đến
dự sinh hoạt và chia

sẻ.
- GVCN sưu tầm chiếu
những tấm gương có
kinh nghiệm học tập
tốt trên các phương
tiện thông tin đại
chúng;
12


- ...
5/2019

- Ổn định tổ chức nền nếp - Giao nhiệm vụ luân
lớp;
phiên cho các thành
viên trong lớp chuẩn bị
nội dung; Tổ chức điều
khiển giờ sinh hoạt
- Sơ kết đánh giá và triển - GVCN thực hiện
khai các kế hoạch hoạt động
của trường lớp;
- Tổng kết các nội dung
hoạt động của lớp trong
năm học 2018-2019.

Với một kế hoạch thực hiện cụ thể như trên GVCN sẽ có cơ sở đánh giá
hiệu quả của việc phát triển năng lực cho HS qua từng thời gian cụ thể. Cũng từ
đây tạo điều kiện cho GVCN có thể điều chỉnh, thay đổi nội dung và hình thức
tổ chức tiết sinh hoạt trong kế hoạch một cách phù hợp để giải pháp đạt hiệu quả

cao nhất có thể.
Bước 4: Áp dụng các giải pháp đổi mới nội dung và hình thức tổ chức
sinh hoạt vào tổ chức các tiết sinh hoạt lớp trong thực tế.
1. Giải pháp “Trao quyền”
Thông thường khi tiến hành sinh hoạt lớp, GVCN sẽ là người chuẩn bị về
nội dung và là người tổ chức điều khiển các hoạt động của tiết sinh hoạt. Với
cách thức tổ chức thực hiện thư vậy HS sẽ là người ngồi nghe một cách hoàn
toàn thụ động, các em không có cơ hội được thể hiện bản thân, không được tham
gia giải quyết vấn đề của chính mình ...Cũng vì vậy mà các em không thấy hứng
thú với tiết sinh hoạt, thậm chí có em còn cảm thấy nặng nề, mệt mỏi.
Để tạo hứng thú cho HS, để HS có cơ hội được thể hiện bản thân, được
phát huy hết vai trò chủ thể của mình với những năng lực vốn có của mình, thì
GVCN sẽ “trao quyền” của mình cho HS để các em được đóng vai trò là người
làm chủ, là người sẽ phải chuẩn bị nội dung và đứng ra tổ chức điều khiển các
hoạt động của tiết sinh hoạt. GVCN chỉ là người dự, người giám sát và nhận xét
bổ sung triển khai nội dung kế hoạch tuần, tháng tiếp theo. Để đảm bảo tất cả
các học sinh trong lớp đều được tham gia vào hoạt động này, GVCN có thể thực
hiện theo hình thức luân phiên thực hiện, mỗi HS sẽ thực hiện theo tổ hoặc theo
danh sách lớp.v.v...
Với giải pháp này không những GVCN tạo điều kiện cho HS được nhìn
nhận, đánh giá về các hoạt động của lớp một cách đầy đủ toàn diện để từ đó các
em ý thức được trách nhiệm của mình đối với tập thể lớp, để các em có ý thức tự
13


tu dưỡng rèn luyện bản thân mà còn giúp các em phát triển những năng lực cơ
bản như: NL sử dụng ngôn ngữ, NL giải quyết tình huống, NL thu thập thông
tin, NL tạo lập văn bản...
2. Giải pháp “Kỉ luật tích cực”
Vấn đề HS vi phạm nội quy trường, lớp là vấn đề nhức nhối đối với nhiều

GVCN. Đây chính là nội dung chính khiến GVCN tốn nhiều thời gian nhất trong
tiết sinh hoạt để tìm biện pháp giáo dục hợp lí mong khắc phục được hiện tượng
này. Có những GVCN vì muốn nhanh chóng khắc phục tình trạng HS vi phạm
trong lớp để không ảnh hưởng thành tích chung của tập thể lớp và của bản thân
nên đã áp dụng những biện pháp xử lí kỉ luật còn “nặng tay” khiến cho những
em HS mắc lỗi cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng thậm chí là chán ghét, sợ sệt mỗi
khi đến tiết sinh hoạt lớp. Thế nhưng hiệu quả giáo dục mang lại chưa được như
GVCN mong muốn, có những HS không những không nhận ra lỗi của bản thân,
hoặc nhận ra nhưng không sửa chữa, không thay đổi, không hợp tác với GVCN
thậm chí còn thể hiện thái độ chống đối, bất cần... Để khắc phục được hiện
tượng này đòi hỏi GVCN phải có không ngừng trau dồi kiến thức, kĩ năng xử lí
các tình huống sư phạm trong công tác chủ nhiệm. Với kinh nghiệm chủ nhiệm
của bản thân, tôi xin đưa ra giải pháp xử lí hiện tượng HS vi phạm nội quy bằng
hình thức sau:
Trước hết GVCN hoặc người điều khiển tiết sinh hoạt hãy tạo điều kiện, cơ
hội cho HS có khuyết điểm tự nhận thức về bản thân bằng những câu hỏi nhẹ
nhàng, tinh tế như: Mời một hoặc một số HS vi phạm nội quy trường lớp lên
tham gia vào hoạt động đối thoại với người điều hành tiết sinh hoạt. Người điều
hành có thể dẫn dắt đặt ra cho các bạn ấy những câu hỏi xoay quanh thành tích
của lớp và nguyên nhân kết quả ấy, chẳng hạn như “Bạn (các bạn) có suy nghĩ
như thế nào về kết quả của lớp mình trong tuần vừa qua?”,...người điều hành
dẫn dắt cuộc đối thoại để đi đến “Lý do tại sao lớp ta lại chỉ được kết quả như
trên?”. Cách tiến hành như vậy sẽ giúp người có khuyết điểm tự nhận ra lỗi của
bản thân và hậu quả của hành vi khuyết điểm ấy với tập thể lớp. Khi người mắc
khuyết điểm đã nhận ra lỗi của bản thân mình, tùy hoàn cảnh thực tế, mức độ vi
phạm mà người điều hành có thể cho bạn (các bạn) chọn hình thức kỉ luật nào
đó vừa mang ý nghĩa giáo dục cao nhưng cũng không làm tổn thương lòng tự
trọng của HS. Chẳng hạn như các bạn sẽ phải biểu diễn một loại hình nghệ
thuật theo yêu cầu của các bạn trong lớp... Tuy nhiên GVCN cũng như người
điều khiển tiết sinh hoạt cần tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân dẫn đến những tồn tại,

khuyết điểm của HS trong lớp. Tùy hoàn cảnh mà có hình thức xử lí phù hợp
tránh tình trạng máy móc “có lỗi phải phạt”. Trong trường hợp HS có lí do đặc
biệt mà dẫn đến việc vi phạm làm ảnh hưởng đến lớp, thầy cô thì GVCN cần tìm
hiểu và tìm cách giúp đỡ.
Bằng hình thức như trên GVCN không chỉ tạo hứng thú cho HS đến với tiết
sinh hoạt mà còn giúp HS cảm thấy được tôn trọng, được quan tâm. Trong qua
hình thức đối thoại còn giúp HS rèn luyện và phát triển năng lực giao tiếp, NL
sử dụng ngôn ngữ...từ đó nâng cao kết quả giáo dục của lớp chủ nhiệm.
14


3. Giải pháp “sinh hoạt theo chủ đề”
Hiện nay tại nhiều trường, lớp học bậc THPT phần lớn nội dung giờ sinh
hoạt lớp còn nghèo nàn đơn điệu, chưa thực sự gắn với nhu cầu của học sinh,
chưa tạ được sự hứng thú với HS. Hơn thế, trong xu thế phát triển chung của đất
nước ta giai đoạn hiện nay HS ngoài việc học các môn văn hóa trong nhà hội,
đặc biệt các em phải có những năng lực cơ bản để đáp ứng tốt yêu cầu của cuộc
sống. Đào tạo ra những con người “vừa hồng vừa chuyên” chính là mục tiêu,
nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục nước ta nhằm thực hiện chủ trương của
Đảng , Nhà nước tại Nghị quyết 29 Hội nghị Trung ương 8 khóa 12 về “Đổi mới
căn bản toàn diện giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.
Đối với tiết sinh hoạt - tiết học với đặc thù riêng (không giống bất kì nội
dung của tiết học nào) để có thể đáp ứng được nhu cầu của tình hình mới thì
GVCN cần phải chủ động đổi mới, bổ sung thêm các nội dung phù hợp cho giờ
sinh hoạt với lớp mình chủ nhiệm theo hướng lấy HS làm trung tâm và phát triển
năng lực HS. Cụ thể như bên cạnh các nội dung sinh hoạt truyền thống như sơ
kết, tổng kết các hoạt động hay triển khai phương hướng nhiệm vụ tuần, tháng
kế tiếp, GVCN thể làm phong phú nội dung và hình thức tiết sinh hoạt bằng
cách bổ sung thêm các nội dung và hình thức tổ chức khác vào tiết sinh hoạt như
sinh hoạt theo chủ đề. Cụ thể :

- Trước hết, GVCN bổ sung vào nội dung sinh hoạt lớp của mình các nội
dung khác như: Tìm hiểu về truyền thống văn hóa các dân tộc; Tìm hiểu các
ngành nghề; Chia sẻ ước mơ, kinh nghiệm học tập; Tìm hiểu về truyền thống
của nhà trường; Tình bạn - tình yêu, giáo dục giới tính; Tuyên truyền giáo dục
pháp luật, an toàn giao thông; Gặp gỡ trao đổi những nhân vật có tiêu biểu trong
các lĩnh vực; các nội dung trải nghiệm sáng tạo; ...Với nội dung sinh hoạt theo
chủ đề như trên không chỉ giúp HS có thêm những hiểu biết nhất định về các
lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn giúp phát triển cho HS một số năng lực như
năng lực thu thập thông tin, năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, năng lực
xử lí tình huống ...
- Sau khi đã bổ sung các nội dung vào tiết sinh hoạt GVCN tổ chức cho
HS thực hiện các nội dung đó theo các hình thức: Giao nhiệm vụ cho nhóm tìm
nội dung chủ đề ở nhà và báo cáo kết thực hiện vào tiết sinh hoạt sau. Cùng với
hình thức hoạt động nhóm, GVCN có thể tổ chức theo hình thức hoạt động cá
nhân và báo cáo kết quả thực hiện bằng hình thức đối thoại trao đổi để cùng
nhau học tập hoặc hình thức phỏng vấn và trả lời phỏng vấn.v.v...
Với giải pháp này HS không chỉ được bồi dưỡng thêm các kiến thức về mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn là cơ hội để rèn luyện và phát triển cho các
em những năng lực cơ bản như: Năng lực thu thập thông tin, NL hợp tác, NL
giải quyết tình huống, NL giao tiếp...
4. Giải pháp kết hợp lồng ghép sinh hoạt lớp với tổ chức các cuộc thi.
Nhằm làm phong phú thêm nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt đồng
thời để tạo hứng thú cho HS, nâng cao chất lượng hiệu quả giờ sinh hoạt và đặc
15


biệt là phát triển năng lực cho HS, GVCN có thể tổ chức cho HS các cuộc thi
giữa các tổ, các nhóm và các cá nhân trong lớp.Tùy từng nội dung trong tiết sinh
hoạt mà GVCN đưa ra hình thức tổ chức cuộc thi phù hợp. Cụ thể:
Với giải pháp “trao quyền” chuẩn bị nội dung và tổ chức điều khiển tiết sinh

hoạt cho HS, GVCN xây dựng tiêu chí và cho tất cả mọi HS dựa vào tiêu chí
bình bầu, đánh giá cá nhân xuất sắc nhất theo tháng. (Tất cả các hoạt động điều
khiển tổ chức tiết sinh hoạt của các cá nhân đều được quay video và đưa lên
nhóm kín của lớp để lưu giữ và làm cơ sở cho các thành viên trong đánh giá,
chấm điểm. GVCN là người quyết định cuối cùng đối với người đạt giải).
Với sinh hoạt nội dung sinh hoạt theo chủ đề, sau khi giao nhiệm vụ cho các
nhóm và cho các nhóm thi với nhau. GVCN sẽ cho mỗi nhóm một thành viên
làm giám khảo cùng với GVCN chấm sản phẩm của tất cả các nhóm với những
tiêu chí chấm điểm cụ thể đã được GVCN xây dựng và đưa vào thể lệ cuộc thi.
Bằng hình thức này sẽ tạo hứng thú hơn với HS và đặc biệt khích lệ HS có trách
nhiệm hơn với nhiệm vụ được giao góp phần nâng cao hiêụ quả tiết sinh hoạt.
Hơn thế đây sẽ là một trong những giải pháp phát huy triệt để năng lực HS.
Bước 5: Đánh giá kết quả của qúa trình đổi mới nội dung và hình thức
sinh hoạt:
Để biết được việc đổi mới nội dung và hình thức tiết sinh hoạt có đạt được
hiệu quả như mong muốn không, GVCN cần có hoạt động đánh giá kết quả để
thấy được những ưu điểm và những tồn tại hạn chế từ đó có biện pháp khắc
phục.
Để đánh giá được kết quả một cách chính xác, GVCN cần đưa ra các tiêu
chí đánh giá cụ thể dựa trên mục tiêu tiết sinh hoạt đã xác định phần “ Mục tiêu
cần đạt” trong mỗi tiết sinh hoạt(phụ lục 2). Cụ thể như:
Về kiến thức: HS đã nắm được những ưu điểm, những tồn tại hạn chế của
bản thân và của lớp trong tuần vừa qua chưa? Có kế hoạch, phương pháp phát
huy những ưu điểm và có biện pháp khắc phục những tồn tại một cách đúng đắn,
có hiệu quả chưa? HS đã nắm được kế hoạch động của trường, của các đoàn thể
và của lớp trong tuần tới chưa? v.v...
Về kĩ năng: HS đã rèn luyện cho mình được tính kiên trì, tự giác, chủ
động, sáng tạo trong các hoạt động chưa? Các em đã biết cách tổ chức, điều
khiển một hoạt động sinh hoạt tập thể, sinh hoạt ngoại khoá chưa? v.v...
Về thái độ: HS đã có thái độ tích cực, nghiêm túc trong học tập rèn luyện

chưa? Các em đã có ý thưc xây dựng tập thể lớp đoàn kết vững mạnh chưa?...
Về phát triển năng lực: Tiết sinh hoạt đó đã phát triển cho HS được những
năng lực gì?
Việc đo lường đánh giá kết quả thực hiện đổi mới nội dung và hình thức
như vậy sẽ giúp GVCN có những điều chỉnh thay đổi cần thiết trong nội dung và
16


hình thức giáo dục HS lớp chủ nhiệm một cách phù hợp mang lại hiệu quả cao
nhất có thể.
Tóm lại với việc đổi mới nội dung và hình thức giờ sinh hoạt không chỉ
nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt, tránh được những áp lực cho HS mỗi khi đến
giờ sinh hoạt mà còn tạo ra mối quan hệ gần gũi giữa GV và HS, giữa các cá
nhân với tập thể và đặc biệt hơn thế là góp phần phát triển năng lực cần thiết cho
HS.
Bằng hình thức tổ chức các giờ sinh hoạt như trên, sáng kiến đã mang lại
những hiệu quả đáng ghi nhận không chỉ trong việc ổn định nền nếp xây dựng
tập thể lớp tốt mà còn giúp HS phát triển các năng lực cần thiết. Điều này được
chứng minh qua so sánh hai bảng số liệu khảo sát năng lực trước và sau khi áp
dụng sáng kiến như sau:
* Trước khi áp dụng giải pháp (qua khảo sát): Bảng 1(Bảng 1.1 và 1.2)Mục 1
* Sau khi áp dụng giải pháp:
Bảng 2.1
SS
NL giao tiếp
Chưa
thật bạo
dạn, linh
hoạt


Bạo
dạn
linh
hoạt

41

SL
25

%
61

SL
15

%
36,6

Các năng lực có thể phát triển qua tiết sinh hoạt
NL sử dụng ngôn ngữ
NL giải quyết vấn đề
Nhút
Phong
Chưa
Hạn chế Linh
Chưa rõ
Chưa
nhát, e
phú, linh

thật
hoạt
ràng.
biết cách
ngại,
hoạt
phong
Chưa
giải
lúng
phú, linh
triệt để
quyết
túng
hoạt
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
01 2,4 24 58,5 15 36,6 02 4,9 20 48,8 21 51,2 00 00

Bảng 2.2
SS

Các năng lực có thể phát triển qua tiết sinh hoạt
NL thu thập thông tin
NL sử dụng công nghệ thông tin


NL hợp tác

41

Sẵn sàng
hợp tác

Ngại hợp
tác

Không
hợp tác

Linh
hoạt,
phong
phú, có
chọn lọc

SL

%

SL

%

SL


%

SL

36

87,8

05

12,2

00

00

30

%

Chưa
thật
phong
phú, chưa
thật linh
hoạt
SL %

SL


%

SL

%

SL

%

SL

%

73,2

11

00

00

38

92,7

03

7,3


00

00

26,8

Không
biết
cách

Thành
thạo

Chưa
thật
thành
thạo

Chưa
biết
cách sử
dụng

Nhìn vào hai bảng số liệu có thể thấy sau khi áp sáng kiến phát triển năng
lực cho HS qua các giờ sinh hoạt thì các năng lực HS đã có những chuyển biến
tích cực. Các năng lực như NL giao tiếp tỉ lệ HS chưa bạo dạn, linh hoạt trong
giao tiếp tăng lên đáng kể từ 17 % đã tăng lên 61%; tỉ lệ HS nhút nhát, e ngại
trong giao tiếp giảm xuống từ 29,3% xuống còn 2,4%. Hay trong việc giải quyết
tình huống không còn HS nào là không biết giải quyết tình huống nữa. Theo đó
các năng lực khác như NL hợp tác, NL tự học sáng tạo, NL thu thập thông tin,

NL sử dụng công nghệ thông tin cũng đã đạt được những kết quả khả quan. Từ
63,4% HS rụt rè, ngại hợp tác trước khi thực hiện sáng kiến thì sau khi thực hiện
17


áp dụng sáng kiến giảm xuống còn 12,2% hay có những HS từ chỗ còn lúng
túng trong việc sử dung các phần mềm máy tính thì sau khi áp dụng sáng kiến
các em đã có một số năng lực sử dụng nhất đinh như phần mềm Excel,
Powerpoint,... Các em đã biết cách tìm kiếm và khai thác và xử lí thông tin trên
Internet v.v...
Điều đó chứng tỏ rằng sáng kiến: Giải pháp đổi mới nội dung và hình thức
tổ chức tiết sinh hoạt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp chủ nhiệm tại
lớp 12B2 trường THPT ... đã có hiệu quả.
1.3. Giáo án thực nghiệm
GIÁO ÁN SINH HOẠT LỚP
TUẦN 01THÁNG 12 NĂM HỌC 2018-2019
(Từ 03/12/2018 - 08/12/2018)
I. Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức:
- HS nắm được những ưu điểm, những tồn tại hạn chế của bản thân và của
lớp trong tuần vừa qua. Có kế hoạch, phương pháp phát huy những ưu điểm và
có biện pháp khắc phục những tồn tại một cách đúng đắn, có hiệu quả.
- Nắm được kế hoạch động của trường, của các đoàn thể và của lớp trong
tuần tiếp theo.
- Có những hiểu biết nhất định về các ngành nghề trong xã hội, biết cách
chọn cho mình một ngành nghề phù hợp.
2. Kĩ năng:
- Rèn luyện tính kiên trì, tự giác, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động.
- Rèn kĩ năng tổ chức, điều khiển một hoạt động sinh hoạt tập thể, sinh hoạt
ngoại khoá.

- Biết cách chọn cho mình một ngành nghề phù hợp.
- Rèn kĩ năng xử lí tình huống, kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống.
3. Thái độ: Rèn cho HS:
- Có tinh thần tự giác, có ý thức trách nhiệm và tính kỉ luật cao;
- Có thái độ tích cực, nghiêm túc trong học tập, rèn luyện;
- Có ý thưc xây dựng tập thể lớp đoàn kết vững mạnh;
4. Năng lực: Phát triển cho HS một số năng lực cơ bản:
- Năng lực thu thập và xử lí thông tin và tạo lập văn bản;
- Năng lực tổ chức các hoạt động;
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp;
- Năng lực giải quyết tình huống;
18


- Năng lực hợp tác;
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và một số năng lực khác.
II. Chuẩn bị của GV và HS:
1. Giáo viên
- Sổ chủ nhiệm
- Kế hoạch sinh hoạt tháng, tuần
- Giáo án sinh hoạt lớp
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh
- Máy tính, máy chiếu và các dụng cụ cần thiết khác
2. Học sinh
- Chuẩn bị các nội dung theo sự phân công của GVCN.
III. Nội dung sinh hoạt trên lớp
1. Ổn định lớp (1 phút)
2. Các hoạt động
HĐ của GV và HS


Nội dung cần đạt

Năng lực

Hoạt động 1: Sơ kết I. Sơ kết đánh giá tình hình hoạt
đánh giá tình hình hoạt động của lớp trong tuần vừa qua
động của lớp trong tuần (15 phút) .
vừa qua .
1. Chuẩn bị:
- Bước 1: GVCN phân
công nhiệm vụ cho 02 HS:
1. Tòng Thị Hằng
2. Nguyễn Minh Thuận
+ Theo dõi, giám sát các
hoạt động của lớp:
+ Chuẩn bị nội dung sơ kết
đánh giá tình hình hoạt
động của lớp trong tuần vừa
qua, đề xuất phương hướng
phát huy điểm mạnh và biện
pháp khắc phục những tồn
tại hạn chế

Hình ảnh bản nội dung nhận xét đánh các
mặt hoạt động của lớp trong tuần.

+ Tổ chức điều khiển hoạt
động sơ kết đánh giá tình
19


Năng
lực thu
thập
thông tin
Năng
lực
tạo
lập văn
bản


hình hoạt động của lớp
trong tuần vừa qua.
- Bước 2: HS thực hiện
nhiệm vụ đã được phân
công.
- Bước 3: GV kiểm tra kết
quả thực hiện nhiệm vụ
của HS vào trước tiết sinh
hoạt một ngày, nhận xét,
bổ sung cho HS hoàn
thiện trước khi tổ chức tiết
sinh hoạt.
2. Tiến trình thực
hiện:
- Bước 1: GV mời HS đã - HS: Tòng Thị Hằng lên sơ kết,
được phân công tổ chức, đánh giá về việc thực hiện các hoạt
điều khiển giờ sinh hoạt động trong tuần vừa qua của lớp.
lớp lên làm nhiệm vụ điều
hành, tổ chức giờ sinh

hoạt.
- Bước 2: HS được mời lên
tổ chức, điều khiển giờ
sinh hoạt.
1. Người điều khiển mời đại
diện các tổ lên báo cáo tình
hình hoạt động của trong
tuần qua.
2. Người điển khiển tổ
chức cho cả lớp nhận xét,
bổ sung đánh giá nội dung Hình ảnh em Tòng Thị Hằng đang tổ chức
sơ kết của tổ đã báo cáo.
sơ kết, đánh giá các HĐ của lớp tuần qua.
3. Trên cơ sở các tổ đã đánh Vi deo xem tại đường link :
giá, cả lớp nhận xét và kết />hợp với sự theo dõi chuẩn
bị của cá nhân, người điều
khiển (Tòng Thị Hằng), sơ
kết tình hình hoạt động của
lớp trong tuần qua.
4. Người điều khiển:
+ Thay mặt lớp tuyên
20

Năng
lực giao
tiếp
Năng
lực
sử
dụng

ngôn ngữ


dương, khen thưởng những
bạn có thành tích trong tuần
vừa qua theo nội quy của
lớp.

(Hình ảnh khen thưởng HS có thành tích
trong tuần. Video xem tại đường
link: />
+ Tổ chức cho HS cả lớp
thảo luận đưa ra biện pháp
phát huy điểm mạnh của
lớp và khắc phục những tồn
tại hạn chế.

v=mPR7Wh96y3E

Hình ảnh HS bị kỉ luật vì mắc lỗi theo hình
thức “Kỉ luật tích cực”.Video xem tại
+ Chốt ý kiến về phương đường link:

hướng phấn đấu, biện pháp
khắc phục những tồn tại đã
đề ra cho tuần sau.

/>
- Bước 3: GVCN nhận xét,
bổ sung.

Hoạt động 2: Triển khai
các văn bản, nội dung kế II. Hoạt động 2: Triển khai các văn
bản, nội dung kế hoạch tuần kế
hoạch tuần kế tiếp.
tiếp (10 phút)
- GVCN triển khai:
1. Triển khai văn bản chỉ đạo của cấp
1. Triển khai văn bản chỉ
trên.
đạo của cấp trên.
21

Năng
lực giải
quyết tình
huống.


2. Nhiệm vụ tuần kế tiếp

2. Nhiệm vụ tuần kế tiếp

Hoạt động 3 : Sinh hoạt
theo chủ đề: “ĐỊNH
Hoạt động 3 : Sinh hoạt theo
HƯỚNG
NGHỀ chủ đề: “ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ
NGHIỆP”
NGHIỆP”(15 phút)
NỘI DUNG 1: Tìm hiểu một số

- Bước 1: GV tổ chức cho ngành nghề trong xã hội
HS tìm hiểu về một số 1. Chuẩn bị:
ngành nghề chính trong
Năng
xã hội.
lực hợp
1. Chuẩn bị:
tác
- GV chia lớp thành 6
nhóm, mỗi nhóm 6 - 7 HS,
Năng
mỗi nhóm về nhà tìm hiểu
lực thu
về một nhóm nghề. Cụ thể:
thập
+ Nhóm 1: Khoa học - công
thông tin
nghệ.
+ Nhóm 2: Nông - lâmngư nghiệp
+ Nhóm 3 : Kinh tế - kinh
doanh
+ Nhóm 4 : Dịch vụ xã hội
+ Nhóm 5 : Xây dựng- giao
thông
+ Nhóm 6: Nhóm ngành
năng khiếu
- Bước 2: GV định hướng
để HS chuẩn bị:
+ Trong mỗi nhóm ngành
trên có những ngành cụ thể

nào?
+ Khi chọn học một trong
những ngành trên thì người
học sẽ thi vào trường nào và
thi những nội dung (môn
học) nào?
+ Sau khi học xong người
học sẽ làm công việc gì?
22


(Miêu tả công việc sẽ làm)
+ Nhu cầu của XH với
ngành nghề này như thế nào
+...
* Lưu ý: HS sẽ thực hiện
phần chuẩn bị ở nhà, đã
được GVCN giao từ tiết
sinh hoạt tuần trước đó.
2. Tiến trình thực 2. Tiến trình thực hiện:
hiện (trên lớp)
2.1. Nhóm 1: Nhóm ngành Kĩ thuật
- Bước 1: Đại diện các – Công nghệ
nhóm sẽ xung phong trình
(HS Lò Văn Thủy- Đại diện nhóm
bày sản phẩm đã chuẩn bị
trình bày)
của nhóm mình bằng nhiều
hình thức (tùy vào sự thống * Các ngành cụ thể của nhóm
nhất lựa chọn của mỗi ngành Kĩ thuật – Công nghệ :

nhóm) như: Thuyết trình
bằng lời, bằng sơ đồ trên
giấy
hay
thiết
kế
Powerpoint và chiếu....

Năng
lực
sử
dụng
công
nghệ
thông tin.
Năng
lực giao
tiếp

giải quyết
tình
huống

Hình ảnh HS báo cáo sản phẩm nhóm đã
chuẩn bị ở nhà. Xem video theo đường link
/>
* Điều kiện được đào tạo, các
trường đào tạo và cơ hội việc làm:
Năng
lực

sử
dụng
công
nghệ
23


thông tin.
Năng
lực giao
tiếp

giải quyết
tình
huống

Hình ảnh HS báo cáo sản phẩm nhóm đã
chuẩn bị ở nhà. Xem video theo đường link
/>
2.2 Nhóm 2: Nhóm ngành nông lâm- ngư nghiệp.
(HS Lò Văn Doãn – Đại diện nhóm 2
trình bày)
* * Các ngành cụ thể của nhóm
ngành nông - lâm - ngư nghiệp:

Hình ảnh HS báo cáo sản phẩm nhóm đã
chuẩn bị ở nhà. Xem video theo đường link
/>
* Điều kiện được đào tạo, các
trường đào tạo và cơ hội việc làm

sau đào tạo:

24


- Bước 2: Sau khi đại diện
nhóm đã trình bày xong các
cá nhân trong lớp có thể
chất vấn các nội dung thông
tin mà cá nhân có nhu cầu
tìm hiểu.
* Lưu ý: Các nhóm lần lượt
thực hiện nhiệm vụ được
giao của nhóm mình.

Hình ảnh HS báo cáo sản phẩm nhóm đã

- GVCN là người theo dõi, chuẩn bị ở nhà. Xem video theo đường link
bổ sung, giải đáp thắc mắc />(nếu có).
- GVCN chốt, nhấn mạnh
các nội dung trọng tâm
của tiết sinh hoạt.
Hoạt động 4: Dặn dò
- GVCN tích cực thực hiện
các nội dung trọng tâm
trong kế hoạch tuần sau.
- GVCN phân công nhiệm
vụ cho tiết sinh hoạt tuần
sau:


Hoạt động 4: Dặn dò (4 phút)

+ Theo dõi các hoạt động
của lớp, tổng hợp, đánh giá
sơ kết và tổ chức thực hiện
tiết sinh hoạt tuần 2 tháng
12
(từ ngày 10/12/2019 15/12/2019) là em Quàng
Quang Huy và em Vì Văn
Hưng.
+ Chuyên
HƯỚNG
NGHIỆP”

đề:

“ĐỊNH
NGHỀ

Cụ thể là “Tìm hiểu một số
ngành nghề trong xã hội”,
25


×