Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính từ thực tiễn tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (818.35 KB, 113 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

MC DUY PHU

NGUYÊN TắC THẩM PHáN Và HộI THẩM NHÂN DÂN
XéT Xử ĐộC LậP Và CHỉ TUÂN THEO PHáP LUậT
TRONG Tố TụNG HàNH CHíNH - Từ THựC TIễN TỉNH HảI DƯƠNG

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2019


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

MC DUY PHU

NGUYÊN TắC THẩM PHáN Và HộI THẩM NHÂN DÂN
XéT Xử ĐộC LậP Và CHỉ TUÂN THEO PHáP LUậT
TRONG Tố TụNG HàNH CHíNH - Từ THựC TIễN TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH MINH H

H NI - 2019



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

MẠC DUY PHU


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN
TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ
ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ
TỤNG HÀNH CHÍNH..................................................................... 12
1.1.

Một số khái niệm liên quan đến nguyên tắc Thẩm phán và

Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật trong tố tụng hành chính......................................................... 12

1.1.1.

Khái niệm Thẩm phán và các quy định có liên quan theo pháp
luật Việt nam ..................................................................................... 12

1.1.2.

Khái niệm Hội thẩm nhân dân và các quy định có liên quan
theo pháp luật Việt nam..................................................................... 27

1.1.3.

Khái niệm xét xử độc lập .................................................................. 35

1.1.4.

Khái niệm xét xử chỉ tuân theo pháp luật.......................................... 36

1.1.5.

Khái niệm tố tụng hành chính ........................................................... 37

1.1.6.

Khái niệm Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính ............ 38


1.2.

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố
tụng hành chính ............................................................................... 39

1.2.1.

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành
chính từ Hiến pháp ............................................................................ 39


1.2.2.

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành
chính từ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ............................................. 41

1.2.3.

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành
chính từ Luật tố tụng hành chính....................................................... 42

1.3.

Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố
tụng hành chính .............................................................................. 43


1.3.1.

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập............................. 43

1.3.2.

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật ............... 46

1.3.3.

Mối quan hệ giữa “xét xử độc lập” với “chỉ tuân theo pháp luật”
trong tố tụng hành chính của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ..... 46

1.3.4.

Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật .................................................................. 47

1.4.

Một số yêu cầu đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố
tụng hành chính ................................................................................ 48

1.4.1.

Sự tuân thủ luật tố tụng hành chính và pháp luật hành chính ........... 48

1.4.2.


Các tổ chức Đảng không được can thiệp vào hoạt động xét xử
của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân .............................................. 51

1.4.3.

Năng lực của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân .............................. 52

1.4.4.

Sự không phụ thuộc về tổ chức, quản lý ........................................... 52

1.4.5.

Những quy định loại trừ để đảm bảo tính khách quan vô tư khi
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử các vụ án hành chính ...... 54

Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 57
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN
VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ
TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG ................58


2.1.

Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Hải Dƣơng ............ 58

2.2.


Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng
hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng....................... 62

2.2.1.

Thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân
tỉnh Hải Dương .................................................................................. 62

2.2.2.

Đánh giá việc tuân thủ nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành
chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương ....................................... 64

Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 82
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG ......................................................................... 83
3.1.

Quan điểm chung đảm bảo thực hiện nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân
tỉnh Hải Dƣơng ................................................................................ 83

3.1.1.


Tư pháp phải độc lập. Đó là tiền để để Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ..................................... 83

3.1.2.

Cần cải cách về tổ chức của ngành Tòa án ....................................... 87

3.1.3.

Cần có những tổ chức nghề nghiệp riêng của Thẩm phán ................ 89

3.1.4.

Cần đảm bảo bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân ................................................................... 90

3.1.5.

Cải cách tuyển chọn và đào tạo Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ...... 90

3.1.6.

Cần cải cách điều kiện và nhiệm kỳ của Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân............................................................................................. 92


3.2.

Giải pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

trong tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng .... 93

3.2.1.

Giải pháp chung................................................................................. 93

3.2.2.

Giải pháp cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương trong việc thực
hiện Nguyên tắc ................................................................................. 95

Kết luận chƣơng 3 ....................................................................................... 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 103


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHLB

Cộng hòa liên bang

CHND

Cộng hòa nhân dân

HĐND


Hội đồng nhân dân

HĐXX

Hội đồng xét xử

HVHC

Hành vi hành chính

KSV

Kiểm sát viên

MTTQ

Mặt trận tổ quốc

NLTS

Nông lâm thủy sản

QĐHC

Quyết định hành chính

SX

Sản xuất


TAND

Tòa án nhân dân

TTHC

Tố tụng hành chính

UB

Ủy ban

UBND

Ủy ban nhân dân

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy của nhà nước ta, Tòa án nhân dân có vị trí vô cùng quan
trọng. Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp... có nhiệm vụ bảo vệ công lý,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Tòa án có vị trí trung tâm và xét
xử là hoạt động trọng tâm”. Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí, vai trò
của Tòa án nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp, là một trong những
cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà nước có chức năng xét xử, là nơi biểu
hiện tập trung nhất của quyền tư pháp trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà
nước. Chức năng xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động của
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Theo đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân giữ vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, hệ thống Tòa
án cần phải xây dựng cho mình những nguyên tắc nhất định và phải triệt để
tuân thủ các nguyên tắc đó. Trong lĩnh vực tố tụng hành chính, Tòa án nhân
dân có rất nhiều nguyên tắc như: Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
trong tố tụng hành chính, Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm
nhân dân tham gia, Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, Nguyên tắc Tòa án
xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa… Mặc dù, Tòa án nhân dân đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách
không chỉ về mặt tổ chức, mà còn cả về phương thức hoạt động để đáp ứng

1


nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp nhưng những nguyên tắc cơ bản
dường như rất ít sự thay đổi. Trong các nguyên tắc đó thì nguyên tắc Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một
trong những nguyên tắc quan trọng.

Chính vì sự quan trọng của nguyên tắc này từ khi chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc
lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán. Một trong những nội
dung quan trọng đã được đề cập trong Sắc lệnh này đó là quy định về việc độc
lập xét xử của những người tham gia giải quyết các vụ án. Điều 47 Sắc lệnh
số 13/SL quy định: "Tòa án tư pháp sẽ độc lập đối với các cơ quan hành
chính, các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý, các cơ quan khác
không được can thiệp vào việc tư pháp”. Từ đó cho đến nay, ngành Tòa án
luôn luôn thể hiện sự độc lập của mình trong hoạt động xét xử. Sau này, tính
chất độc lập trong hoạt động xét xử được nâng cao hơn và được hiểu theo
nghĩa rộng hơn.
Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật không chỉ được quy định trong Sắc lệnh số 13/SL mà còn quy
định trong tất cả các bản Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật
tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 được sửa đổi bổ sung năm 1985, Luật tổ
chức Tòa án nhân dân năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 1993 và năm
1995, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Trải qua chiều dài lịch sử như
thế, Hiến pháp nước ta và Luật tổ chức Tòa án nhân dân luôn đề cao nguyên
tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị yêu cầu nhiệm
vụ trọng tâm trong thời gian tới là:

2


Khi xét xử, các Toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của
Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà,

trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, … để ra những
bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời
hạn quy định… .
Như vậy, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính cũng
đã đề cập đến nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật, nhấn mạnh tính chất quan trọng của nguyên tắc này.
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của
Nhà nước để giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Phán quyết của Tòa án
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân nhất là trong lĩnh vực tố tụng hành chính. Do đó, yêu
cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là
phải khách quan, toàn diện, đầy đủ. Muốn vậy, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân xét xử phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng hành chính là một trong những nguyên tắc cơ bản để
Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử, thể hiện quan điểm của Nhà nước trong
hoạt động xét xử. Thẩm phán và Hội thẩm có quyền đưa ra phán quyết trên cơ
sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan và chính
xác không phải phụ thuộc vào bất cứ sự tác động nào khác. Mặc dù được quy
định trong Hiến pháp và nhiều văn bản luật nhưng trên thực tế việc áp dụng
nguyên tắc này còn nhiều bất cập, chưa thực sự đem lại hiệu quả thiết thực
trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính. Đặc biệt theo tinh
thần Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lược

3


cải cách tư pháp đến năm 2020 thì việc đi sâu nghiên cứu nguyên tắc Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng
hành chính là vấn đề có ý nghĩa thiết thực phục vụ cho quá trình nghiên cứu

cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm đề tài viết luận văn cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật đã được rất nhiều học giả nghiên cứu. Có rất nhiều những bài
viết, những công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này ở nhiều cấp độ và
lĩnh vực khác nhau, không chỉ trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự mà còn
cả trong lĩnh vực tố tụng hành chính.
Nguyên tắc này có khi được nghiên cứu trong tổng thể những vấn đề
chung về ngành Tòa án như:
+ Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của
GS.TSKH. Đào Trí Úc chủ biên, NXB Khoa học xã hội Hà Nội năm 2002
nghiên cứu về hệ thống tư pháp, thực trạng việc cải cách tư pháp ở Việt nam;
+ Tư pháp trong nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đặt ra đối với
cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của GS.TSKH. Lê Cảm và PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004 đã nghiên cứu
các khái niệm về nhà nước pháp quyền, tư pháp, toà án và các yêu cầu đối với
toà án trong nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đặt ra đối với cải cách tư
pháp ở Việt Nam hiện nay;
+ “Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền” của PGS.TS. Nguyễn
Đăng Dung chủ biên, NXB Tư pháp Hà Nội năm 2004 đã nghiên cứu về thể
chế tư pháp, vai trò của tư pháp trong nhà nước pháp quyền;

4


Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu
về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo
pháp luật như:

+ Tính độc lập của Tòa án - nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý
luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam”
của TS. Tô Văn Hòa, NXB Lao động Hà Nội năm 2007 nghiên cứu tính độc
lập của Tòa án dưới góc độ lý luận và thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp để vận dụng
vào thực tiễn Việt nam;
+ “Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của LS.TS.
Lưu Tiến Dũng, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội năm 2012 đã làm rõ được độc
lập xét xử là một trong những yêu cầu đảm bảo cho nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam vận hành có hiệu quả;
+ “Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính” của GS.TSKH.
Đào Trí Úc và PGS.TS. Vũ Công Giao, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
năm 2014 đã đề cập đến quan điểm về tư pháp và liêm chính tư pháp mà
đặc biệt còn nêu lên mỗi quan hệ giữa độc lập tư pháp và liêm chính tư
pháp, mối quan hệ giữa độc lập của thẩm phán và liêm chính tư pháp và
các điều kiện để đảm bảo sự độc lập của thẩm phán nhằm bảo đảm nền tư
pháp liêm chính..
+ “Độc lập tư pháp ở Việt Nam và tiêu chí đánh giá” của GS.TS Lê
Hồng Hạnh và TS. Đặng Công Cường, Nhà xuất bản Hồng Đức năm 2015,
+ Luận văn "Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự", của Trần Thị Nhung San,
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1995 đã làm rõ khái niệm, nội dung và ý
nghĩa của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

5


+ Khóa luận tốt nghiệp: "Khi xét xử Thẩm phán, hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật", của Hàn Mạnh Thắng, Trường Đại học Luật Hà
Nội năm 1997;

+ Luận án của tác giả Nguyễn Hải Ninh “Các yếu tố bảo đảm độc lập xét
xử ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ tại Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2012.
+ Luận án của tác giả Bùi Thị Huệ “Nâng cao vai trò của Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân địa phương trong xét xử vụ án
hình sự” bảo vệ tại khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015;
+ Luận án của tác giả Đặng Thị Thanh “Năng lực của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hành chính qua thực tiễn thành phố Hà Nội” bảo vệ tại khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016 đã đưa ra được những vấn đề lý
luận về năng lực của Thẩm phán, các tiêu chí đánh giá năng lực Thẩm phán
trong xét xử vụ án hành chính; đánh giá thực trạng năng lực của Thẩm phán
trong xét xử vụ án hành chính thông qua việc đánh giá thực tiễn xét xử các vụ
án hành chính ở thành phố Hà Nội; đưa ra những quan điểm và giải pháp bảo
đảm năng lực của Thẩm phán trong xét xử hành chính.
Ngoài ra, còn có một số bài viết được công bố trên các tạp chí, diễn
đàn khoa học pháp lý liên quan đến nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đó là bài viết:
+ Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của tác giả Nguyễn Ngọc Chí, đăng
trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2009;
+ “Tiếp tục bàn về sự độc lập của Thẩm phán” của tác giả Đinh Thế
Hưng, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2010;
+ “Sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các cơ quan
tư pháp” của tác giả Trần Văn Độ, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 845 số 3/2013;
+ “Trao đổi ý kiến tổ chức Tòa án theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW

6


về cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Tất Viễn bảo đảm nguyên tắc độc
lập xét xử năm 2010;

+ "Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", của Trần Văn Kiểm, đăng trên Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 1 năm 2011;
+"Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét
xử của Tòa án" của tác giả Đỗ Thị Phương.
+ “Quan niệm khoa học về Độc lập xét xử” của tác giả Nguyễn Hải
Ninh đăng trên Tạp chí Thanh tra số 10/2012.
+ “Sự hình thành và phát triển tư tưởng độc lập xét xử” của tác giả
Nguyễn Hải Ninh, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2012.
+ “Nguyên tắc Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thực tiễn thực hiện và kiến nghị” của tác giả Trần Thị Thu Hằng, Ban chỉ đạo
cải cách Trung ương đăng trên tạp chí điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày
26/07/2018.
+ “Tăng cường tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử ở
Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Ngọc Hà đăng trên trang điện tử Đoàn luật sư
thành phố Hồ Chí Minh năm 2018;
+ “Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật - Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả TS
Nguyễn Quang Hiền, TAND thành phố Hồ Chí Minh đăng trên trang điện tử
Trường đại học kiểm sát Hà Nội năm 2018.
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan đến
nguyên tắc này.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận làm rõ được một số nội
dung của nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp

7


luật dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu được nghiên cứu
trong lĩnh vực tố tụng hình sự hoặc tố tụng dân sự, chưa có công trình nghiên

cứu nào đề cập một cách toàn diện, chuyên sâu về nguyên tắc này trong tố
tụng hành chính, kể từ khi Luật tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành.
Cùng với sự cởi mở hơn về dân chủ trong thể chế chính trị và nhận thức của
người dân trong việc khởi kiện vụ án hành chính, cho nên các vụ án hành
chính không chỉ tăng về số vụ, mà còn tăng về độ khó và tính chất phức tạp.
Do đó, việc nghiên cứu nguyên tắc này trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp
những đề tài, bài viết đi trước cùng với sự nghiên cứu, tìm tòi của mình, tác giả
luận văn đi sâu vào phân tích nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính - Từ thực tiễn
tỉnh Hải Dương. Để thấy rằng, việc áp dụng nguyên tắc này cần phải được
thống nhất cả về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng không chỉ trong lĩnh vực tố
tụng hình sự, tố tụng dân sự mà còn cả trong lĩnh vực tố tụng hành chính.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp luật về nguyên tắc
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong tố tụng hành chính.
Đồng thời, nghiên cứu sự vận dụng nguyên tắc này vào thực tiễn áp
dụng của tỉnh Hải Dương, để từ đó thấy được những hạn chế, bất cập để có
hướng đề xuất những giải pháp cụ thể.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra được những khái niệm liên quan đến nguyên tắc;
- Phân tích, làm rõ nội dung của nguyên tắc và những vấn đề có liên
quan đến nội dung của nguyên tắc;

8


- Đánh giá việc vận dụng nguyên tắc này trong thực tiễn xét xử các vụ
án hành chính của tỉnh Hải Dương;

- Đề xuất những giải pháp cụ thể để thực hiện tốt nguyên tắc này của
tỉnh Hải Dương.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Dựa trên lý luận và pháp luật quy định về nguyên tắc.
- Dựa trên thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trong xét xử các vụ án
hành chính của tỉnh Hải Dương.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong tố tụng hành chính
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc thực hiện
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương,
không phải Tòa án 12 huyện, thành phố của tỉnh Hải Dương.
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc thực hiện
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng hành chính từ khi Luật tố tụng hành chính năm 2015
có hiệu lực cho đến năm 2018.
6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lý luận
- Thứ nhất: Xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và phân công quyền lực
Nhà nước ở Việt Nam. Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
- Thứ hai: Xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà Tòa án là cơ

9


quan thực hiện quyền Tư pháp, hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công

lý. Tòa án phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc
vào bên nào. Chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật, Tòa án mới tồn tại
đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lý.
- Thứ ba: Xuất phát từ chế độ dân chủ nhân nhân ở nước ta. Việc xét xử
phải có Hội thẩm nhân dân tham gia. Nguyên tắc này đã được Hiến pháp và
pháp luật qui định. Đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng
“Nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Hội thẩm nhân dân đại diện, thay mặt
nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động
xét xử của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giúp
cho việc xét xử của Tòa án được rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình
thực tế và đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chung: Dựa vào quan điểm duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng,
Nhà nước ta về nguyên tắc,
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê.
7. Tính mới của đề tài nghiên cứu
Như đã phân tích ở phần tình hình nghiên cứu của đề tài thì các công
trình nghiên cứu của các học giả đi trước chủ yếu tập trung trong lĩnh vực tố
tụng hình sự và tố tụng dân sự, còn đây là công trình nghiên cứu mang tính
chất toàn diện, chuyên sâu về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về nguyên tắc này trên cơ sở
thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đưa ra giải pháp cụ thể áp dụng
cho Tòa án tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.

10



8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh sách các tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương.
Chương 1. Cơ sơ lý luận và pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính tại Tòa
án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

11


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN
VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
1.1. Một số khái niệm liên quan đến nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng
hành chính
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán và các quy định có liên quan theo pháp
luật Việt nam
1.1.1.1. Khái niệm Thẩm phán
Thẩm phán là người có vai trò quyết định trong việc thực hiện chức
năng xét xử của Tòa án. Vậy Thẩm phán là những người như thế nào?
Theo sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng do tác giả Nguyễn Duy Lâm
(chủ biên), Nhà xuất bản giáo dục đưa ra khái niệm Thẩm phán như sau:
Thẩm phán là một chức danh của Nhà nước trong Tòa án các cấp chỉ người

được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện việc xét xử các vụ
án. Với định nghĩa như trên, cho chúng ta cách hiểu chung nhất, khái quát
nhất về khái niệm Thẩm phán. Từ đó, chúng ta tham chiếu đến các quy định
của pháp luật Việt nam và một số nước trên thế giới về khái niệm Thẩm phán
để có cách hiểu chính xác nhất, toàn diện nhất.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: Thẩm phán là
người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch
nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử (khoản 1 Điều 65).
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định khái niệm Thẩm phán:
Công dân Nga đủ 25 tuổi trở lên, có trình độ đại học Luật, có 05 năm kinh
nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp lý, đã thi đỗ kỳ thi tuyển chức danh

12


Thẩm phán, có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán quận. Người có đủ tiêu
chuẩn nêu trên, đủ 30 tuổi trở lên với 7 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh
vực pháp lý, có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán ở Tòa án cao nhất của các
chủ thể liên bang. Người có đủ tiêu chuẩn trên, từ 35 tuổi trở lên với 10 năm
kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp lý có thể được bổ nhiệm làm Thẩm
phán Tòa án tối cao liên bang.
Các khái niệm trên chưa cụ thể, theo tác giả luận văn khái niệm Thẩm
phán có thể được hiểu như sau: Thẩm phán là một chức danh tư pháp, làm
việc trong cơ quan Tòa án, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật
tổ chức Tòa án nhân dân được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
1.1.1.2. Các quy định có liên quan đến khái niệm Thẩm phán theo pháp
luật Việt nam
* Tiêu chuẩn để được tuyển chọn Thẩm phán
Theo Luật tổ chức TAND năm 2014, để được tuyển chọn làm Thẩm
phán phải đảm bảo những tiêu chuẩn sau:

+ Tiêu chuẩn thứ nhất: Là công dân Việt Nam,
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên, tiêu chuẩn về quốc tịch. Để được tuyển
chọn làm Thẩm phán, phải là công dân Việt nam. Từ đó loại trừ những công
dân là người nước ngoài, người không quốc tịch sẽ không đủ tiêu chuẩn tuyển
chọn làm Thẩm phán ở Việt nam.
+ Tiêu chuẩn thứ hai: Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Có nghĩa là người được tuyển chọn Thẩm phán không được có bất kỳ
hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp
luật, chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước.

13


+ Tiêu chuẩn thứ ba: Có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và
trung thực;
Có nghĩa người được tuyển chọn làm Thẩm phán phải có cuộc sống
lành mạnh, tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng; Kiên quyết đấu tranh
chống lại những người, những hành vi có hại đến Đảng, đến Tổ quốc và nhân
dân; Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền;
Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo vệ công lý;
+ Tiêu chuẩn thứ tư: Có trình độ cử nhân luật trở lên;
Người được tuyển chọn làm Thẩm phán phải có bằng tốt nghiệp đại
học hoặc thạc sỹ, tiến sỹ về chuyên ngành luật do các trường trong nước có
chức năng đào tạo về chuyên ngành luật theo quy định cấp; nếu văn bằng tốt

nghiệp về chuyên ngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp, thì văn
bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam.
+ Tiêu chuẩn thứ năm: Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử;
Người được tuyển chọn Thẩm phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp vụ
xét xử trước đây do Học viện tư pháp (nay là do Học viện Tòa án) cấp;
+ Tiêu chuẩn thứ sáu: Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật;
Người được tuyển chọn Thẩm có thời gian công tác kể từ khi được xếp
vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Chấp hành
viên, Chuyên viên hoặc Nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát
viên, Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội,
cán bộ pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật, thời gian được bầu hoặc cử
làm Hội thẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là có thời gian làm công
tác thực tiễn pháp luật.

14


+ Tiêu chuẩn thứ bẩy: Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
được giao
Là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết còn
bao gồm yếu tố ngoại hình không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư
thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán.Trong trường hợp
một người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị xem xét xử lý
kỷ luật, nhưng chưa có Quyết định giải quyết cuối cùng của người hoặc cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền, thì chưa có đủ điều kiện để có thể được đề nghị
tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán (Điều 67)
* Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán
Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Thẩm phán được phân
định theo ngạch gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao

cấp; Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp. Mỗi một cấp Tòa án, điều
kiện bổ nhiệm Thẩm phán là khác nhau (Điều 66) cụ thể:
+ Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp: Ngoài những tiêu chuẩn quy
định tại khoản 1 Điều 67 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được
trình bầy ở phần trên, đòi hỏi người được tuyển chọn phải có thời gian làm
công tác pháp luật từ 05 năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải
quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố
tụng, đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp (khoản 1 Điều 68);
+ Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán trung cấp cũng giống điều kiện bổ
nhiệm Thẩm phán sơ cấp: Ngoài những tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều
67 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; đòi hỏi người được bổ nhiệm
phải là Thẩm phán sơ cấp từ đủ 05 năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ
án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định
của luật tố tụng, đã trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán trung cấp.
Trường hợp do nhu cầu cán bộ của Tòa án nhân dân, người chưa là Thẩm phán

15


sơ cấp nhưng có đủ tiêu chuẩn ở khoản 1 Điều 67 Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014, và có thời gian làm công tác pháp luật từ 13 năm trở lên; Có
năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền
của Tòa án theo quy định của luật tố tụng; Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn
vào ngạch Thẩm phán trung cấp thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm
Thẩm phán trung cấp. (Khoản 2,3 Điều 68)
+ Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp cũng giống điều kiện bổ
nhiệm Thẩm phán sơ cấp, trung cấp: Ngoài những tiêu chuẩn quy định tại
khoản 1 Điều 67 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; thì phải đảm bảo
điều kiện là Thẩm phán trung cấp từ đủ 05 năm trở lên, có năng lực xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp

cao theo quy định của luật tố tụng, đã trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm
phán cao cấp thi có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán cao cấp;
Trường hợp do nhu cầu cán bộ của Tòa án nhân dân, người chưa là
Thẩm phán trung cấp có đủ tiêu chuẩn đã được trình bầy ở trên và có thời
gian làm công tác pháp luật từ 18 năm trở lên; Có năng lực xét xử những vụ
án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp cao theo
quy định của luật tố tụng; Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn vào ngạch Thẩm
phán cao cấp thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán cao cấp.
Trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
điều động đến để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, tuy chưa đủ thời gian làm
công tác pháp luật nhưng có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện trên thì có thể
được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp,
Thẩm phán cao cấp (khoản 4,5,6 Điều 68);

16


+ Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
cũng giống điều kiện để được tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, trung
cấp, cao cấp: Ngoài những tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật tổ
chức Tòa án nhân dân năm 2014; người được tuyển chọn phải đảm bảo điều
kiện đã là Thẩm phán cao cấp từ đủ 05 năm trở lên, có năng lực xét xử những
vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
tối cao theo quy định của luật tố tụng thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm
làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Trong trường hợp đặc biệt người
không công tác tại các Tòa án nhưng giữ chức vụ quan trọng trong các cơ
quan, tổ chức trung ương, am hiểu sâu sắc về chính trị, pháp luật, kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc là những chuyên gia, nhà

khoa học đầu ngành về pháp luật, giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan,
tổ chức và có uy tín cao trong xã hội, có năng lực xét xử những vụ án và giải
quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao theo
quy định của luật tố tụng thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao (Điều 69).
Trong các điều kiện để được bổ nhiệm Thẩm phán, người được bổ
nhiệm phải đảm bảo điều kiện có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết
những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp mình được bổ nhiệm. Hiểu
như thế nào là có năng lực xét xử, đánh giá năng lực xét xử của Thẩm phán
dựa vào tiêu chí nào? Hiện nay, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể? Mặc dù chưa
có hướng dẫn cụ thể nhưng theo tác giả để đánh giá tiêu chí này, chúng ta cần
dựa vào tiến độ và chất lượng giải quyết công việc chuyên môn, công tác giải
quyết án trong một thời gian nhất định để đánh giá người được tuyển chọn có
năng lực xét xử hay không?
* Thủ tục bổ nhiệm: Sau khi đã đủ tiêu chuẩn, điều kiện làm Thẩm
phán, Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia đề nghị Chánh án

17


×