Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện quốc oai, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 87 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8760101

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2019



LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, đƣợc thực hiện
dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH. Các số liệu,
những kết luận nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung
thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Học viên

Nguyễn Thị Hồng Duyên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 6
Chƣơng 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ
TRỢVIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ............. 14
1.1. Một số khái niệm cơ bản........................................................................................ 14
1.2. Các Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu đề tài .......................................... 23
1.3. Đặc điểm của phụ nữ đơn thân và việc làm ....................................................... 31
1.4. Mục đích, nội dung và quy trình CTXH trong hỗ trợ sinh kế đối với PNNĐT.. 34
1.5. Cơ sở pháp lý trong hỗ trợ việc làm đối vơi phụ nữ nghèo đơn thân ............ 37
Chƣơng 2.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC
LÀMĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎTẠI
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.................................................... 40
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu .................................................. 40
2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ................. 43
Chƣơng 3.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN
NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ

NỘI TRONG NHỮNG NĂM TỚI ...................................................................... 63
3.1 Định hƣớng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ
nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ........... 63
3.2. Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ................. 67
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 74
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTXH

Công tác xã hội

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

PNNĐT

Phụ nữ nghèo đơn thân


DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Phân loại các loại hình đơn thân ........................................................... 41
Bảng 2.2. Thống kê độ tuổi và số con đang nuôi của PNNĐT ............................ 42
Bảng 2.3. Cơ cấu ngành nghề và bình quân thu nhập của PNNĐT .................... 45
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của phụ nữ nghèo đơn thân

nuôi con nhỏ ............................................................................................................ 49
Bảng 2.5. Mức độ tiếp cận dịch vụ tƣ vấn hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ ............................................................................................ 50
Bảng 2.6. Mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào chƣơng trình kết nối
việc làm tại địa phƣơng .......................................................................................... 52
Bảng 2.7. Số PNNĐT nuôi con nhỏ đƣợc tiếp cận các chính sách hỗ trợ .......... 54
Bảng 2.8. Trình độ học vấn PNNĐT nuôi con nhỏ .............................................. 55
Bảng 2.9. Sự nhìn nhận của Phụ nữ nghèo đơn thân về chính họ ....................... 56
Bảng 2.10. Nhìn nhận cộng đồng về “mẹ đơn thân” ............................................ 57
Hình 1.1. Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A. Maslow .................................. 25
Hình 1.2. Các hệ thống sinh thái trong công tác xã hội ........................................ 30
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ số phụ nữ nghèođơn thân nuôi con nhỏ đƣợc tham gia khảo
sát nhu cầu việc làm năm 2019..............................................................................49
Biểu đồ 2.2. Số phụ nữ nghèođơn thân đƣợc tham gia đào tạo...........................52
Biểu đồ 2.3. Phản hồi của ngƣời học sau cac khóađào tạo..................................53
Biểu đồ 2.4. Số lƣợng cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành CTXH làm việc tạiđịa
phƣơng...................................................................................................................63


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng có lịch sử hình thành và
phát triển hơn 100 năm trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam do biến cố của lịch
sử, sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội có nhiều thăng trầm, vì vậy,
những năm gần đây ngành mới đƣợc sự công nhận của Chính phủ thông qua đề
án 32 “Phát triển nghề công tác xã hội”. Công tác xã hội với mục đích hƣớng tới
sự trợ giúp con ngƣời trong cuộc sống nhất là những nhóm đối tƣợng dễ bị tổn
thƣơng bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đến nhóm và cộng đồng. Trong
xã hội ngày nay, đối tƣợng trợ giúp của công tác xã hội tƣơng đối đa dạng.
Nhiều đối tƣợng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ, động viên, chia sẻ của tất cả

cộng đồng cũng nhƣ của công tác xã hội.
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tƣợng yếu
thế dễ bị tổn thƣơng và cần sự trợ giúp của công tác xã hội. Công tác xã hội có
sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối tƣợng,
lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận với các cơ
sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững.
Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dƣờng nhƣ không thể
phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăng cƣờng
tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT.
Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lƣợc đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Tình trạng bất bình đẳng giới hiện
nay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ
đến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung. Vấn
nạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những ngƣời phải

1


gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thƣơng từ những quan niệm, định kiến bất công từ
xã hội xƣa và nay
Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc thực hiện
nhiều bƣớc đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, pháp
luật đến thực tiễn và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới. Việt
Nam đƣợc đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới
nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Điểm nổi bật trong việc bảo đảm
quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về
bình đẳng giới.Thành quả đem lại nhằm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho
phụ nữ có thể tự tin phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hƣớng tới giải phóng
ngƣời phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nƣớc công bằng, văn minh.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn về những

hạn chế, những tồn tại trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Một
trong những minh chứng cụ thể nhất, đó là chúng ta đã nỗ lực, đã làm rất nhiều
nhƣng vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện rơi nƣớc mắt trong thực
tế về những ngƣời phụ nữ đơn thân. Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài chính kinh tế, về sức khỏe mà họ đã và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, tủi
cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý và cơ hội tìm
kiếm việc làm của họ cũng gặp không ít những khó khăn,…Vì vậy, họ rất cần
nhận đƣợc sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và xã
hội.
Ngày nay quan niệm về ngƣời phụ nữ đơn thân không còn quá khắt
khe nhƣ trƣớc đây, song vẫn còn đó rất nhiều những khó khăn mà họ phải đối
mặt. Đây là đối tƣợng rất cần sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng, xã hội để có
thể vƣợt lên khó khăn, vƣợt lên chính họ, hòa nhập cộng đồng. Trách nhiệm ấy
không chỉ thuộc về xã hội hay một tổ chức nào đó, mà nó đã trở thành một trong

2


những lĩnh vực mà ngành Công tác xã hội (CTXH) cần quan tâm để có những
giải pháp can thiệp, hỗ trợ hiệu và có tính phát triển bền vững nhất.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy những khó khăn mà những ngƣời
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cần đƣợc nhìn nhận và quan tâm đúng
mực, cần đƣợc nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản để từ đó có
thể giúp họ có cuộc sống tốt hơn.
Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân
nuôi con nhỏ lại càng có ý nghĩa và giá trị sâu sắc vì nó tạo cho họ có nhiều cơ
hội phát triển và khẳng định đƣợc vị thế của mình trong xã hội.
Trong thời điểm hiện nay, dƣới tác động của khủng hoảng kinh tế, để đáp
ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn và
một bộ phận không nhỏ là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng bức
thiết hơn.

Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội còn
nhiều khó khăn: Phần lớn họ chƣa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và
đa phần thuộc hộ nghèo. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có việc làm, trình
độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều ngƣời còn tự ti, mặc cảm chƣa hòa nhập với cộng
đồng.
Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra các
giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội; hƣớng
đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự giúp bản
thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hƣớng nghề nghiệp và tự
tìm đƣợc việc làm.

3


Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm cho
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng nhƣ cần có một
nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạt động hỗ
trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn.
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã
hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực
tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”để làm đề tài nghiên cứu luận văn của
mình là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù hợp với bối cảnh chiến lƣợc và
chính sách phát triển của địa phƣơng
2. Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài
2.1. Một số tài liệu trên thế giới
* Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân
Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hƣớng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ

đƣợc bàn đến bởi Edin (2000); Belanger (1996); Phinney (1998); Dales (2014).
Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ đơn thân đƣợc đề
cập bởi Shattuck và Kreider (2013); Ann Berrington (2014); Ciabattari (2005).
Thứ ba, nghiên cứu về đời sống tâm lý và định kiến xã hội qua công trình của
Nguyễn Thị Khoa (1997); Lê Thi (2001); Robinson và Werblow (2013). Thứ tƣ,
nghiên cứu về đời sống kinh tế và chính sách xã hội của nhóm phụ nữ đơn
thân/phụ nữ làm mẹ đơn thân qua các tác giả Lê Thi (1996),(2002); Zarina và
Kamil (2012); Wang, Parker, và Taylor (2013).
* Về việc làm cho phụ nữ đơn thân
Các tác giả tập trung vào mảng sinh kế cho ngƣời phụ nữ đơn thân, Phần
này đƣợc chia thành nhiều chủ đề nghiên cứu. Thứ nhất là các nghiên cứu về
phƣơng pháp tiếp cận sinh kế với các tác giả DFID (1999); Kollmair và Gamper
(2002); Ashley và Carney (1999); Krantz (2001). Thứ hai, nghiên cứu về ứng

4


dụng của khung sinh kế bền vững trong thực tiễn qua các tác giả Solesbury
(2003); Chowdhury (2014). Thứ ba, nghiên cứu về loại hình và phƣơng thức
chuyển đổi sinh kế với các tác giả Nguyễn Duy Thắng, 2007; Nguyễn Văn Sửu
(2014); Dƣơng Chí Thiện và Vũ Mạnh Lợi (2014); Nguyễn Xuân Mai và
Nguyễn Duy Thắng (2011). Thứ tƣ, nghiên cứu về sinh kế của phụ nữ và phụ nữ
làm mẹ đơn thân đƣợc thực hiện bởi các tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2006) ;
Collin và Mayer (2006); Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008).
* Phụ nữ và việc làm cũng sớm được đề cập trong Công ước và Pháp luật
quy định chung của Quốc tế:
Về lĩnh vực chính trị: Tƣơng ứng với điều 7,8 của Công ƣớc CEDAW và
điều 25 của công ƣớc về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì điều 63 Hiến
pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001) quy định: “Công dân, nữ và nam có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.” Nhƣ vậy,

văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể về quyền trong
lĩnh vực chính trị của phụ nữ.
Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tƣơng ứng với điều 11 CEDAW, điều 14
của công ƣớc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 điều
109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nƣớc bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ
bình đẳng một mặt với nam giới…”
Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ƣớc CEDAW
điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với nam giới về
phƣơng diện văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp điều 14
luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào
tạo, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo tiếp
cận và hƣởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo.

5


2.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện tƣợng bà mẹ đơn thân là một hiện tƣợng không mới trong xã hội
nhƣng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉ
mới khoảng gần chục năm gần đây. Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tƣợng
này chủ yếu là của những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên nghiên cứu về phụ
nữ. Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân chính là GS
Lê Thi Trong hai nghiên cứu của mình là Cuộc sống của phụ nữ đơn thân Việt
Nam và Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, Lê Thi đã miêu tả khá chi tiết về
cuộc sống của những bà mẹ đơn thân. Tuy nhiên, hai cuốn sách này chủ yếu
thiên về nghiên cứu xã hội học, chỉ miêu tả về cuộc sống của những bà mẹ đơn
thân ở một khu vực nhất định. Đối tƣợng của Lê Thi hƣớng đến khá là đa dạng,
cả những trƣờng hợp góa phụ, li hôn và không kết hôn, địa bàn khảo sát là một
vùng nông thôn với những phụ nữ là công nhân. Những nghiên cứu của Lê Thi
vừa mở ra những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân, vừa là cơ sở để

nhìn nhận, so sánh với những mô hình bà mẹ đơn thân ở đô thị.
Gia đình ngƣời Việt Nam hiện nay có nhiều biến đổi và nhiều vấn đề khá
phức tạp. Chính vì thế những nghiên cứu về gia đình ngƣời Việt hiện nay tƣơng
đối nhiều và phong phú. Tiêu biểu cho những nghiên cứu này có cuốn Gia đình
người Việt ngày nay của Trƣơng Mỹ Hoa và Lê Thi, Nghiên cứu gia đình và
giới thời kỳ đổi mới của Nguyễn Hữu Minh chủ biên, Nhận diện gia đình Việt
Nam hiện nay của Lê Thị Hân…Những cuốn sách này có đề cập những vấn đề
của gia đình Việt Nam hiện nay trong đó có hiện tƣợng bà mẹ đơn thân. Tuy
nhiên những nghiên cứu này chỉ nói khái khái quát về sự ra đời của hiện tƣợng
này và một vài đánh giá về hiện tƣợng này đối với gia đình ngƣời Việt.
Nằm trong dự án nâng cao chất lƣợng đời sống của những hộ bà mẹ đơn
thân của Trung ƣơng Hội phụ nữ Việt Nam, một số bài báo viết về mô hình này

6


đã bắt đầu gợi mở những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân. Những
nghiên cứu này chú trọng đến mảng xã hội học và hƣớng đến xây dựng những
chính sách giúp đỡ cho những bà mẹ đơn thân.
Những nghiên cứu cụ thể và sâu sát nhất với cuộc sống của những bà mẹ
đơn thân ở khu vực đô thị có lẽ là những bài viết phản ánh về xu hƣớng này trên
báo chí. Những bài viết có nhân chứng cụ thể, có những sự kiện có thật đã phần
nào mô tả và có những đánh giá đúng đắn về xu hƣớng này. Tuy chỉ dựa vào
một vài trƣờng hợp cụ và những đánh giá còn sơ sài, không phải là những bài
nghiên cứu thực sự nhƣng những bài viết ấy vẫn cung cấp nhiều dẫn chứng, tƣ
liệu quý cho khóa luận.
Gần đây, đề cập đến vấn đề PNNĐT, chủ đề này đƣợc rất nhiều luận văn,
luận án tiến sĩ lựa chọn để thực hiện đề tài:
Lê Thị Việt Trinh (2011), Luận án “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ
nghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”. Tác giả

đã hệ thống các cơ sở lý thuyết về phụ nữ đơn thân, nêu lên những nhu cầu cơ
bản của phụ nữ nghèo đơn thân, từ đó tác giả chọn 1 trƣờng hợp để sử dụng
phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ thân chủ. Tác giả đề tài đã trú
trọng đến các giải pháp tăng năng lực của bản thân thân chủ, tìm kiếm và phát
huy điểm mạnh của thân chủ cùng với những nguồn lực hõ trợ từ bên ngoài để
giúp thân chủ có việc làm và tạo thu nhập ổn định.
Võ Thị Cẩm Ly (2017), Luận án tiến sĩ “Phụ nữ đơn thân làm mẹ ở nông
thôn Bắc trung bộ: chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” (nghiên cứu trƣờng
hợp tại Yên Thành, Nghệ An). Mục đích nghiên cứu của luận án là mang lại một
sự hiểu biết có hệ thống về chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của nhóm phụ
nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ mà cụ thể là ở huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó luận án hƣớng tới bổ sung một số quan

7


điểm lý thuyết về chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh
kế của họ. Một mục đích khác của luận án là qua kết quả nghiên cứu nêu lên một
số hàm ý về mặt chính sách để cải thiện sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân.
Ngoài ra, còn một số đề tài nổi bật nhƣ:
“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trƣờng và Phát triển. “Vai trò của
phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm
nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006.
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động
giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trƣờng
hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phƣơng, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008, đã đi
sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và
Xuân Phƣơng.
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ

nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến
lược thoát nghèo” (năm 2010) đã làm rõ bức tranh về thực trạng sự nghèo khổ
của phụ nữ ở đô thị.
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài:“Công tác
xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An” của tác giả Vũ Thị Phƣơng Hảo (năm 2011).
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Quyên với đề tài:
“Công tác xã hội nhóm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” (năm 2017) đã làm rõ bức tranh về thực
trạng sự nghèo khổ của phụ nữ vùng nông thôn.

8


Nhƣ vậy, có thể thấy, đề tài bà mẹ đơn thân vẫn và một đề tài mới, có
nhiều mảng trống trong nhiên cứu, nhất là nghiên cứu dƣới góc độ công tác xã
hội về nhu cầu việc làm và có thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với
phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ và phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động
công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để đề ra các giải pháp phát triển hoạt động
công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ
từ thực tiễn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động công tác xã hội
trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện
Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ
việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội.
4. Đối tƣợngvà phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

9


Phạm vi về thời gian thực hiện nghiên cứu: đềtài triển khai nghiên cứu từ
tháng 02/2019 đến tháng 09 năm 2019
Phạm vi về không gian: Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ Phụ nữ đơn
thân nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà
Nội.
Phạm vi về khách thể: 60 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ 25 đến
55 tuổi; 02 cán bộ Phòng lao động thƣơng binh xã hội huyện; 02 cán bộ Hội phụ
nữ huyện.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài áp dụng cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng: từ những đánh
giá thực trạng về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, thực trạng
của hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để rút ra đƣợc
những lý luận và đƣa ra đƣợc những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả
dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn
huyện.
Nghiên cứu vấn đề về lý luận trong hệ thống tiếp cận chỉnh thể: nghiên

cứu hệ thống những lý luận có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố
có liên quan đến hoạt động hỗ trợ việc làm của công tác xã hội đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên
cứu của đề tài. Nguồn tài liệu nghiên cứu đƣợc sử dụng cho đề tài đƣợc khai thác
từ 02 mảng chính nhƣ sau:

10


 Phân tích tài liệu, tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc về tình
hình việc làm đối với phụ nữ, phụ nữ đơn thân qua các sách báo, tạp chí, và
mạng Internet. Đồng thời tìm hiểu các tài liệu tập huấn, một số kỹ năng Công tác
xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn và một số luật, chính sách cho
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để có kỹ năng làm việc với nhóm đối tƣợng
này tại cộng đồng.
 Thông qua các báo cáo tổng kết hàng năm của huyện Quốc Oai; các báo
cáo của các tổ chức liên quan để biết tình hình việc làm đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ cũng nhƣ những hỗ trợ cho nhóm đối tƣợng này tại cộng
đồng.
* Phương pháp quan sát
Phƣơng pháp quan sát chính là một phƣơng pháp cơ bản để nhận thức
hiện tƣợng, sự vật. Nó đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và trong
nhiều giai đoạn nhƣ tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng các hoạt
động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con nhỏtại địa phƣơng. Mục đích của quan sát để hiểu về đời sống, nhu cầu,
mong muốn trong cuộc sống của họ…
* Phương pháp điều tra bảng hỏi

Điều tra bảng tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên cứu
nhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng việc làm tại địa phƣơng và nhu cầu
hỗ trợ từ các chính sách, các hoạt động đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ.Từ đó đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu, hoạt động hỗ trợ phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
Mẫu nghiên cứu: điều tra và lấy thông tin từ ngƣời đƣợc hỏi, tác giả tiến
hành chọn 60 phụ nữ đơn thân từ 25 đến 55 tuổi của 03 xã :xã Sài Sơn, xã Yên
Sơn, xã Cộng Hòa để thu thập thông tin, số liệu về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi

11


con nhỏ có đƣợc hƣởng và hỗ trợ của những dịch vụ công tác xã hội tại địa
phƣơng không, các dịch vụ công tác xã hội có phù hợp với nhu cầu mong muốn
của họ hay không; Những thông tin thu thập đƣợc từ bảng hỏi sẽ làm cơ sở cho
tác giả đề xuất những giải pháp thiết thực để các hoạt động công tác xã hội đối
với việc làm cho nhóm đối tƣợng phụ nữ nghèo đơn thân phù hợp và đạt hiệu
quả hơn.
Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cách lấy mẫu thuận tiện.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phƣơng pháp mà việc trao đổi trực tiếp giữa ngƣời
phỏng vấn và đƣợc trả lời phỏng vấn dựa trên các mục tiêu của đề tài nghiên
cứu.
Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thu thập các thông tin về thực trạng hỗ
trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các yếu tố tác động
đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng để có nhận định,hiểu rõ
hơnvề các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân
nuôi con nhỏ đồng thời đánh giá hiệu quả dịch vụ công tác xã hội tại địa phƣơng
đã đáp ứng nhu cầu của nhóm đói tƣợng này hay chƣa.
Phỏng vấn sâu đƣợc tiến hành với: 06 phụ nữ nghèo đơn thân của các xã

Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 03 cán bộ phụ trách công tác phụ nữ xã Sài
Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 02 cán bộ của Phòng lao động Thƣơng binh và
Xã hội của huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
* Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn sâu
tôi dùng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích… thể hiện tỷ lệ và tỷ trọng dƣới dạng
vẽ biểu đồ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận

12


Bằng phƣơng pháp tiếp cận công tác xã hội, đề tài đã tổng hợp đƣợc
khung lý luận nghiên cứu, đồng thời cũng là cơ sở lý luận của công tác xã hội
trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ. Qua đó đã tổng hợp
đƣợc các khái niệm, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, tiến trình công tác xã hội,
các nhân tố ảnh hƣởng và cơ sở luật pháp liên quan
Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm các hoạt động công tác xã
hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ
nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta thấy đƣợc bức tranh về thực trạng về đời
sống và việc làm của phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội . Qua đó giúp ta biết đƣợc nhu cầu về việc làm và các mong muốn
của họ. Đồng thời góp phần cung cấp thông tin với các tổ chức xã hội tại địa
phƣơng, đề xuất các giải pháp cũng nhƣ các khuyến nghị để có những chính
sách hỗ trợ nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏđể họ có cuộc sống tốt hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cầu luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chƣơng dƣới đây:

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm việc đối
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ
trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện
Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm tới

13


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội. Sau đây là một số
khái niệm về CTXH và nghề CTXH đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu và
những ngƣời thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:
Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ
(NASW) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang
tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng
tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ
và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]
Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW)
diễn ra vào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về CTXH
nhƣ sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và
giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải
mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã

hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và
môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản
của nghề nghiệp công tác xã hội”[14,43].
Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH. CTXH có
thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính
14


sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải
quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010
-2020: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo
các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình,
nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ.
Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ
xã hội”.
Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng
nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng
thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm
giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề
về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” [9, tr.4].
Nhƣ vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về CTXH, ta có thể tổng kết
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu
cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã
hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và
cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo

an sinh xã hội” [13, 19]
1.1.2. Khái niệm về nghèo
Nghèo là một hiện tƣợng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu. Nó
không những tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn
tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên mỗi quốc gia đều
sử dụng một khái niệm để xác định múc độ nghèo đồng thời đƣa ra các

15


tiêu chí xác định nghèo khổ. Giới hạn nghèo đói của các nƣớc đƣợc xác
định bằng mức thu nhập tối thiểu để ngƣời dân có thể tồn tại đƣợc, đó là
mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm đƣợc những vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo
mức giá cả hiện hành.
Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự
khốn cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập
hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo
báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói).
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ
theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa
phương”. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc khác
nhau là khác nhau.
Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng
thời điểm, từng quốc gia và đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Ở Việt Nam, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và

mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.3. Khái niệm về phụ nữ đơn thân
Về “phụ nữ đơn thân” đã có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo tác giả Lê Thi: “Phụ nữ đơn thân là những phụ nữ chƣa kết
hôn, đã từng kết hôn nhƣng vợ, chồng họ sống xa cách với rất nhiều lý do

16


cụ thể khác nhau” [tr.18-19; 12]. Với cách tiếp cận nhƣ vậy, tác giả đã
chia phụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính:
Phụ nữ đã kết hôn: là những ngƣời phụ nữ đã rơi vào tình trạng góa
bụa, ly thân ,ly hôn hay thiếu vắng chồng trong một thời gian dài.
Phụ nữ chƣa kết hôn: Là những ngƣời phụ nữ không lấy chồng hoặc
không bao giờ lấy chồng. Họ đƣợc chia thành hai nhóm : đó là và những
ngƣời sống độc thân, không xây dựng gia đình, những ngƣời phụ nữ
không lấy chồng nhƣng có con ngƣời giá thú hoặc nhận con nuôi
Phụ nữ đơn thân đƣợc tác giả đề cập trong đề tài nghiên cứu này
đƣợc hiểu là những ngƣời phụ nữ chƣa lấy chồng hay không muốn lấy
chồng, những ngƣời phụ nữ góa bụa, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ ly
hôn . Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc không có con. Họ có thể sống
một mình hay chung sống cùng con, gia đình, họ hàng [12].
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu
về nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đang đƣợc hƣởng chế độ
trợ cấp Bảo trợ xã hội.
1.1.4. Khái niệm công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân
CTXH với PNNĐT là hoạt động giúp đỡ chuyên nghiệp của nhân
viên CTXH nhằm hỗ trợ và tƣ vấn việc thực hiện các chức năng xã hội
của họ, huy động ngồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ
nhóm PNNĐT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động tƣ vấn, hỗ trợ

giúp họ một cách hiệu quả để họ vƣợt qua những rào cản và đảm bảo sự
tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng
nhƣ mọi ngƣời trong xã hội.
Mục đích của CTXH với PNNĐT là: Đánh giá, tìm hiểu mong
muốn và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, Tƣ vấn và giới

17


thiệu việc làm , Kết nối các nguồn lực, Hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã
hội, Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc
làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ. Trợ giúp, khuyến khích,
thúc đẩy và tăng cƣờng việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân,
nhóm, các tổ chức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào
việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ
xã hội, các nguồn tài nguyên và các chƣơng trình để đáp ứng những nhu
cầu của nhóm PNNĐT và hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi
những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chƣơng trìnhthông qua công tác
biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành
động chính trị để tăng quyền lực cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng và
sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội.
Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là ngƣời thu thập thông tin, lập
kế hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lƣợng giá,…và vai trò
gián tiếp là ngƣời tham vấn, tƣ vấn, ngƣời hoạch định chính sách, ngƣời
nghiên cứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ,
phối hợp vận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các
chƣơng trình, kế hoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và
ngƣời nhà họ các loại dịch vụ hỗ trợ để phát triển.
1.1.5. Khái niệm việc làm
Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con ngƣời để đảm bảo đáp ứng

đầy đủ cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Quyền lao động, đảm bảo
việc làm cho ngƣời lao động đã và đang đƣợc khẳng định trong Hiến pháp
nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã đƣợc cụ thể hoá trong
Bộ luật Lao động đầu tiên ở nƣớc ta. Việc làm và giải quyết việc làm cho

18


ngƣời lao động là một trong những mục tiêu ƣu tiên trong các chính sách
phát triển kinh tế – xã hội của nƣớc ta.
Điều 13, Bộ Luật Lao Động Việt Nam định nghĩa khái niệm việc
làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật
cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm.
Thực tế việc làm đƣợc thể hiện dƣới 03 hình thức nhƣ sau:
- Làm công việc để đƣợc nhận tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật
cho công việc làm đó.
- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền
sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến
hành công việc đó.
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả
thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Hình thức
này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do
chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu
hoặc quản lý.
Ngoài ra, ngƣời ta có thể chia việc làm thành việc làm toàn thời
gian, bán thời gian và việc làm thêm.
- Việc làm toàn thời gian: Đó là một công việc làm trong 8 tiếng/
ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày /tuần.
- Việc làm bán thời gian: Là một công việc làm không đủ thời gian,
giờ hành chính quy định của Nhà nƣớc 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi

tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 1 đến 5 tiếng / ngày và không
liên tục.
- Việc làm thêm: Là một công việc không chính thức và không
thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức, ổn định.

19


×