Tải bản đầy đủ (.docx) (59 trang)

DỰ BÁO VỀ TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU KHI GIA NHẬP WTO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (451.62 KB, 59 trang )

DỰ BÁO VỀ TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU KHI GIA NHẬP
WTO
3.1. Định hướng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
3.1.1. Phương pháp phân tích
3.1.1.1. Mục đích phân tích
Việc đánh giá triển vọng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
nhằm trả lời 2 câu hỏi sau: Sự thay đổi về cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2008 - 2010? và Việt Nam cần điều chỉnh cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất từ sự biến
động về nhu cầu thủy sản của thị trường EU?
Để trả lời hai câu hỏi trên, ngoài việc dựa vào phân tích thực trạng xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU, đồng thời dựa vào kết quả dự báo xu
hướng nhập khẩu từng mặt hàng thủy sản của EU trong giai đoạn 2008 – 2010, tác giả
sẽ dự báo định lượng về sản lượng xuất khẩu từng mặt hàng thủy sản của Việt Nam
trong thời gian tới. Để từ đó đưa ra các kiến nghị cho các doanh nghiệp xuất khẩu
thuỷ sản Việt Nam cần thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, thích ứng kịp thời với
sự biến chuyển về xu hướng tiêu dùng thuỷ sản mới của EU, đồng thời đưa kiến nghị
với Bộ NN & PTNT cần có chính sách định hướng mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam vào EU trong giai đoạn tiếp theo.
3.1.1.2. Mô hình sử dụng
Số liệu được thu thập bao gồm:
• Giá trị xuất khẩu thuỷ sản nói chung của Việt Nam vào thị trường EU từ
năm 2000 – 2007, đơn vị: tấn
• Giá trị xuất khẩu thuỷ sản đối với ba mặt hàng quan trọng của Việt Nam
vào thị trường EU từ năm 2000 – 2007, đó là mặt hàng cá tươi và đông lạnh các loại,
mặt hàng tôm đông lạnh và mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh, đơn vị: tấn
Mô hình dự báo được thực hiện dựa trên giả thiết các yếu tố khác không đổi.
Bảng 3.1. Sản lượng xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2000 – 2007 (đơn vị: tấn)
Xuất khẩu chung


Xuất khẩu tôm
đông lạnh
Xuất khẩu cá tươi
và đông lạnh các
loại
Xuất khẩu mực và
bạch tuộc đông
lạnh
2000 25.886,0 10.849,0 2.304,5 6.432,8
2001 30.442,0 9.756,4 4.701,6 5.838,0
2002 31.368,0 4.385,3 7.898,4 8.095,0
2003 41.200,0 5.622,2 13.380,1 9.688,4
2004 75.430,0 8.829,6 37.826,0 11.442,0
2005 130.721,0 17.721,0 75.291,1 14.472,0
2006 219.963,0 21.230,0 123.479,2 18.976,0
2007 279.793,0 21.633,0 172.871,1 19.235,0
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Tạp chí Thương mại thủy sản số 1/2000 – 3/2008
Từ các số liệu thu thập được, tác giả sử dụng 4 mô hình dự báo: hàm tuyến
tính, hàm bậc 2 (quadratic), hàm phức hợp (compound), hàm bậc 3 (cubic), hàm tăng
trưởng (growth) để dự báo giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam
sang thị trường EU từ năm 2008 – 2010. Việc dự báo đối với mỗi mặt hàng sẽ được
thực hiện trên tất cả các dạng mô hình, mô hình được lựa chọn là mô hình có sai số
chuẩn (SE) nhỏ nhất, phần mềm được sử dụng trong việc dự báo là phần mềm thống kê
SPSS. Kết quả tính toán được trình bày trong phần phụ lục 3.
.1.2. Dự báo giá trị xuất khẩu đối với một số mặt hàng của Việt Nam sang EU
3.1.2.1. Tổng giá trị xuất khẩu nói chung
Dựa trên số liệu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU từ năm
2000 – 2007 (phần 2.1.1), tác giả sử dụng phần mềm SPSS với 4 sạng hàm dự báo trên,
kết quả thu được dạng hàm phức hợp cho giá trị sai số SE thấp nhất, kết quả dự báo của
hàm này được sử dụng. Theo đó, sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị

trường EU giai đoạn 2008 – 2010 tăng trung bình 130 (nghìn tấn)/năm, từ 386 (nghìn
tấn) năm 2008 đến 631 (nghìn tấn) vào năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
28%/năm.
Bảng 3.2. Dự báo sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
N m ă
M tặ
h ngà
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 386.054,6 501.065,8 631.800,2
Với mức tăng sản lượng xuất khẩu được dự báo trong bảng trên, thị trường EU
trong giai đoạn tới vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam.
3.1.2.2. Mặt hàng tôm đông lạnh
Sản lượng tôm xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 sang các thị trường
1
đạt
161,3 (nghìn tấn), trong đó thị trường Nhật Bản là thị trường nhập khẩu tôm đông
lạnh lớn nhất của Việt Nam với 56,4 (nghìn tấn), thứ hai là Hoa Kỳ với 40,4 (nghìn
tấn). Thị trường EU xếp vị trí thứ ba đạt 21,6 (nghìn tấn), sản lượng này chỉ bằng
5
2
lượng tôm đông lạnh xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và bằng
2
1
đối với thị
trường Hoa Kỳ. Như vậy, mặt hàng tôm đông lạnh của Việt Nam hiện nay vẫn tập
trung chủ yếu vào thị trường Nhật Bản và Hoa Kỳ, thị trường EU chỉ chiếm một thị
phần tương đối thấp đối với mặt hàng này, sản lượng xuất khẩu tôm đông lạnh của
Việt Nam sang EU trong giai đoạn 2008 – 2010 được dự báo là ít có sự biến đổi, sản
lượng dự báo cụ thể được thực hiện ngay sau đây.

Sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu sang EU sẽ được dự báo dựa trên số liệu
xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU (trong chương 2). Sử dụng phần mềm
SPSS trên 4 mô hình dự báo, tác giả thu được bộ kết quả trong đó hàm dự báo bậc hai
có SE nhỏ nhất, theo đó, sản lượng tôm xuất khẩu sang EU trong các năm 2008 –
2010 lần lượt là.
Bảng 3.3. Dự báo sản lượng xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 22.128,5 25.943,3 30.415,6
Dựa vào kết quả dự báo trên, có thể thấy, sản lượng xuất khẩu mặt hàng tôm
đông lạnh của Việt Nam sang thị trường EU tăng chậm, chỉ đạt trung bình khoảng 3
(nghìn tấn/năm). Trong năm 2008, xuất khẩu tôm đông lạnh sang EU đạt 22,1 (nghìn
tấn) tăng gần 500 tấn so với năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng là 2,3% và đến năm 2010
sẽ đạt trên 30 (nghìn tấn). Với sản lượng dự báo này, thị trường nhập khẩu tôm đông
1 Số liệu xuất khẩu từng mặt hàng thủy sản chủ lực của Việt Nam sang các thị trường năm 2007 được
lấy từ nguồn: Tạp chí Thương mại Thủy sản số tháng 02/2008.
lạnh EU trong thời gian tới vẫn chiếm thị phần nhỏ, đứng sau Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Như vậy, xu hướng phân chia thị trường xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam trong
giai đoạn 2008 – 2010 là chưa hợp lý và chưa tận dụng hết thời cơ do sự biến động về
nhu cầu nhập khẩu tôm trên thị trường tôm thế giới đem lại.
3.1.2.3. Mặt hàng cá tươi và đông lạnh các loại
Dựa vào số liệu xuất khẩu các mặt hàng từ cá của Việt Nam vào thị trường EU
từ năm 2000 – 2007 (trong phần 2.1.2), các hàm dự báo được tính toán trên phần mềm
SPSS cho một bộ kết quả, trong đó hàm dự báo bậc hai có SE thấp nhất. Đây là kết quả
dự báo tốt nhất, theo đó sản lượng xuất khẩu cá của Việt Nam sang thị trường EU từ
năm 2008 – 2010 được cho bởi bảng sau.
Bảng 3.4. Dự báo sản lượng xuất khẩu mặt hàng cá tươi và đông lạnh
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 245.414 329.227 427.784

Xu hướng xuất khẩu các mặt hàng cá tươi và đông lạnh của Việt Nam sang thị
trường EU tăng với tốc độ rất lớn đạt trung bình 32%/năm và sản lượng tăng lên bình
quân hàng năm là 91 (nghìn tấn) trong giai đoạn 2008 - 2010. Mặt hàng cá tươi và đông
lạnh vẫn chiếm vị trí cao trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU,
điều này đã phát huy thế mạnh trong nuôi trồng và khai thác thủy sản của Việt Nam, do
Việt Nam có diện tích nuôi cá rộng lớn, sản lượng thu hoạch hàng năm cao. Dự báo
trong năm 2008 sản lượng xuất khẩu mặt hàng này đạt 245,4 (nghìn tấn), chiếm 64%
tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU, trong khi đó, sản
lượng xuất khẩu tôm chỉ chiếm 5,7%. Dự báo tới năm 2010, thị phần của mặt hàng cá
tươi và đông lạnh các loại sẽ tăng lên, đạt 67,8%, gấp 14 lần so với thị phần của mặt
hàng tôm đông lạnh (chỉ chiếm 4,8%) trong tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam sang thị trường EU.
3.1.2.4. Mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh
Dựa vào số liệu thống kê sản lượng xuất khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc của
Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2007, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để dự báo dựa
trên 4 dạng hàm, trong đó, dạng hàm tăng trưởng có SE nhỏ nhất, vậy kết quả dự báo
của hàm này được sử dụng.
Bảng 3.5. Dự báo sản lượng xuất khẩu mực và bạch tuộc đông lạnh
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: tấn)
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng dự báo (tấn) 32.937 40.874 50.722
Có thể thấy, mực và bạch tuộc là mặt hàng có sản lượng xuất khẩu tăng khá
nhanh sau mặt hàng cá đông lạnh sang thị trường EU. Dự báo trong năm 2008, mặt
hàng mực và bạch tuộc đông lạnh sẽ đạt sản lượng xuất khẩu là gần 33 (nghìn tấn),
tăng 6,4 (nghìn tấn) so với năm 2007. Xu hướng tăng bình quân trong giai đoạn 2008
– 2010 là khoảng 8,1 (nghìn tấn/năm), đạt tốc độ 24,1%/năm. Đây là xu hướng tăng
trưởng khá nhanh của mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam sang EU,
dự báo vào năm 2010, sản lượng xuất khẩu sẽ đạt 50,7 (nghìn tấn), chiếm 8% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU, thị phần này sẽ hơn 1,6 lần so
với mặt hàng tôm đông lạnh và chỉ bằng

8
1
so với mặt hàng cá đông lạnh.
Như vậy, dựa vào số liệu thống kê sản lượng xuất khẩu thủy sản nói chung và
từng mặt hàng thủy sản sang thị trường EU giai đoạn 2000 - 2007, việc dự báo sản
lượng xuất khẩu của các mặt hàng này trong giai đoạn tiếp theo là 2008 – 2010 đã trả
lời cho câu hỏi thứ nhất. Trả lời cho câu hỏi thứ hai là trong giai đoạn 2008 – 2010
Việt Nam cần thay đổi cơ cấu mặt hàng thủy sản như thế nào để đạt hiệu quả tối đa từ
sự biến động về nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thủy sản của EU, hay nói cách khác
Việt Nam cần tăng cường xuất khẩu mặt hàng thủy sản nào? và điều phối thị trường
xuất khẩu ra sao? để thích ứng kịp thời với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng của thị
trường EU, tác giả sẽ dựa trên việc so sánh giữa sản lượng xuất khẩu thủy sản dự báo
của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của thị trường EU đối với từng mặt hàng thủy sản
cụ thể, nhằm xây dựng nên cơ cấu mặt hàng hợp lý và đưa ra kiến nghị đối với Bộ
NN&PTNT. Việc phân tích sẽ theo nguyên tắc tăng cường xuất khẩu những mặt hàng
có nhu cầu cao, bổ thêm những mặt hàng mới mà thị trường EU có nhu cầu nhập
khẩu.
.1.3. Chuyển đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU
trong giai đoạn 2008 – 2010
Việc dự báo sản lượng xuất khẩu thủy sản nói chung và của từng mặt hàng sang
thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010, cho thấy tỷ trọng của từng mặt hàng có một số sự
thay đổi, mặt hàng cá tươi và đông lạnh các loại chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng dần
từ năm 2008 – 2010, tỷ trọng của hai mặt hàng tôm đông lạnh và mực và bạch tuộc
đông lạnh giảm dần.
Bảng 3.6. Tỷ trọng của một số mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2010
Sản lượng xuất khẩu (tấn) Tỷ trọng (%)
Năm 2008 2009 2010 2008 2009 2010
Xuất khẩu chung 386.054,6 501.065,8 631.800,2 100% 100% 100%
Mặt hàng cá tươi và

đông lạnh các loại
245.414,0 329.227,0 427.784,0 63,6% 65,7% 67,8%
Mặt hàng tôm đông lạnh 22.128,5 25.943,3 30.415,6 5,7% 5,2% 4,8%
Mặt hàng mực và bạch
tuộc đông lạnh
32.937,0 40.874,0 50.722,0 8,5% 8,2% 8,0%
Dựa vào bảng tỷ trọng các mặt hàng trên, tác giả đưa ra các phân tích sau về cơ
cấu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn tới.
Thứ nhất, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường xuất khẩu mặt hàng cá tươi và
đông lạnh các loại sang thị trường EU. Thị trường EU có nhu cầu nhập khẩu rất lớn
đối với các loại sản phẩm thủy sản từ cá, đối với các sản phẩm từ cá nước ngọt được
người tiêu dùng EU rất ưu chuộng, trong đó có các loài cá da trơn là một thế mạnh và
cũng là mặt hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam. Do thị phần mặt hàng này của Việt
Nam tại thị trường EU rất thấp nên nguy cơ bị kiện bán phá giá có thể được loại trừ
trong giai đoạn tới, nên việc tiếp tục duy trì tốc độ và sản lượng xuất khẩu cao đối các
mặt hàng cá nước ngọt sang thị trường EU sẽ phát huy hết lợi thế của Việt Nam, đồng
thời duy trì được giá trị kim ngạch xuất khẩu do mặt hàng này mang lại, đạt được các
mục tiêu mà thủy sản Việt Nam đã đề ra.
Ngoài ra, trong giai đoạn tới nhu cầu nhập khẩu mặt hàng cá ngừ đại dương
tăng lên rất nhanh, với tốc độ tăng trung bình đạt 5% và vào năm 2010 dự báo sản
lượng nhập khẩu sẽ đạt 555,7 (nghìn tấn), đây là mặt hàng mang lại giá trị xuất khẩu
cao, do đó, Việt Nam cần tăng cường xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU. Các
thị trường mà mặt hàng cá ngừ Việt Nam có thể thâm nhập trong thời gian tới là Anh,
Đức, Pháp, Italia và Tây Ban Nha, do các thị trường này có nhu cầu nhập khẩu cá ngừ
lớn nhất trong khối EU trong giai đoạn 2008 - 2010.
Thứ hai, Việt Nam cần chuyển dịch thị trường trong việc xuất khẩu mặt hàng
tôm đông lạnh. Theo dự báo về nhu cầu nhập khẩu tôm đông lạnh của EU, Hoa Kỳ và
Nhật Bản là 3 quốc gia và khu vực nhập khẩu tôm lớn nhất trên thế giới, theo đó, xu
hướng nhập khẩu tôm đông lạnh của 3 thị trường này có sự chuyển biến lớn theo hướng
giảm nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản và Hoa Kỳ, tăng nhập khẩu vào thị trường

EU. Đây là sự chuyển biến không có lợi cho xuất khẩu tôm Việt Nam, một lý do đó là
cơ cấu thị trường của tôm đông lạnh Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007 vẫn tập trung vào
hai thị trường chính là Nhật Bản và Hoa Kỳ, trong năm 2007 thị phần xuất khẩu tôm
đông lạnh vào EU chỉ đạt 13,3% tổng sản lượng xuất khẩu tôm của Việt Nam, do đó,
khi hai thị trường truyền thống này có xu hướng giảm nhập khẩu tôm trong giai đoạn
tới sẽ tác động mạnh tới sản lượng xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam.
Mặt khác, theo dự báo sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu sang thị trường EU
sẽ tăng chậm trong giai đoạn tới, thị phần mặt hàng này trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản
dần giảm xuống và chỉ đạt 4,8% vào năm 2010 và đây là mặt hàng có mức giá khá cao,
do đó giá trị xuất khẩu đem lại từ mặt hàng này lớn hơn rất nhiều so với mặt hàng cá da
trơn là thế mạnh của Việt Nam.
Như vậy, sản lượng tôm đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang EU được dự
báo trong thời gian tới là chưa tận dụng được thời cơ từ sự chuyển biến nhu cầu nhập
khẩu tôm trên thị trường thế giới mang lại, trong giai đoạn từ nay – 2010 Việt Nam cần
đẩy mạnh việc xuất khẩu tôm sang thị trường EU, chuyển dịch thị phần xuất khẩu đối
với mặt hàng này theo hướng tăng thị phần của thị trường EU nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng tôm rất lớn của thị trường này, giảm dần tỷ trọng của hai thị trường Nhật Bản
và Hoa Kỳ nhằm giảm thiểu nguy cơ tổn thất do nhu cầu nhập khẩu tôm của hai thị
trường này đang xuống thấp. Theo tác giả, Việt Nam cần tăng tỷ trọng mặt hàng tôm
đông lạnh trong tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU lên 10% vào năm
2010, đạt khoảng 65 (nghìn tấn) gấp đôi so với sản lượng được dự báo, với mức tăng
sản lượng này Việt Nam sẽ tận dụng được lợi ích do sự tăng nhu cầu tiêu dùng của EU
đối với mặt hàng tôm.
Thứ ba, Tây Ban Nha và Italia là hai thị trường nhập khẩu mặt hàng mực và
bạch tuộc đông lạnh nhiều nhất của Việt Nam trong khối EU, theo dự báo sản lượng
nhập khẩu của hai quốc gia này đạt 556,37 (nghìn tấn) vào năm 2010, trong khi đó, xuất
khẩu mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam vào Tây Ban Nha và Italia vào năm
2006 chỉ đạt 15,3 (nghìn tấn)
2
và dự báo trong năm 2010 sẽ tăng lên 50,7 (nghìn tấn).

Theo dự báo, mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu
sang thị trường EU tăng tương đối nhanh, điều này phù hợp với nhu cầu tăng nhập khẩu
mặt hàng này của EU trong thời gian tới.
.2. Một số giải pháp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc
kiểm soát chất lượng thủy sản nuôi trồng
2 Xin xem lại phần 2.2.4 – trang 46
Theo phân tích, rào cản kỹ thuật của EU đối với các sản phẩm thủy sản xuất
khẩu là nhân tố chính sản trở hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
trường này. Mặc dù Chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong nuôi trồng
thủy sản của Việt Nam đã được thực hiện gần 10 năm, song phạm vi hoạt động cũng
còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn gần đây, khi Bộ NN&PTNT cho phép các
doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản được phép nhập khẩu nguồn nguyên liệu
ở nước ngoài, phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu, thì hoạt động kiểm soát về chất
lượng nguyên liệu càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Đòi hỏi Bộ NN&PTNT phải
có giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình, kịp thời đáp ứng với yêu
cầu mới.
Nhằm giữ vững thị trường xuất khẩu, bảo vệ uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên
thị trường EU, Bộ trưởng Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) chỉ thị:
1. Uỷ ban Nhân dân các Tỉnh/Thành phố chỉ đạo các Sở Thuỷ sản/Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn có quản lý thuỷ sản:
a) Phổ biến rộng rãi và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quyết định số
07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 của Bộ Thuỷ sản về ban hành danh mục hoá chất,
kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản; Chỉ đạo các cơ
quan Báo, Đài tại địa phương tuyên truyền về tác hại của các loại thuốc thú y, hoá chất,
kháng sinh trong Danh mục hạn chế sử dụng và cấm sử dụng theo quy định của Bộ
Thuỷ sản, đặc biệt là Malachite Green.
b) Chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp dưới xây dựng vùng sản
xuất, chế biến nông sản thực phẩm, đặc biệt là sản xuất rau quả, chè và chăn nuôi gia
súc, gia cầm, thuỷ sản an toàn, xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm hợp vệ sinh,
bảo vệ môi trường.

Chỉ đạo, triển khai và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về
vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt các quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
của các cơ sở bếp ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, lễ hội, thức ăn đường phố,
chợ, cảng, trường học, khu công nghiệp và chế xuất; quy định rõ trách nhiệm của các đơn
vị có cơ sở dịch vụ ăn uống, kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cung ứng dịch vụ ăn uống; xử lý
nghiêm các vi phạm.
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các
bệnh truyền qua thực phẩm theo quy định của pháp luật.
c) Chủ động chỉ đạo, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Văn hóa - Thông tin, xây dựng
chương trình, phổ biến kiến thức và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm đến các nhóm
đối tượng; lồng ghép nội dung bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm vào tiêu chuẩn công
nhận làng văn hoá, gia đình văn hoá.
d) Khẩn trương thành lập và ổn định tổ chức, chức năng nhiệm vụ của cơ quan
quản lý chất lượng và thú y thủy sản theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số
01/2005/TTLT-BTS-BNV ngày 3/2/2005 của liên Bộ Thủy sản và Bộ Nội vụ, đồng thời
với việc tăng cường đầu tư trang thiết bị cho phòng kiểm nghiệm chất lượng hoá chất
kháng sinh và dịch bệnh của đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý CL, ATVS thuỷ sản tại
địa phương.
e) Kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo liên
ngành vệ sinh an toàn thực phẩm từ cấp tỉnh đến cấp xã. Hàng năm cần xây dựng kế
hoạch hoạt động, tổ chức phân công thực hiện và giám sát, kiểm tra, đánh giá thực
hiện kế hoạch của các cấp, các ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
f) Chỉ đạo bố trí nhân lực quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đến tuyến xã,
phường, thị trấn; tổ chức và bố trí đủ nhân lực thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an
toàn thực phẩm đến tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
g) Tăng cường đầu tư ngân sách và trang thiết bị cho các hoạt động vệ sinh an
toàn thực phẩm ở địa phương.
2 . Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản:
a) Khẩn trương chỉ đạo xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu sản xuất

nông sản thực phẩm an toàn; triển khai áp dụng GMP, GHP, HACCP cho các doanh
nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm thuộc ngành quản lý; tổ chức tập huấn, tuyên
truyền về các quy trình, quy phạm bảo đảm an toàn thực phẩm cho các hộ nông dân sản
xuất nông sản, thủy sản thực phẩm; thông tin, hướng dẫn người sản xuất về tiêu chuẩn
của các thị trường quốc tế.
b) Chỉ đạo thường xuyên giám sát, kiểm tra tồn dư hoá chất độc hại trong nông
sản, thuỷ sản thực phẩm trước khi thu hoạch, sơ chế, bảo quản ở các vùng sản xuất
nông sản thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ giết mổ và vệ sinh thú y, vệ sinh thuỷ sản; xử
lý nghiêm các vi phạm.
Sản phẩm nông sản, thủy sản trước khi xuất khẩu hoặc đưa ra thị trường tiêu
thụ trong nước phải được chứng nhận bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp
kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đúng chất lượng, chủng loại, liều lượng, thời gian cách
ly của các loại vật tư nông nghiệp sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản, chế
biến. Xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm.
d) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy
định, quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, bảo quản, chế biến
sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản.
3. Các Sở Thủy sản và Sở NN&PTNT có quản lý thủy sản:
Chỉ đạo cơ quan Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản trực
thuộc, triển khai đồng bộ các hoạt động:
a) Tổ chức đợt tổng kiểm tra điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh, đặc biệt là
kiểm soát các loại hóa chất, kháng sinh cấm đối với các đối tượng đã phân công cho
địa phương quản lý (tàu cá, cảng, chợ, đại lý, cơ sở sản xuất cung ứng thức ăn, thuốc
thú y, cơ sở nuôi trồng thủy sản). Phát hiện và xử phạt nghiêm các trường hợp vi
phạm.
b) Theo hướng dẫn nghiệp vụ và phương pháp của Chi cục Quản lý Chất
lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng chủ trì tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn
về kiến thức đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh cho các cơ sở sản xuất kinh doanh
thuỷ sản có liên quan đến hoá chất, kháng sinh tại địa phương.

c) Phối hợp với lực lượng khuyến ngư địa phương hướng dẫn cho các chủ đầm
nuôi kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào của quá trình nuôi. Quản lý tốt hoạt động
dịch vụ thú y, đặc biệt là hoạt động của các tổ chức, cá nhân hành nghề phòng trị bệnh
thuỷ sản và xử lý ao đầm, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi
phạm.
4. Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản:
a) Kiểm soát chặt chẽ xuất xứ nguyên liệu của các lô hàng thủy sản xuất khẩu
vào thị trường EU, Canada, Thụy Sĩ, Mỹ… về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm.
Riêng sản phẩm thuỷ sản nuôi xuất khẩu vào thị trường EU, Canada và thị trường có
yêu cầu tương đương, phải bổ sung thêm chỉ tiêu Malachite Green và dẫn xuất của nó
(Leucomalachite Green), các loại kháng sinh hạn chế sử dụng đặc biệt là nhóm
Fluoroquinolone đối với các lô hàng thủy sản xuất khẩu. Thực hiện nghiêm túc cam kết
với EU về việc tạm đình chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu vào EU có lô hàng bị phát hiện
dư lượng kháng sinh, hoá chất cấm hoặc hạn chế sử dụng.
b) Phổ biến đến các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y,
chủ đầm nuôi, tổ chức cá nhân hành nghề thú y thuỷ sản, các cơ quan chất lượng, thú y
địa phương và cơ quan khuyến ngư các tỉnh/thành phố trong cả nước về tình hình chất
lượng sản phẩm thủy sản Việt Nam tại thị trường nhập khẩu, và hướng dẫn các biện
pháp khắc phục.
c) Hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú
y thuỷ sản các tỉnh, thành phố thực hiện đợt tổng kiểm tra và sau đó duy trì hoạt động
kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm theo qui định của pháp luật các tổ chức cá nhân nhập
khẩu, sản xuất, kinh doanh, sử dụng Malachite Green, Chloramphenicol,
Nitrofurans… trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản.
d) Phối hợp với Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư
các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn sử dụng chất thay thế Malachite
Green. Phối hợp với Vụ Khoa học Công nghệ và các Viện Nghiên cứu thuỷ sản trong
việc nghiên cứu mức tồn dư Malachite Green và khả năng phân huỷ của nó trong môi
trường để đề xuất biện pháp xử lý phù hợp.
e) Thường xuyên cập nhật danh mục các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn

chế sử dụng của các tổ chức quốc tế, các nước nhập khẩu chủ yếu (EU, Mỹ, Nhật) để
trình Bộ ban hành các qui định bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.
f) Rà soát, sửa đổi Quy chế Kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong thuỷ
sản và sản phẩm động vật thuỷ sản nuôi ban hành theo Quyết định số 15/2002/QĐ-
BTS ngày 17/5/2002 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản và trình Bộ ban hành.
g) Tăng cường và tập trung năng lực thiết bị phân tích để đáp ứng yêu cầu kiểm
tra lô hàng thủy sản và kiểm soát các sản phẩm phục vụ nuôi trồng (hóa chất, thuốc thú
y, thức ăn, chế phẩm sinh học).
h) Hướng dẫn nghiệp vụ, phương pháp kiểm tra dư lượng hoá chất, kháng sinh
cấm sử dụng (đặc biệt là Malachite Green) cho cơ quan quản lý chất lượng và thú y
thuỷ sản các tỉnh, Thành phố để các cơ quan này thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát hoá
chất, kháng sinh bị cấm và hạn chế sử dụng trong nguyên liệu thủy sản nuôi trước khi
thu hoạch và thực hiện cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho toàn bộ nguyên liệu
theo từng đơn vị bè/ đầm nuôi.
i) Hướng dẫn nghiệp vụ và phương pháp cho cơ quan kiểm tra chất lượng và
thú y thuỷ sản các tỉnh, thành phố triển khai hoạt động mã hoá các cơ sở nuôi, cơ sở thu
gom, bảo quản, vận chuyển nguyên liệu để triển khai nhanh hoạt động kiểm tra công
nhận điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh đối với các cơ sở này, và phục vụ công tác truy
xuất nguồn gốc nguyên liệu của lô hàng.
j) Chỉ thực hiện kiểm tra cấp chứng thư các lô hàng xuất khẩu đi EU, Canada
và thị trường có yêu cầu tương đương có đủ giấy chứng nhận hoặc phiếu phân tích các
loại kháng sinh cấm và Malachite Green cho từng lô nguyên liệu sử dụng để sản xuất ra
lô hàng đó.
5. Vụ Khoa học Công nghệ, Vụ Nuôi thủy sản:
Có trách nhiệm phối hợp với Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú
y thuỷ sản trong việc phổ biến tác hại của các loại hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế
sử dụng, hướng dẫn các trường Đại học, Trung học và Dạy nghề liên quan đến nuôi
trồng và chế biến thủy sản cập nhật các qui định của Nhà nước và của Bộ Thủy sản về
hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong thủy sản, và chỉ đạo các Viện
Nghiên cứu thuộc Bộ triển khai các đề tài nghiên cứu phòng trị bệnh thủy sản bao gồm

nội dung nghiên cứu các loại kháng sinh thay thế các chất bị cấm sử dụng trong phòng
trị bệnh cho thủy sản.
6. Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia:
Chủ trì, phối hợp với Cục Quản lý Chất lượng An toàn Vệ sinh và Thú y Thủy
sản, các Sở Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có quản lý thủy sản tăng
cường tuyên truyền phổ biến cho ngư dân về tác hại khi sử dụng các chấtthuộc danh
mục kháng sinh, hóa chất cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản đặc biệt là
Malachite Green, Chloramphenicol, Nitrofurans.
7. Các Doanh nghiệp chế biến thủy sản:
a) Tăng cường kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong toàn bộ
quá trình sản xuất từ nguyên liệu đến thành phẩm. Tuân thủ nghiêm túc các quy định
của Bộ Thủy sản về kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh thủy sản, đặc biệt là kiểm
soát dư lượng các loại hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng.
b) Tuyệt đối không sử dụng nguyên liệu thủy sản không rõ nguồn gốc vào chế
biến các lô hàng xuất khẩu vào EU, Canada và những thị trường có yêu cầu tương
đương. Từng lô nguyên liệu nhập vào nhà máy phải có phiếu kiểm tra hoá chất, kháng
sinh. Trong trường hợp chưa có phiếu kiểm tra, phải được lấy mẫu kiểm tra để biết chắc
lô nguyên liệu đó không chứa kháng sinh cấm.
c) Các lô hàng thuỷ sản nuôi xuất khẩu vào EU, Canada và thị trường có yêu
cầu tương đương phải được chứng nhận không nhiễm dư lượng hoá chất, kháng sinh,
đặc biệt là Malachite Green, Leucomalachite Green.
d) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến vấn đề kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
8. Các cơ sở (đại lý) thu mua và cung ứng nguyên liệu thuỷ sản:
a) Phải tách rõ từng lô nguyên liệu, kèm tờ khai xuất xứ và phiếu kiểm tra dư
lượng hoá chất, kháng sinh bị cấm, đặc biệt là Malachit Green cho tất cả các lô hàng do
đơn vị thu mua và cung ứng.
b) Tuyệt đối không sử dụng các loại kháng sinh hoá chất cấm, kháng sinh hạn
chế sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 của Bộ Thuỷ sản để
bảo quản nguyên liệu.

c) Chấp hành nghiêm túc hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Chi cục Quản lý
Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng và cơ quan kiểm tra chất lượng và
thú y thuỷ sản tỉnh/thành phố.
d) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến vấn đề kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
9. Các cơ sở sản xuất thức ăn cho thuỷ sản, thuốc, chế phẩm sinh học, vi sinh
vật, hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản:
a) Nghiêm cấm việc nhập khẩu, tàng trữ, sản xuất, kinh doanh các hoá chất,
kháng sinh cấm sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 của Bộ
Thuỷ sản, đặc biệt là Malachite Green .
b) Chỉ được sản xuất, cung ứng cho người nuôi những mặt hàng đã được cấp
chứng nhận được phép sản xuất và tiêu thụ.
c) Mỗi lô hàng trước khi đưa ra thị trường phải thực hiện chế độ ghi nhãn theo
Thông tư 03/2000/TT-BTS ngày 22/9/2000 của Bộ Thuỷ sản hướng dẫn thực hiện
Quyết định 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định
số 07/2005 ngày 24/2/2005 của Bộ Thuỷ sản và phải kèm theo phiếu kiểm tra dư lượng
kháng sinh.
d) Chấp hành nghiêm túc hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Chi cục Quản lý
Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản vùng và cơ quan quản lý chất lượng và
thú y thủy sản các Tỉnh, Thành phố.
e) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến qui định kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
10. Chủ đầm, bè nuôi thuỷ sản:
a) Sử dụng thuốc, hoá chất đúng mục đích, không tùy tiện sử dụng thuốc, hoá
chất trong quá trình nuôi trồng thủy sản nếu chưa được hướng dẫn đầy đủ về thành
phần, tác dụng và qui trình sử dụng.
b) Nghiêm cấm sử dụng thuốc, hóa chất trong danh mục cấm sử dụng của Bộ
Thủy sản.
c) Phải lập sổ ghi chép chi tiết quá trình nuôi, đặc biệt là việc sử dụng thức ăn,
thuốc thú y và thông báo cho đại lý thu mua, doanh nghiệp về các thông tin liên quan

đến quá trình sản xuất tại đầm nuôi và phải thực hiện lấy mẫu kiểm tra dư lượng hoá
chất, kháng sinh cho nguyên liệu thuỷ sản trước khi thu hoạch.
d) Kịp thời thông báo cho cơ quan quản lý chất lượng và thú y thuỷ sản biết
những cơ sở cung ứng thuốc thú y, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, những tổ chức,
cá nhân hành nghề thú y thuỷ sản sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh bị cấm để
phòng và trị bệnh cho thuỷ sản.
e) Sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến vấn đề kiểm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thuỷ sản khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Chánh Văn phòng Bộ; Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và
Thú y thuỷ sản; Thủ trưởng các Cục, Vụ, Thanh tra Bộ; Giám đốc Trung tâm Khuyến
ngư Quốc gia và Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ; UBND các Tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương; Giám đốc các Sở Thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn có quản lý Nhà nước về thuỷ sản; và các cá nhân, tổ chức hoạt động
thuỷ sản chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.
3.3. Các giải pháp nâng cao hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
thị trường EU đối với Nhà nước
3.3.1. Hỗ trợ các doanh nghiệp do sự bất ổn của tỷ giá hối đoái
Việc đầu tiên trong giai đoạn đầu năm 2008, khi các doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn từ việc tăng lãi suất vay vốn trên thị
trường vốn, sự tăng giá của đồng nội tệ, giảm tỷ giá hối đoái, từ sự khan hiếm đồng
nội tệ. Điều này ảnh hưởng dây chuyền sang các hộ nuôi trồng thủy sản, do giá thu
mua thủy sản nguyên liệu xuống thấp, gây thiệt thòi và thua lỗ cho các hộ nuôi. Để
giúp đỡ và khuyến khích hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU trong thời
gian tới, Chính phủ cần chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu và có biện pháp hỗ trợ
các ngân hàng thương mại mua toàn bộ ngoại tệ mà các DN thu được từ xuất khẩu
theo tỷ giá Nhà nước công bố, không thu phí.
Chính phủ cần khuyến khích các DN thành viên sử dụng sang ngoại tệ khác
như EUR, đồng bảng Anh, yên Nhật, đô la Australia... và yêu cầu các ngân hàng phải
mua bán các loại ngoại tệ này như các ngoại tệ mạnh.
.3.2. Quy hoạch phát triển nuôi trồng nông, thủy sản

Quy hoạch phát triển nuôi trồng nông, thủy sản phải đảm bảo an toàn về sinh
thái, đa dạng về sinh học, phát triển nền nông nghiệp, thuỷ sản bền vững. Quy hoạch
phải đảm bảo phát triển nuôi trồng nông, thủy sản theo hướng phát triển bền vững, gắn
với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
Quy hoạch phải phát huy được lợi thế tối đa sinh thái của cả nước, rà soát, bổ
sung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết phát triển nuôi trồng nông, thủy
sản, kết hợp với việc lập các dự án đầu tư cụ thể. Gắn quy hoạch phát triển nuôi trồng
nông, thủy sản với quy hoạch phát triển thủy lợi và đê biển chung trên địa bàn. Trong
khi quy hoạch cần phối hợp với các ngành lâm nghiệp và thủy lợi xây dựng quy hoạch
hệ thống đê biển và các dự án đầu tư xây dựng đê biển, các dự án xây dựng mới, cải tạo
các hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng nông, thủy sản và chuyển dịch cơ cấu sản
xuất.
Định hướng điều chỉnh quy hoạch phải khai thác, phát huy được lợi thế các
vùng sinh thái theo hướng: Vùng sinh thái nước ngọt trồng lúa là chính, đồng thời đa
dạng hóa các sản phẩm khác để tăng nhanh hiệu quả kinh tế; Vùng sinh thái nước mặn
khai thác lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời phải bảo vệ được diện tích
rừng ngập mặn; Vùng sinh thái vừa nước mặn, vừa nước ngọt thì phải đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.
3.3.3. Hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn của EU
Hàng nông, thủy sản Việt Nam muốn thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường EU
phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường của thị
trường này. Để đáp ứng được các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với
nhập khẩu hàng nông, thủy sản, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của Nhà
nước về tài chính, thông tin, đào tạo nhân lực,...
a) Hỗ trợ tài chính
Các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản của Việt Nam phần lớn là doanh
nghiệp vừa và nhỏ nên rất hạn chế về vốn trong việc đổi mới công nghệ chế biến
(thay thế công nghệ cũ, lạc hậu bằng công nghệ hiện đại ít gây ô nhiễm môi
trường/công nghệ sạch) và đầu tư trang bị thiết bị xử lý môi trường. Chính vì vậy,
rất cần sự hỗ trợ tài chính của nhà nước. Nhà nước có nhiều biện pháp hỗ trợ doanh

nghiệp về mặt tài chính:
Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 3 đến 5 năm đầu cho những doanh
nghiệp chế biến nông, thủy sản mới thành lập tuỳ theo loại sản phẩm và theo từng
vùng. Dành thuế ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo vệ
môi trường.
Các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế
được ưu tiên vay vốn từ các nguồn tín dụng ưu đãi của nhà nước để đầu tư trang bị và
đổi mới công nghệ thiết bị chế biến và xử lý môi trường.
Nhà nước dành vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư hàng năm cho chương trình phát
triển nuôi trồng thủy sản các hạng mục sau: (1) Quy hoạch cụ thể các vùng nuôi, xây
dựng hệ thống thủy lợi, đường giao thông, điện; (2) Đầu tư xây dựng các trung tâm
quốc gia giống thủy sản để tạo ra giống sạch và có chất lượng; (3) Đầu tư xây dựng
các trạm quan trắc cảnh báo môi trường.
Các hộ nông dân và các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu được vay
vốn từ các chương trình hỗ trợ phát triển cây trồng, vật nuôi để sản xuất nguyên liệu.
Mức vốn vay tương ứng với quy mô sản xuất nguyên liệu. Ưu tiên cho vay vốn các hộ
sản xuất nông sản sạch và thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường.
Tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
vay, trong đó ưu tiên cho vay vốn để phát triển sản xuất thủy sản sạch đảm bảo sản
phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Nhà nước dành một khoản vốn ưu tiên từ các nguồn khác nhau (vốn ngân sách,
vốn viện trợ ODA, vốn vay dài hạn của các tổ chức quốc tế) để phát triển sản xuất
nguyên liệu thuỷ sản thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng, điều tra nguồn lợi, nghiên cứu
chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến, trước hết là công nghệ sản xuất giống các
loài có giá trị kinh tế, công nghệ đánh bắt xa bờ, hỗ trợ quản lý nghề cá, quản lý chất
lượng, quản lý môi trường, hỗ trợ công tác thị trường, đào tạo chuyên gia và cán bộ kỹ
thuật.
Vốn vay thương mại trung hạn và dài hạn với lãi suất ưu đãi dành hỗ trợ cho
nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản để đầu tư chiều sâu, phát triển công
nghệ, cho dân vay để xây dựng các trang trại nuôi trồng thuỷ sản lớn, đóng mới tàu

thuyền và phương tiện sản xuất.
b) Hỗ trợ thông tin
Thông tin về thị trường xuất khẩu đóng vai trò quan trọng giúp cho các doanh
nghiệp biết được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về các chủng loại sản phẩm để
đáp ứng. Đối với nông, thuỷ sản là hai nhóm hàng nhậy cảm với môi trường, thì việc
đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập khẩu hàng nông,
thuỷ sản là vấn đề mấu chốt trong xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường EU. Ngoài việc
chủ động tìm nguồn thông tin về thị trường, các quy định và tiêu chuẩn môi trường của
EU, các doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu sang EU rất
cần sự hỗ trợ của nhà nước trong lĩnh vực này.
Tạo ra nhiều kênh thông tin tới các doanh nghiệp, như các ấn phẩm, trang Web,
trung tâm cung cấp thông tin,... Hiện nay, đã có không ít ấn phẩm và các trang Web của
các cơ quan hữu quan được xây dựng nhằm mục đích này (Bộ Công Thương, Bộ NN &
PTNT, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Vneconomy,...). Tuy nhiên, nội
dung các thông tin về thị trường chưa đầy đủ, chưa tập trung và không mang tính cập
nhật.
Các bộ, ngành chức năng (Bộ Công Thương mại, Bộ NN&PTNT) cần phối
hợp tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu cho các doanh nghiệp về những quy định và
tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập khẩu hàng nông, thuỷ sản, đặc biệt tập
trung vào việc giải thích những quy định, tiêu chuẩn mới, đánh giá những ảnh hưởng
của chúng đối với hàng xuất khẩu (quy định bao bì và phế thải bao bì, quy định kiểm
tra thú y đối với thịt gia súc, gia cầm và thủy sản,v.v..., tiêu chuẩn quản lý môi trường
ISO 14001, EMAS). Thông qua các cuộc hội thảo này, các doanh nghiệp quan tâm tới
thị trường EU, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng nông, thủy sản
có được thông tin hữu ích về một trong những rào cản kỹ thuật khó vượt qua của thị
trường này. Trên cơ sở những thông tin có được, các doanh nghiệp điều chỉnh hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với yêu cầu và thị hiếu tiêu dùng trên
thị trường EU. Hiện nay, người tiêu dùng EU không chỉ ưa thích những sản phẩm có
chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mà còn phải thân thiện với môi
trường.

Các cơ quan chức năng của Việt Nam nên thường xuyên phối hợp với Phòng
Thương mại Châu Âu tại Việt Nam tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu về HACCP,
ISO 14001, GAP và tầm quan trọng của chúng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang EU.
Việc áp dụng các hệ thống này có những khó khăn, thuận lợi và mang lại những lợi ích
gì cho doanh nghiệp.
Thương vụ của Việt Nam ở EU và các nước thành viên EU nên chú trọng việc
truyền tải thông tin về những thay đổi trong các quy định và tiêu chuẩn môi trường của
EU đối với nhập khẩu hàng nông, thuỷ sản để giúp cho các Bộ ngành chức năng (Bộ
NN&PTNT và Bộ Thương mại) và các doanh nghiệp chế biến hàng nông, thuỷ sản xuất
khẩu sang EU kịp thời ứng phó với những thay đổi này nhằm hạn chế tối thiểu thiệt hại
do sự thay đổi mang lại, giữ vững thị trường và uy tín của hàng xuất khẩu Việt Nam.
Xây dựng cơ chế phối hợp hợp lý giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý
nhà nước. Sự cần thiết thể hiện ở chỗ doanh nghiệp có được thông tin và hiểu rõ các
chính sách, quy định mới của ta cũng như của thị trường EU, còn các cơ quan quản lý
có cơ hội tiếp thu những ý kiến thực tế từ phía doanh nghiệp phục vụ cho quá trình xây
dựng chính sách và quản lý nhà nước. Vấn đề quan trọng nhất là làm sao doanh nghiệp
có thể tiếp cận dễ dàng các cơ quan nhà nước, hay nói cách khác là thiết lập một kênh
thông tin. Một giải pháp hữu hiệu là xây dựng các hiệp hội ngành hàng (theo từng địa
bàn hoặc theo từng lĩnh vực kinh doanh) để có thể đại diện trực tiếp cho tiếng nói của
các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
Tạo điều kiện tổ chức các đoàn doanh nghiệp đi thực tế thị trường và tiếp xúc
với các cơ quan quản lý nhập khẩu của các nước EU, qua đó giúp doanh nghiệp có
được sự nhìn nhận và đánh giá thực tế về thị trường. Việc tổ chức các chuyến đi tự túc
của doanh nghiệp thường hạn chế do khó khăn kinh phí và chưa thông thạo thị trường
(nếu chưa có quan hệ kinh doanh bền vững). Vì vậy, các cơ quan hữu quan cần chú ý
hỗ trợ doanh nghiệp trong khâu thăm dò trực tiếp này. Trong trường hợp có sự chuẩn
bị trước và có sự hỗ trợ của nhà nước thì các chuyến đi của doanh nghiệp thường có
hiệu quả cao hơn, ví dụ: nhân dịp các chuyến thăm cấp cao, các đoàn của Chính phủ,
các đoàn do các Sở Thương mại tổ chức. Diễn đàn doanh nghiệp của các tổ chức kinh
tế khu vực và quốc tế cũng là nơi giao lưu và tiếp xúc giữa các doanh nghiệp trong và

ngoài nước.
Phối hợp với các chuyên gia của Uỷ ban Châu Âu và các cơ quan chuyên
trách về quy định, tiêu chuẩn môi trường của EU trong việc: (1) Cung cấp và cập nhật
thông tin về các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU; (2) Đánh giá tiêu chuẩn
môi trường của hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
Nghiên cứu đưa vào các dự án trong khuôn khổ tài trợ của phía EU cho Việt
Nam vấn đề nâng cao năng lực cho các cơ quan đánh giá tiêu chuẩn môi trường trong
nước, tiến tới hợp tác với phía EU trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp các tiêu chuẩn
của phía Việt Nam hoặc thừa nhận kết quả đánh giá của các cơ quan tiêu chuẩn, chất
lượng của Việt Nam. Các cơ quan phụ trách các vấn đề kinh tế thương mại (như Bộ
Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt
Nam,v.v...) nên đề nghị vấn đề này với các cơ quan chức năng về bảo vệ môi trường
để cân nhắc trong quá trình xây dựng các dự án về nâng cao năng lực môi trường.
c) Hỗ trợ đào tạo nhân lực
Đầu tư cho việc đào tạo các chuyên gia về xây dựng và đánh giá tiêu chuẩn môi
trường, nâng cấp các thiết bị chuyên dụng phục vụ cho công tác đánh giá, đầu tư xây
dựng mới các trung tâm đánh giá chất lượng môi trường, khuyến khích các đơn vị tư
nhân cung cấp các dịch vụ đánh giá.
Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật liên quan tới các tiêu chuẩn môi
trường cho các cán bộ trong lĩnh vực môi trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
những sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh các nội dung kỹ thuật, cũng
cần chú ý tới việc phổ biến và phân tích, đánh giá những ảnh hưởng của các quy định
về thương mại và môi trường trong WTO và trong các Hiệp định Đa phương về môi
trường.
Xây dựng các chương trình đào tạo thí điểm, áp dụng trên diện hẹp đối với các
doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến môi trường. Các chương
trình thí điểm một mặt góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm của
các doanh nghiệp về quản lý môi trường và kiểm soát các tác động của họ tới môi
trường, nâng cao nhận thức và hiểu biết về các tiêu chuẩn, đánh giá được những khó
khăn thực tế và những vấn đề nảy sinh khi áp dụng phổ biến các tiêu chuẩn môi trường,

mặt khác cũng cho phép ta đánh giá được nhu cầu và sự quan tâm của giới doanh
nghiệp đối với vấn đề này để có những giải pháp cụ thể hơn.
d) Hỗ trợ giải quyết tranh chấp vi phạm các quy định và tiêu chuẩn môi trường
Với vị thế bất lợi trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam
thường bị thiệt thòi khi phải theo đuổi các vụ kiện hoặc tranh chấp phát sinh do vi
phạm của một trong các bên liên quan. Điển hình là trường hợp kiện gần đây liên
quan đến sản phẩm cá tra và cá basa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Khó
khăn của các doanh nghiệp là: không nắm vững thủ tục kiện tụng, chuyên môn pháp
lý không sâu, không có đủ tiềm lực kinh tế để theo kiện (chi phí luật sư rất cao). Vì
vậy, vai trò của các cơ quan hữu quan nhà nước về vấn đề này là:
+ Có tiếng nói chính thức bảo vệ doanh nghiệp trên trường quốc tế trong các
trường hợp như phía đối tác tuyên truyền bất lợi cho ta, hoặc gây áp lực chính trị,...
+ Tư vấn cho các doanh nghiệp về mặt chuyên môn pháp lý, cung cấp hoặc giới
thiệu những luật sư tin cậy (ở các nước phát triển như Mỹ, EU, Canađa,... và một số nước
đang phát triển thường có các cơ quan chuyên trách về giải quyết tranh chấp thương mại
để hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi có những vụ kiện phát sinh).
+ Thông qua các kênh quan hệ chính thức để thương lượng trước khi xúc tiến
các bước giải quyết tranh chấp tiếp theo. Chẳng hạn, thông qua gặp gỡ giữa hai Chính
phủ hoặc hai cơ quan chuyên trách nhằm tận dụng sự tác động của chính phủ nước bạn,
hoặc tổ chức giải quyết tranh chấp cho các doanh nghiệp liên quan theo cơ chế trọng tài
thương mại quốc tế.
3.3.4. Bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp xuất khẩu trong quá trình đàm phán
thương mại
- Xác định được những khó khăn vướng mắc mà doanh nghiệp thường gặp phải
trên những thị trường thành viên liên quan trực tiếp đến việc áp dụng các tiêu chuẩn và
quy định môi trường của EU.
- Nghiên cứu nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng nông,
thuỷ sản về mở rộng thị trường (trong đó có tính tới mức độ ưu tiên các nhóm hàng,
khả năng sản xuất, chiến lược và định hướng phát triển của toàn ngành).
Các vấn đề trên có ý nghĩa lớn và nếu giải quyết được thì đàm phán thương mại

sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp.
Đó là vai trò của nhà nước và những vấn đề quan trọng cần cân nhắc. Tuy
nhiên, để thực hiện được giải pháp này đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan
nhà nước với nhau cũng như giữa các cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp. Ngoài
ra, sự trợ giúp (nghiên cứu, phân tích) của các cơ quan nghiên cứu cũng có ý nghĩa rất
lớn trong việc cung cấp đầu vào để xây dựng các phương án đàm phán thương mại.
3.3.5. Phối hợp giữa các Bộ ban ngành trong việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm của thủy sản xuất khẩu
1. Bộ Y tế:
a) Chủ trì cùng các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
của Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm, chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc các
Bộ, ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm.
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin và các Bộ, ngành liên quan xây
dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức triển khai công tác thông tin, giáo dục truyền thông
về vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với từng đối tượng; quản lý chặt chẽ nội dung
thông tin, quảng cáo về vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Chỉ đạo thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn
thực phẩm theo quy định pháp luật cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
có nguy cơ cao tiêu dùng trong nước và thực phẩm nhập khẩu; giám sát, kiểm tra, chấn
chỉnh việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận của các địa phương, kiên quyết không để các
cơ sở không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
d) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp thường
xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm; kiểm soát ô nhiễm vi sinh vật và tồn dư hóa chất trong thực phẩm lưu thông trên
thị trường.
đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tốt công tác phân tích,
dự báo nguy cơ, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm
cho các tuyến từ Trung ương đến cơ sở; hướng dẫn triển khai việc áp dụng hệ thống
quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành vệ sinh tốt

(GHP) và hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP).
e) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ngành liên quan
hoàn thành việc xây dựng Đề án Tổ chức và tăng cường năng lực cho các phòng kiểm
nghiệm trọng điểm về vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước, trình Thủ tướng Chính
phủ trong quý IV năm 2007.
Phối hợp với Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án về tổ chức
hệ thống quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm từ Trung ương
đến cơ sở.
g) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan rà soát các văn
bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm, đề xuất
những văn bản cần sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới đáp ứng yêu cầu phát triển của
đất nước và hội nhập quốc tế; xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm trình Chính phủ
vào quý IV năm 2008.
2. Bộ Công nghiệp:
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện các biện
pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, chế biến và bếp ăn
tập thể trong các nhà máy, xí nghiệp, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm trong khu công
nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ nguồn chất thải của các nhà máy, xí nghiệp do Bộ Công
nghiệp quản lý, để ngăn chặn ảnh hưởng tới các vùng nguyên liệu cho chế biến thực
phẩm; xây dựng lộ trình và triển khai áp dụng GMP, GHP và HACCP cho các doanh
nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm thuộc ngành quản lý.
b) Phối hợp với Bộ Y tế rà soát, xây dựng, thẩm định, ban hành và quản lý
chứng nhận hợp quy các quy chuẩn kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh
vực được phân công phụ trách.
c) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm trong
các cơ sở sản xuất thuộc phạm vi Bộ quản lý; xử lý nghiêm các vi phạm.
3. Bộ Thương mại:
a) Tăng cường kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn việc kinh doanh hàng thực
phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa,
có nguồn gốc nhập lậu và gian lận thương mại, hàng thực phẩm vi phạm pháp luật

vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực Bộ quản lý. Phối hợp với các cơ quan liên
quan truy nguyên nguồn gốc, xử lý nghiêm, triệt để các vi phạm.
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc
thực hiện các quy đinh bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ, siêu
thị, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và
các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án ngăn chặn tình trạng nhập lậu thực phẩm qua
biên giới; nghiên cứu đề xuất tổ chức cơ quan kiểm soát thực phẩm qua biên giới theo
hướng thống nhất một đầu mối, bảo đảm gọn nhẹ, hiệu quả trình Thủ tướng Chính phủ
vào quý III năm 2007.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ:
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan khẩn trương xây dựng và ban
hành đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập
quốc tế.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, rà soát các quy định quản lý liên quan
đến chất lượng, tiêu chuẩn và nhãn mác sản phẩm thực phẩm theo nguyên tắc bảo đảm
sự thống nhất, chặt chẽ và không chồng chéo.
5. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo chức năng và nhiệm vụ được giao:
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan phát hiện, điều tra xử lý và hỗ
trợ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chỉ đạo các lực lượng công an liên quan, bộ đội biên phòng phối hợp với lực
lượng hải quan và cơ quan của địa phương kiểm soát ngăn chặn việc nhập lậu thực
phẩm qua biên giới.
Đề xuất các chế tài, cơ chế, biện pháp xử lý các vi phạm pháp luật về vệ sinh an
toàn thực phẩm.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham gia tuyên truyền giáo dục nâng
cao nhận thức và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm
và các bệnh truyền qua thực phẩm cho đồng bào dân tộc khu vực đóng quân, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo.

6. Bộ Văn hoá – Thông tin:
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo tổ chức
công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm.
b) Chỉ đạo hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình các cấp từ Trung
ương đến cấp xã, các đội thông tin lưu động, đặc biệt Đài Truyền hình Việt Nam,
Đài Tiếng nói Việt Nam, hệ thống truyền thanh ở xã, phường dành thời lượng thích
đáng, thời gian phát sóng phù hợp để phổ biến kiến thức, quy định pháp luật và các
hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân.
7. Bộ Nội vụ:
Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan
xây dựng đề án về tổ chức hệ thống quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn
thực phẩm, sự phân công phân nhiệm giữa các Bộ, ngành, sự phân cấp giữa Trung ương
và các cấp địa phương nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý vệ sinh an
toàn thực phẩm và yêu cầu hội nhập quốc tế, trình Chính phủ trong quý IV năm 2007.
8. Bộ Tài chính:
a) Phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và các cơ
quan liên quan xây dựng cơ chế phối hợp và triển khai các biện pháp tăng cường quản
lý, kiểm soát việc nhập khẩu thực phẩm, vật tư phục vụ chăn nuôi, trồng trọt, chế biến,
bảo quản thực phẩm.
b) Cân đối bảo đảm tài chính cho các hoạt động của chương trình vệ sinh an
toàn thực phẩm.
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
a) Xây dựng kế hoạch đầu tư và huy động các nguồn lực từ xã hội và các tổ
chức quốc tế để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác bảo đảm vệ
sinh an toàn thực phẩm.
b) Phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Quy chế quản lý chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm đối với Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất.
3.4. Các giải pháp đối với doanh nghiệp trong việc nâng cao hoạt động xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU

3.4.1. Xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh
Đối với khai thác hải sản: Để sử dụng một lượng tàu thuyền đánh bắt xã bờ lên
tới gần 21 (nghìn chiếc) như hiện nay, nhu cầu về cán bộ tàu, thuyền (gồm thuyền trưởng,
thuyền phó, máy trưởng, máy phó), số cán bộ này cần được đào tạo mới hoặc bổ túc
nghiệp vụ để có đủ khả năng chỉ huy tàu, theo hướng chuyên nghiệp; bên cạnh đó số thuỷ
thủ cũng phải được tuyển chọn, đào tạo lại về nghiệp vụ là rất lớn để đáp ứng cho yêu
cầu khai thác. Trong quá trình đào tạo nên thực hiện cả trong và ngoài nước, một số tầu
đánh bắt khơi xa có thể thuê chuyên gia đánh cá giỏi ở các nước đến hướng dẫn và
chuyển giao nghiệp vụ khai thác và sử dụng các thiết bị đi biển;
Đối với nuôi trồng thuỷ sản, thực hiện đào tạo đủ lực lượng để bố trí hoàn thiện
hệ thống khuyến ngư trong các vùng trọng điểm nguyên liệu; nâng cao chất lượng cán
bộ kỹ thuật làm công tác giống để cung cấp giống có chất lượng cao cho nuôi trồng
thuỷ sản.
Đối với cán bộ quản lý và các doanh nghiệp, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán
bộ quản lý và kinh doanh ở các doanh nghiệp, nhằm đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển
của ngành theo hướng hội nhập. Quan tâm thích đáng đến việc đào tạo nghề theo hướng
chuyên môn hoá cho người lao động nghề cá; Bộ Thuỷ sản cần nhanh chóng tiêu chuẩn
hoá nghề nghiệp đối với công nhân trong các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến,
kinh doanh thuỷ sản,...
3.4.2. Tạo nguồn nguyên liệu ổn định
a) Trong nuôi trồng thuỷ sản: Nhanh chóng quy hoạch và đầu tư các vùng nuôi
trồng thuỷ sản tập trung theo quy mô công nghiệp với công nghệ tiên tiến theo mô hình
sinh thái bền vững tại các vùng trọng điểm nhằm tạo ra sản lượng nuôi trồng đủ lớn với
chất lượng nguyên liệu cao, giá cạnh tranh. Việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản sẽ được
hướng mạnh vào những mặt hàng có nhu cầu quốc tế và có giá trị xuất khẩu cao như:
tôm, cá biển (cá mú, cá vược, cá hồng, cá song...) và một số loài nhuyễn thể 2 mảnh
vỏ... Xây dựng hệ thống dịch vụ kỹ thuật, tuyển chọn, bồi dưỡng và cung ứng giống
chất lượng tốt sạch bệnh đạt hiệu quả cao. Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thức ăn
công nghiệp nhằm đảm bảo khoảng 80% thức ăn công nghiệp sản xuất trong nước để
đáp ứng nhu cầu nuôi trồng. Thường xuyên kiểm soát chất lượng môi trường vùng nước

nuôi trồng thuỷ sản để vừa đảm bảo phòng ngừa dịch bệnh, vừa đáp ứng đòi hỏi cao
của các thị trường lớn.
b) Trong khai thác thuỷ sản: phát triển mạnh mẽ năng lực tổ chức khai thác xa
bờ, đổi mới cơ cấu tàu thuyền, giảm dần đối tượng khai thác ven bờ xuống mức giới
hạn cho phép để đảm bảo khả năng tái tạo, phát triển của nguồn lợi thuỷ sản. Đầu tư
nâng cao kỹ thuật bảo quản sản phẩm thuỷ sản trên tàu đánh bắt cá xa bờ, kết hợp xây
dựng hệ thống các cơ sở dịch vụ hậu cần gồm cầu cảng, công trình điện nước, cung ứng
nhiên liệu... Mở rộng hợp tác với các nước có nghề cá tiên tiến liên doanh hợp tác khai
thác hải sản xa bờ, từng bước tiến tới khai thác cá đại dương.
Nhập nguyên liệu thuỷ sản để chế biến thuỷ sản xuất khẩu: nhập khẩu nguyên
liệu thuỷ sản từ các nước trong khu vực như Thái Lan, Inđônêxia, ấn Độ... để chế biến
xuất khẩu.
Cần áp dụng phương pháp quản lý chất lượng theo HACCP ở tất cả các cơ sở
từ đánh bắt, nuôi trồng đến thu gom bảo quản, vận chuyển, phân phối và chế biến thuỷ
sản để đảm bảo nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu đạt yêu cầu chất lượng và vệ
sinh an toàn thực phẩm. Đào tạo kiến thức về quản lý an toàn vệ sinh, tuyên truyền sâu
rộng trong doanh nghiệp, ngư dân và tất cả những người liên quan đến sản xuất kinh
doanh thuỷ sản. Các cơ quan quản lý Nhà nước Trung ương và địa phương cần phối
hợp đồng bộ để kiểm soát, ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc các hiện tượng sai trái trong
việc làm hàng giả, sử dụng hoá chất không được phép, huỷ hoại chất lượng nguyên liệu.
3.4.3. Các giải pháp nhằm đổi mới, tăng cường năng lực công nghệ chế biến
Đầu tư vào một số doanh nghiệp có vốn Nhà nước chiếm cổ phần chi phối, có
thị trường tiêu thụ, kinh doanh có hiệu quả, với quy mô lớn, công nghệ hiện đại đạt
trình độ tiên tiến của thế giới để đảm nhiệm vai trò đầu tầu về thị trường và công nghệ
trong chế biến xuất khẩu.
Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản tích cực và chủ động đầu tư
đổi mới công nghệ, sửa chữa, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá điều kiện sản xuất để áp
dụng quản lý chất lượng theo hệ thống HACCP. Khuyến khích các doanh nghiệp phát
triển các mặt hàng mới có hàm lượng công nghệ cao và nâng tỷ trọng mặt hàng có giá
trị cao lên 17 - 20% vào năm 2010.

a) Các giải pháp đẩy mạnh công tác thị trường
Các doanh nghiệp phải xây dựng bộ phận marketing bao gồm các cán bộ có
trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong nghiên cứu tình hình từng thị trường cụ
thể trên cơ sở đó hoạch định được chiến lược kinh doanh từ khâu đảm bảo nguyên liệu
sản xuất đến đầu tư chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị
trường, của khách hàng.
Đầu tư nghiên cứu tiếp tục mở rộng các thị trường trọng điểm EU, Nhật
Bản, Mỹ... Khi thuỷ sản của Việt Nam đã có vị trí vững chắc tại các thị trường này
thì việc mở rộng và phát triển thương mại thuỷ sản tại các thị trường khác sẽ không
quá khó khăn.
b) Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường
Xây dựng hệ thống thông tin một cách có hiệu quả từ nhiều kênh khác nhau
như: thu thập tại bàn, từ Internet, từ các thương vụ, cử đại diện ra nước ngoài... Làm
tốt công tác dự báo về cung, cầu, giá cả phục vụ cho các doanh nghiệp khi tham gia
vào thị trường quốc tế. Đa dạng hoá thị trường tránh việc lệ thuộc quá nhiều vào một
thị trường, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra. Đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp
thị hướng dẫn tiêu dùng, tích cực tham gia vào các hội chợ quốc tế nhằm quảng bá sản
phẩm ký kết được nhiều hợp đồng kinh doanh.
Nhìn chung, ngành thuỷ sản Việt Nam đã và đang thực hiện tốt tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình đó ngành đã liên tục điều chỉnh cơ chế quản lý
nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập, mặt khác đã có nhiều biện pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng thuỷ sản. Điều này, đã được chứng minh qua thị phần, kim ngạch
và tốc độ xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam những năm vừa qua. Điều đó chứng tỏ sự

×