Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 81 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI VĂN GIANG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI VĂN GIANG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan luận văn “Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16
tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. ĐINH THỊ MAI. Các nội dung,
thông tin được trình bày trong luận văn là trung thực.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Hà Nội, ngày

tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Lại Văn Giang


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự

BLHS 1999

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

BLHS 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự


CTTP

Cấu thành tội phạm

TAND

Tòa án nhân dân

TNHS

Trách nhiệm hình sự


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH
TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI ........................... 11
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm
người dưới 16 tuổi. ...................................................................................... 11
1.2. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh đối với Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi ............................................................................... 17
1.3. Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với
một số tội khác có liên quan. ....................................................................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI HIẾP
DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG...... 34
2.1. Khái quát tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn từ
năm 2013 – 2017. ........................................................................................ 34
2.2. Thực tiễn định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên
địa bàn tỉnh An Giang. ................................................................................ 40

2.3. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân những khó khăn vướng
mắc trong công tác định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
trên địa bàn tỉnh An Giang .......................................................................... 52
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG........................................................... 59
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của định tội danh đối với Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi ............................................................................... 59
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam ............................... 60
3.3. Một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp
luật hình sự trong định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực thực hiện công
cuộc đổi mới với những chủ trương, chính sách đúng đắn đã thúc đẩy nền
kinh tế - xã hội của nước ta phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được
nâng cao rõ rệt, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội đang được giữ
vững. Cùng với sự phát triển của đất nước, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội
của tỉnh An Giang trong những năm gần đây đã có những bước phát triển
đáng kể trên tất cả các mặt. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
nhiều mặt trái của xã hội cũng song song tồn tại. Xã hội ngày càng phát triển
thì con người ngày càng hoàn thiện hơn về mặt thể chất lẫn tinh thần cũng
như nâng cao hơn các nhu cầu của cá nhân và đặc biệt là nhu cầu tình dục. Do
đó, nếu nhu cầu này không được kiểm soát thì rất dễ đến việc phạm tội, đặc
biệt là tội phạm chọn các đối tượng là người dưới 16 tuổi, bởi vì những nạn
nhân dưới 16 tuổi còn hạn chế về mặt nhận thức, dễ bị dụ dỗ, mua chuộc và

khi đó tội phạm dễ dàng được thực hiện.
Theo báo cáo thống kê của Cục cảnh sát Bộ Công an giai đoạn 5 năm
từ năm 2012 đến năm 2016 có gần 6700 vụ xâm hại trẻ em và hơn 8100 trẻ
em trở thành nạn nhân của các vụ xâm hại. Trong đó có hơn hàng trăm trẻ
dưới 6 tuổi cũng trở thành nạn nhân. Riêng năm 2016 đã có 1641 vụ xâm hại
trẻ em trong đó có 1248 vụ xâm hại tình dục trẻ em, chiếm 77% tổng số vụ.
Nạn nhân bị xâm hại chủ yếu là trẻ em gái (1358 cháu, chiếm 84%). Phần lớn
độ tuổi từ 13 đến 16 tuổi là 1037 cháu, từ 6 đến 13 tuổi là 479 cháu, đặc biệt
trẻ em dưới 6 tuổi là 120 cháu. Con số này chưa dừng lại ở đó, bởi trong 6
tháng đầu năm 2017 ghi nhận có khoảng 805 vụ xâm hại tình dục trẻ em.
Như vậy, tình hình trẻ em bị xâm hại tình dục đang diễn ra với xu
hướng ngày càng gia tăng. Vấn đề bảo vệ trẻ em tránh khỏi sự xâm hại tình
1


dục đang là vấn đề cấp thiết nhất. Bởi đây là đối tượng chưa thực sự phát triển
về mặt thể chất và tinh thần. Họ cần được sống trong môi trường lành mạnh,
trong sạch để phát triển bình thường, phát huy hết tiềm năng vốn có. Mặc dù
BLHS 2015 đã được sửa đổi bổ sung, thông qua năm 2017 cũng đã quy định
khá cụ thể về các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên,
không có gì là hoàn hảo một cách tuyệt đối, BLHS 2015 và luật sửa đổi bổ
sung 2017 có nhiều điểm mới và tiến bộ nhưng vẫn còn không ít những
vướng mắc cũng như những thiếu sót và chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng
trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, căn cứ tình hình tội phạm xâm hại tình
dục người dưới 16 tuổi hiện nay đang có xu hướng tăng lên với tính chất mức
độ ngày càng nguy hiểm. Đặc biệt, đối tượng phạm tội ở đây lại là những
người thân thích, quen biết nạn nhân thực hiện hành vi phạm tội trái với pháp
luật cũng như các chuẩn mực đạo đức xã hội. Nhưng chưa có một giải pháp
tốt nhất cũng như các chế định cụ thể để hạn chế sự gia tăng số lượng và mức
độ phổ biến vụ án.

Ngoài ra, trong những năm qua, tình hình các tội phạm xâm phạm tình
dục người dưới 16 tuổi ngày càng diễn biến phức tạp, có sự gia tăng về số
lượng cũng như mức độ nguy hiểm, gây tâm lí hoang mang trong nhân dân và
làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xâm
phạm tình dục người dưới 16 tuổi cho thấy còn gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc trong việc định tội danh, định khung và quyết định hình phạt dẫn đến bỏ
lọt tội phạm, người phạm tội hoặc ngược lại làm oan người vô tội, xử lí quá
nặng hoặc quá nhẹ hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng đến chất lượng công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, việc nghiên cứu các quy định của
pháp luật và thực tiễn định tội danh của xâm phạm tình dục người dưới 16
tuổi là một vấn đề vô cùng cần thiết và có ý nghĩa, đặc biệt là việc nghiên cứu
thực tiễn định tội danh trong bối cảnh tỉnh An Giang là một nhu cầu quan
2


trọng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với địa
phương.
Với mong muốn đóng góp một phần công sức cho công tác nghiên cứu
và hoàn thiện pháp luật về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi sẽ góp phần nâng
cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong tình
hình mới, tác giả quyết định chọn đề tài: “Định tội danh Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề bảo vệ trẻ em không chỉ đơn giản là nhiệm vụ của
một quốc gia mà là nhiệm vụ chung của toàn thể cộng đồng. Nhận thức được
từ rất sớm của việc bảo vệ trẻ em, trên phạm vi thế giới đã có không ít những
văn bản pháp luật được ban hành về bảo vệ trẻ em, tiêu biểu là Công Ước về
quyền trẻ em 1986, Tuyên bố thế giới về quyền con người, Tuyên bố về
quyền trẻ em 1959.
Hoạt động định tội danh đã được đề cập trong rất nhiều công trình

nghiên cứu khoa học của các chuyên gia luật hình sự của nước ta, trong đó
phải kể đến một số công trình nghiên cứu của PGS.TSKH. Lê Cảm: “Một số
vấn đề lý luận chung về định tội danh”; “Thay đổi định tội danh một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tạp chí tòa án nhân dân, số
11, 2003; “Định tội danh và quyết định hình phạt” TS. Dương Tuyết Miên
chủ biên, Nxb Công an Nhân dân, 2014; “Lý luận chung về định tội
danh”GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2013;
Liên quan đến các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi đã có
nhiều luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học trong
và ngoài học viện nghiên cứu về vấn đề này.
Nhóm các luận văn thạc sĩ, có thể kể đến: “Các tội hiếp dâm trong luật
hình sự Việt Nam” – Tác giả Nguyễn Thu Hương; “Các tội xâm phạm tình
3


dục” – Tác giả Phan Thị Phương Hiền; ”Các tội xâm phạm tình dục trẻ em
trong Luật Hình sự Việt Nam hiện nay (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa
bàn thành phố Hà Nội)” của tác giả Nguyễn Tuấn Thiện (năm 2015); “Các tội
phạm tình dục trong Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại
địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” của tác giả Trịnh Văn Toàn (năm 2015).
Ngoài ra còn các tài liệu: “Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em” của Tác giả Phạm Mạnh Hùng;
Chuyên đề: “Pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế về bảo vệ trẻ em trước
tệ nạn lạm dụng tình dục” của Viện nghiên cứu thuộc Bộ tư Pháp; Giáo trình
Luật Hình sự Việt Nam Tập 1, 2 của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội. Phạm
Văn Beo (2011), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm),
quyển 2, NXB. Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội; Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các
tội phạm), quyển 1, NXB. Hồng Đức, Hà Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội
(2006), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 1, NXB. Công an nhân dân, Hà

Nội. Thông qua các giáo trình trên, người đọc được cung cấp những kiến thức
pháp lý cơ bản về khái niệm của các tội hiếp dâm, các dấu hiệu pháp lý, các
trường hợp phạm tội cụ thể trong quy định của các tội hiếp dâm cũng như
hình phạt của các tội này. Người đọc dễ dàng nắm bắt vấn đề do tài liệu được
trình bày sinh động và dễ hiểu thông qua những ví dụ minh họa.
Nhìn chung đa phần các luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, các
công trình nghiên cứu khoa học trên chỉ tập trung khai thác làm nổi bật nội
dung của các quy định pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em
trong Bộ luật Hình sự 1999 với những chế định cũ không phù hợp với thực
tiễn hiện nay. Bên cạnh đó, cũng có một số Tác giả với những bài viết được
đăng trên các tập chí như “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em so sánh BLHS
1999 với BLHS 2015” của Lê Thị Diễm Hằng, đăng trên Tạp chí TAND số 06
4


năm 2017, “Những quy định mới về các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong
BLHS 2015” của Nguyễn Thị Ngọc trên Tạp chí Khoa học Kiểm Sát hay khóa
luận tốt nghiệp của Võ Trần Hoàng Sa đã nghiên cứu về những điểm mới
trong Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, những bài viết này chỉ tập trung khai
thác vấn đề ở góc độ bao quát. Mặt khác, BLHS 2015 vừa có những sửa đổi,
bổ sung và được thông qua vào năm 2017 với những chế định mới, và dựa
trên tình hình thực tiễn cho thấy còn nhiều bất cập trong các quy định của
pháp luật hình sự. Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Định tội danh tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi” để làm rõ hơn các quy định hiện hành, và đề
xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế.
Trong suốt đề tài của tác giả có khá nhiều điểm mới mà các công trình trước
đây chưa có thể làm rõ một cách cụ thể. Chẳng hạn như nhóm tác giả đã đưa
ra được những khái niệm để giải thích cho các thuật ngữ Giao cấu, hành vi
quan hệ tình dục khác, dâm ô, khiêu dâm…nhằm góp phần hướng dẫn chi tiết
cho các quy định về nhóm tội này. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn đề xuất

kiến nghị sửa đổi bổ sung đối với một số vấn đề về độ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự của Tội mua dâm người dưới 18 tuổi với tình tiết tăng nặng mua dâm
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, kiến nghị sửa đổi tình tiết biết mình bị
nhiễm HIV mà vẫn phạm tội khiến nạn nhân bị lây nhiễm…Ngoài ra, nhóm
nghiên cứu còn bổ sung tội danh Tấn công tình dục với cấu thành tội phạm,
hướng dẫn chi tiết về thuật ngữ và cách định tội danh này.
Nhìn chung, dưới góc độ luật hình sự:
- Các nghiên cứu thường dưới dạng tội đơn lẻ về hiếp dâm hoặc nghiên
cứu cả nhóm tội xâm phạm tình dục.
- Các nghiên cứu chưa thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ từ việc làm
sáng tỏ các vấn đề lý luận, lý giải rõ ràng các đặc điểm pháp lý trong quy định
của các tội hiếp dâm đến việc áp dụng quy định các tội này trên thực tiễn để
5


có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất hướng dẫn áp dụng quy
định được hiệu quả.
- Đặc biệt, Bộ luật hình sự 2015 mới được ban hành nên chưa có một
công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về các tội hiếp dâm để có
những kiến nghị hoàn thiện các tội này theo quy định của Bộ luật hình sự
2015.
Người viết lựa chọn nghiên cứu định tội danh về các tội hiếp dâm, là đề
tài nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn áp dụng tội hiếp dâm và
tội hiếp dâm trẻ em để từ đó làm cơ sở xác định được những bất cập, vướng
mắc cần tiếp tục khắc phục trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự 2015 và
có những kiến nghị hoàn thiện. Do vậy, đây là đề tài tạo được tính mới so với
những nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về định tội danh, các quy

định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và thực tiễn
định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang trong
thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, luận văn đề xuất các giải pháp định tội
danh đúng tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Phân tích khái niệm: Ý nghĩa, quá trình và cơ sở pháp luật của định
tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang.
- Phân tích định tội danh theo các yếu tố cấu thành của tội hiếp dâm
người dưới 16 tuổi.
- Phân tích thực trạng tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại
tỉnh An Giang từ năm 2013 đến năm 2017 chỉ ra nguyên nhân của thực trạng
đó.
6


- Phân tích yêu cầu đối với định tội danh đúng tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm tội danh đúng định tội danh tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa thực tiễn hoạt động định tội
danh và quyết định hình phạt tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tình hình tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017 để
nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn về đề tài: “Định tội danh tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” như sau:
- Về không gian, tác giả đã thu thập được số liệu khảo sát tình hình
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên phạm vi tỉnh An Giang từ năm 2013 2017.
 Về thời gian, luận văn sử dụng số liệu thống kê từ năm 2013 đến
năm 2017 (05 năm), các vụ án dẫn chứng trong luận văn là những vụ án xảy

ra sau khi BLHS năm 1999 có hiệu lực cho đến nay.
 Về nội dung, luận văn sẽ xem xét, giải quyết các vấn đề sau: khái
niệm, đặc điểm, phân loại định tội danh của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;
Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh Tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi; Phân biệt Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với một số tội danh trong
BLHS; Thực trạng định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn
tỉnh An Giang và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả định tội danh
đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa duy vật biện
chứng Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối,
7


chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói
riêng.
 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu này chủ yếu dựa trên đường lối của Đảng và chính
sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh
đó nhóm sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu thực tiễn, cụ thể là:
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập thông tin khoa học
trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy
logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài
liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm
hiểu sâu sắc về đối tượng. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông
tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về
khái niệm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi cũng như các khái niệm,

phạm trù nhóm nghiên cứu trong đề tài. Phương pháp này được sử dụng điển
hình là các khái niệm được đưa ra tại mục 2.2,…;
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Sắp xếp các tài
liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản
chất, cùng một hướng phát triển. Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một
hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết nhằm có cái nhìn hoàn thiện và đầy
đủ hơn về nhóm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi;
+ Phương pháp so sánh: Nghiên cứu, đối chiếu với các khái niệm khác
cũng có mối liên hệ gần giống với tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi,
tái hiện lại đối tượng đó theo các cơ cấu, chức năng của đối tượng;

8


+ Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát
sinh, quá trình phát triển của tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi dưới
góc độ pháp luật quốc gia và pháp luật nước ngoài được so sánh để học hỏi từ
đó rút ra bản chất và quy luật vận động phát triển của loại tội phạm này trong
từng thời kỳ, quan điểm nhà nước nhìn nhận loại tội phạm này trong từng thời
kỳ đó.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là các phương pháp tác động
trực tiếp vào đối tượng có trong thực tiễn để làm rõ bản chất và các quy luật
của đối tượng:
+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu và tổng
hợp lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho
thực tiễn và khoa học được thể hiện tại Chương 3, ngoài ra dựa trên phân tích
so sánh với pháp luật nước ngoài để đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam góp
phần hoàn thiện pháp luật về nhóm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện

lí luận và thực tiễn vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về định tội danh đối với Tội hiếp dâm
người dưới 16 tuổi.
Luận văn đã tổng hợp đươc những vấn đề về khái niệm, đặc điểm, phân
loại định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Luận văn cũng tổng hợp các quan điểm khoa học về Tội hiếp dâm
người dưới 16 tuổi để xây dựng nên khái niệm Tội hiếp dâm người dưới 16
tuổi, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản
của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong mối tương quan so sánh với một
số chế định tội danh khác;

9


Đóng góp của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ
bức tranh về tình hình định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, luận
văn đã đưa ra được những tồn tại, hạn chế của thực tiễn định tội danh; Trên cơ
sở kết quả đó, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả định tội của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
ở Việt Nam.
Với những đóng góp trên, tác giả hy vọng luận văn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy
về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; những đề xuất nêu trong luận văn có thể
được tham khảo trong công tác lập pháp để hoàn thiện quy định của BLHS về
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, qua đó nâng cao hiệu quả định tội danh đối
với loại tội phạm này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn này gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật của việc định tội danh

đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả định tội danh
đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH
TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi.
1.1.1. Khái niệm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Để có thể cụ thể hóa các quy định trừu tượng của pháp luật vào trong
thực tế đời sống cần có một quá trình nhất định. Quá trình này diễn ra từ đơn
giản đến phức tạp và được thực hiện bằng nhiều hoạt động áp dụng pháp luật
khác nhau: xác định dấu hiệu của tội phạm, điều tra, định tội danh, xem xét
miễn, giảm trách nhiệm hình sự…Trong đó, định tội danh được xem là một
hoạt động thực tiễn rất quan trọng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bởi
lẽ việc định tội danh được xem như “mạch dẫn đầu tiên” trong quá trình giải
quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc định tội danh đúng đắn tạo tiền
đề đảm bảo cho việc quyết định hình phạt, giải quyết vụ án được đúng người
đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh làm oan sai người vô tội. Tuy nhiên,
khái niệm định tội danh vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất giữa các
chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật hình sự. Theo PGS.TSKH. Lê Cảm thì
“Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt
động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự

và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các
tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu
của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật
khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình

11


sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách
công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.”[8, tr.716]
Theo quan điểm này, định tội danh được xác định là một quá trình nhận
thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp
luật, là quá trình mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành so
sánh, đối chiếu để tìm ra sự tương đồng giữa hành vi phạm tội được thực hiện
với cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự dựa trên các chứng cứ, tài liệu,
các tình tiết khách quan khác của vụ án.
Theo Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ (Liên bang Nga hiện
nay) Kudriavtxev V.N “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt
pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện
với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy
định”. Quan điểm này cho rằng định tội danh là việc xác định sự phù hợp
giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
được quy định trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự. Quan điểm này chỉ
đơn thuần nhìn nhận định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp
lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu pháp lý của hành vi phạm tội với quy định
của pháp luật, không nhìn nhận định tội danh là một quá trình nhận thức lý
luận có tính logic.
Theo PGS.TS Võ Khánh Vinh, ĐTD là một dạng hoạt động nhận thức,
hoạt động áp dụng PLHS nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định

đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện,
nhận thức đúng nội dung quy phạm PLHS quy định CTTP tương ứng và mối
liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của
hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất
định. Theo quan điểm này thì hoạt động ĐTD không chỉ là quá trình đánh giá
về mặt pháp lý hình sự mà còn là một quá trình nhận thức và không phải chỉ
do cơ quan THTT thực hiện.
12


Theo TS Dương Tuyết Miên, ĐTD là hoạt động thực tiễn của các cơ
quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, VKS, TA) và một số cơ quan khác
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm
tội hay không, nếu có phạm tội thì tội đó là gì? Theo điều luật nào của BLHS
hay nói cách khác đây là quá trình xác ĐTD cho hành vi nguy hiểm cho xã
hội. Theo quan điểm của chuyên gia này, “Định tội danh” được đặc trưng là
quá trình đánh giá về mặt pháp lý hình sự của các cơ quan THTT về một hành
vi cụ thể xem có đầy đủ các yếu tố CTTP không?
Trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu các quan điểm nêu trên, học viên có thể
khái quát về ĐTD với các đặc điểm sau:
- ĐTD là một quá trình nhận thức một cách logic cũng như áp dụng
PLHS và tố TTHS vào thực tế.
- ĐTD là quá trình tìm hiểu, đánh giá hành vi trên thực tế với các dấu
hiệu của CTTP trong BLHS.
- Cơ sở của việc “ĐTD” là CTTP cụ thể trong BLHS.
- ĐTD là một giai đoạn quan trọng, là tiền đề cho các giai đoạn của
TTHS cũng như việc cá thể và phân hóa TNHS.
Tổng hợp các ý kiến trên cùng với việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng,
tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh như sau: Định tội danh được xem là
một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực

tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập chứng cứ,
tài liệu cũng như các tình tiết khách quan khác trong vụ án hình sự, từ đó so
sánh, đối chiếu và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa các
dấu hiệu của hành vi phạm tội được thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ
thể tương ứng do luật hình sự quy định.
Từ khái niệm trên, có thể rút ra được khái niệm định tội danh Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi như sau: “Định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16
tuổi là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt
động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập
13


chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khách quan của vụ án để so sánh, đối chiếu,
kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa hành vi nguy hiểm cho
xã hội được thực hiện với các cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi”.
1.1.2. Đặc điểm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Từ nội dung của khái niệm về định tội danh Tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi nêu trên chúng ta có thể nhận thấy được vấn đề định tội danh Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một quá
trình nhận thức lý luận có tính logic, được tiến hành bởi cơ quan điều tra, viện
kiểm sát, tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật. Tính logic được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành
các hoạt động xem xét, phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu với các dấu
hiệu cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi để xác định
xem hành vi phạm tội có cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không.
Tất cả các hoạt động trên phải được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, kết
quả của hoạt động trước là tiền đề của hoạt động tiếp theo và cuối cùng là xâu
chuỗi các vấn đề đã nghiên cứu để đưa ra kết luận cuối cùng.

Thứ hai, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một dạng
của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật. Hoạt động định tội danh sẽ tiến
hành áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự lên những hành vi phạm tội
cụ thể, những quy định của pháp luật không còn là lý thuyết xa vời mà được
cụ thể hóa vào trong một tình huống cụ thể và được áp dụng lên một cá nhân
thực hiện hành vi phạm tội, nhằm mục đích răn đe, giáo dục người phạm tội
để duy trì trật tự xã hội.
Thứ ba, hoạt động định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được
tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết khách
14


quan khác của vụ án. Như đã đề cập, hoạt động định tội danh có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, định tội danh đúng sẽ giúp
cho hoạt động xét xử được đúng đắn, đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội
phạm và tránh làm oan sai người vô tội. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt
động định tội danh đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải thật tỉ mĩ và
nhạy bén, bởi lẽ một hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể cấu thành nhiều tội
phạm khác nhau (Tội hiếp dâm trẻ em, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác
với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) vấn đề đặt ra ở đây là tội danh nào
sẽ là phù hợp nhất với hành vi nguy hiểm đã thực hiện. Và để đạt được điều
này, người tiến hành định tội danh phải dựa vào những chứng cứ, tài liệu thu
thập được từ thực tế khách quan liên quan đến vụ án, những hoạt động thu
thập này phải được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật quy định.
Đặc điểm này thể hiện rất rõ tính pháp chế trong pháp luật hình sự, một người
chỉ bị kết tội khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng minh được hành
vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong Bộ luật hình sự và các
bằng chứng dùng để buộc tội phải được thu thập từ thực tế khách quan được
tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.

Dựa vào đặc điểm trên, có thể phân chia quá trình định tội danh được
tiến hành qua 04 bước sau:
 Bước 1: Xem xét, phân tích, đánh giá đúng các tình tiết đã diễn ra
trong thực tế khách quan của vụ án
Bước này đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải đánh giá các tình
tiết của vụ án một cách khách quan, vô tư, không suy diễn hay áp đặt ý chí
chủ quan của mình để phân tích các tình tiết của vụ án. Để có thể nhìn nhận
một cách khách quan vô tư, người tiến hành định tội danh phải đánh giá đúng
thực tế những gì có được từ công tác khám nghiệm hiện trường, giải phẩu tử
15


thi, nghiên cứu hồ sơ vụ án, những hoạt động này phải được tiến hành một
cách toàn diện, có chiều sâu, bên cạnh thu thập chứng cứ buộc tội thì cũng
phải thu thập chứng cứ gỡ tội, không được bỏ lọt bất kỳ tình tiết nào liên quan
đến vụ án. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải có sự phối hợp với
nhau một cách chặt chẽ để hỗ trợ cho nhau trong suốt quá trình tiến hành
những hoạt động trên, bởi mỗi một cơ quan đều có chức năng chuyên biệt như
cơ quan điều tra chỉ tiến hành các hoạt động điều tra, tòa án chỉ tiến hành các
hoạt động xét xử vậy nên để có thể phân tích đánh giá một cách toàn diện các
tình tiết của vụ án thì các cơ quan này phải có sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý
với nhau để quá trình xem xét, phân tích đạt được hiệu quả cao nhất. Đánh giá
mỗi tình tiết phải đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể, trong tổng thể của vấn đề
và các lập luận phải có mối quan hệ biện chứng với nhau, bởi cùng một tình
tiết khi đặt vào những tình huống cụ thể khác nhau chúng sẽ khác nhau về bản
chất, ví dụ: cùng là hành vi giết người nhưng giết người trong tình thế tinh
thần bị kích động mạnh sẽ khác với hành vi giết người cướp tài tài sản. Không
thể dựa vào một tình tiết để kết luận toàn bộ vấn đề mà phải dựa vào tất cả các
tình tiết có liên quan để kết luận một vấn đề.
 Bước 2: Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các

quy phạm pháp luật trong cấu thành tội phạm cụ thể
Các quy định trong Bộ luật hình sự là những quy định mang tính trừu
tượng, chỉ mô tả khái quát các hành vi phạm tội, một hành vi phạm tội cụ thể
xảy ra với nhiều tình tiết phức tạp sẽ tạo ra những cách hiểu không thống nhất
trong các cơ quan tiến hành định tội danh. Chính vì thế, cần có một cách hiểu
thống nhất đối với một hành vi phạm tội cụ thể. Với quy định khá chi tiết về
các tội danh, ví dụ như: Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi… vì vậy
mà khi một hành vi phạm tội được thực hiện sẽ có thể cấu thành nhiều tội
16


danh bởi ranh giới định tội danh đối với những tội trên rất mong manh. Để
làm được điều này đòi hỏi những cơ quan tiến hành định tội danh phải có
năng lực chuyên môn cao và năng lực pháp lý hình sự vững vàng.
 Bước 3: Tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả của hai quá trinh trên
 Bước 4: Ra bản án để kết tội người đã thực hiện hành vi phạm tội
Đây được xem là bước cuối cùng trong quá trình định tội danh, khi có
quyết định của tóa án thì người phạm tội sẽ bị kết tội vào một tội danh cụ thể,
quá trình định tội danh kết thúc.
1.1.3. Ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Được xem như “mạch dẫn đầu tiên” của quá trình giải quyết một vụ án
hình sự, việc định tội danh nói chung và định tội danh Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xét xử vụ
án hình sự. Định tội danh giúp cụ thể hóa những quy định của pháp luật vào
trong thực tiễn đời sống, làm cho pháp luật phát huy được vai trò quản lý xã
hội của mình, góp phần ổn định trật tự xã hội tạo điều kiện cho kinh tế phát
triển. Định tội danh đúng giúp cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được
đúng đắn, công minh, xét xử đúng người, đúng tội để từ đó góp phần củng cố
niềm tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật nước nhà, nâng cao được ý

thức tuân thủ pháp luật của người dân. Định tội danh đúng còn góp phần nâng
cao được uy tín của các cơ quan nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, để pháp luật trở thành công cụ hiệu quả trong việc quản lý trật tự xã
hội.
1.2. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh đối với Tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi
1.2.1. Cơ sở khoa học
Định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hoạt động
nhận thức mang tính logic. Để định tội danh được tiến hành một cách hiệu
17


quả, khoa học thì chủ thể định tội ngoài việc nhận thức đúng đắn các quy định
của Bộ luật hình sự thì còn phải dựa trên cơ sở lý luận khoa học về mô hình
pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Mô hình pháp lý về Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi mà chủ thể định tội danh dựa vào được gọi là cơ sở
khoa học của việc định tội danh.
Như vậy, căn cứ khoa học của định tội danh là cấu thành tội phạm
(CTTP). Tổng hợp những dấu hiệu chung đặc trưng, điển hình cho một loại
tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, mà cụ thể là đối với Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi là CTTP của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được
quy định trong Điều 142 BLHS năm 2015, gồm các yếu tố như sau:
1.2.1.1. Khách thể của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
“Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các
quan hệ xã hội đó được Bộ luật hình sự bảo vệ” [16, tr.51]. Đây là phần quan
trọng không thể thiếu trong cấu thành tội phạm. Khách thể được hiểu là các
quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội này phải là những quan hệ xã hội được
pháp luật hình sự bảo vệ, vậy nên không phải bất kỳ một quan hệ xã hội nào
cũng được xem là khách thể của tội phạm. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
được quy định trong Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự 2015. Là một quan
hệ xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ, khách thể của Tội hiếp dâm người
dưới 16 tuổi là quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
sự phát triển lành mạnh của trẻ em. Hành vi phạm tội là hành vi đã xâm phạm
đến các quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, sự
phát triển lành mạnh của trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường
về tâm, sinh lý của trẻ em, trật tự xã hội, đi ngược lại thuần phong mỹ tục,
văn hóa của người Việt Nam để lại những hậu quả khôn lường. Độ tuổi là dấu
hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi,
18


cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định tuổi của người bị hại trên cơ
sở giấy khai sinh của họ, nếu trường hợp không có giấy khai sinh hoặc mất
giấy khai sinh thì phải dùng tất cả các biện pháp để có thể xác định được tuổi
thật của nạn nhân, trường hợp không có căn cứ để xác định thì phải theo
nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội.
1.2.1.2. Mặt khách quan của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
“Khoa học luật hình sự gọi mặt khách quan của tội phạm là những
biểu hiện ra bên ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội, không còn nằm
trong ý nghĩ của người phạm tội nữa, những biểu hiện này có thể bằng hành
động hoặc không hành động khi có nghĩa vụ phải hành động gọi là hành vi
khách quan. Nếu đã thực hiện hành vi và đã gây ra thiệt hại thì các biểu hiện
của những thiệt hại đó, khoa học luật hình sự gọi là hậu quả của tội phạm.
Nhưng mặt khách quan của tội phạm không chỉ bao gồm hành vi, hậu quả mà
còn nhiều yếu tố khách quan khác có thể tác động, chi phối việc thực hiện
hành vi, chi phối việc phát sinh hậu quả như: không gian, thời gian, phương
tiện, công cụ sử dụng để thực hiện tội phạm” [16, tr.56]. Theo định nghĩa trên
của Thạc sĩ Luật học Đinh Văn Quế thì các dấu hiệu hợp thành mặt khách
quan của tội phạm bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa

hành vi và hậu quả, các điều kiện chi phối hành vi và hậu quả của hành vi.
Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là những
hành vi:
Dùng vũ lực: sử dụng sức mạnh thể chất như trói tay, chân, bịt miệng,
vật ngã… nhằm làm mất khả năng chống cự của nạn nhân
Đe dọa dùng vũ lực: sử dụng lời nói, cử chỉ, động tác khác nhưng chưa
tác động vào nạn nhân nhằm thể hiện cho nạn nhân hiểu nếu nạn nhân không
cho giao cấu thì những lời đe dọa đó sẽ được thực hiện.

19


Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: tình trạng
không thể tự vệ thường do phía nạn nhân tạo ra như: đi một mình trên đoạn
đường vắng, nạn nhân ở nhà một mình…
Dùng thủ đoạn khác: đây là những tình huống do người phạm tội tạo ra
như cho nạn nhân sử dụng thuốc mê, thuốc kích dục, xem phim khiêu dâm
làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự
Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân: là hành vi được thực khi không
được sự đồng ý của nạn nhân hoặc họ không thể thể hiện được ý chí của mình
do bị cho sử dụng thuốc mê, rượu, bia hoặc bị hạn chế ý thức khi bị cho sử
dụng thuốc kích dục.
Hậu quả của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là thiệt hại mà người
thực hiện hành vi đã gây ra cho nạn nhân. Về vật chất: thiệt hại về tính mạng,
sức khỏe, tài sản… của người bị hại, về hậu quả phi vật chất thì hành vi phạm
tội để lại những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, tâm sinh lý của nạn nhân,
bởi vì nạn nhân là trẻ em nên những hậu quả mà tội phạm này để lại là vô
cùng nghiêm trọng.
Mối quan hệ nhân quả là sự liên quan trực tiếp giữa hành vi phạm tội
và hậu quả do chính hành vi đó để lại. Hành vi phạm tội xảy ra trước hậu quả

về mặt thời gian, giữa hành vi và hậu quả tồn tại mối quan hệ nội tại tất nhiên.
Ý nghĩa của việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của
tội phạm là để quá trình định tội danh được đúng, tránh làm oan sai và tránh
bỏ lọt tội phạm.
1.2.1.3. Chủ thể của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
“Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội và chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình”[16, tr.56]. Phân tích khái
niệm trên ta thấy chủ thể của tội phạm phải là một con người cụ thể (phân biệt
với pháp nhân), con người cụ thể đó phải thực hiện một hay một số hành vi
20


×