Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.09 KB, 29 trang )

SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ
1.1. QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP Y
TẾ TUYẾN CƠ SỞ
1.1.1. Tầm quan trọng của sự nghiệp y tế trong đời sống xã hội
 Tác động của các hoạt động y tế đến đời sống xã hội
Đời sống kinh tế – xã hội là hình thức biểu hiện cao nhất, tiến bộ nhất của
con người, khác xa với các hoạt động khác có trong thế giới tự nhiên ở chỗ con
người nhận thức được thực tại khách quan và các quy luật tự nhiên. Để phát triển
kinh tế – xã hội thì yếu tố quyết định phải chính là con người và mục tiêu của phát
triển kinh tế – xã hội phải hướng tới duy trì sự tồn tại, phát triển của con người.
Muốn vậy, con người phải có được một thể lực và trí lực thích hợp nhất, trong đó
thể lực lại là tiền đề cho tạo ra và nâng cao trí lực.
Thể lực thể hiện sự ngày càng thích nghi với môi trường sống của con người
và chính con người lại tự nhận thức, biết nâng cao thể lực thông qua các hoạt động
y tế của mình. Các hoạt động y tế với mục tiêu chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ con
người trước những tác động tiêu cực của môi trường sống. Khi có được sức khoẻ
tốt nhất, con người có điều kiện để tiếp thu và phát triển trí thức cho mình nhằm
xây dựng, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình ngày càng tốt hơn.
Các hoạt động y tế là phần không thể thiếu được trong xã hội loài người, con
người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản thân mà của
cả gia đình mình. Không một ai lại sống mà luôn luôn khoẻ mạnh cả bởi sự thay
đổi thường xuyên của môi trường sống cùng với sự vận động của thế giới tự nhiên.
Các hoạt động y tế mà con người sáng tạo ra cũng chính nhằm mục đích điều hoà
những tác động không tốt của môi trường sống tới con người.
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu được trong đời sống con người.
Tuy mỗi con người có cuộc sống khác nhau nhưng các hoạt động y tế lại đóng vai
trò tác động chung tới từng người nhằm duy trì và phát triển giống nòi. Qua những
tác động to lớn của y tế tới đời sống con người như vậy cho nên mỗi quốc gia trong
quá trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải chú trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức
khoẻ cho con người làm gốc, định hướng cho các chương trình kinh tế – xã hội


khác vì một mục tiêu chung là phát triển bền vững. Điều này cũng được thể hiện
xuyên suốt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước
ta, khẳng định một cách rõ ràng trong Nghị quyết TW4 của Ban chấp hành trung
ương Đảng khoá VII: Con người là nguồn tài nguyên qúi báu nhất của xã hội, con
người quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn qúi nhất của
mỗi con người và của toàn xã hội. Do vậy, với bản chất nhân đạo và định hướng
XHCN trong nền kinh tế thị trường, ngành y tế phải đảm bảo sự công bằng và hiệu
qủa trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
 Nhu cầu về các dịch vụ y tế
Trong sự phát triển ngày nay, khoa học – kỹ thuật ngày một hiện đại cũng là
điều kiện để phát triển lĩnh vực y tế theo kịp và đáp ứng nhu cầu đa dạng của con
người. Không chỉ khi mắc bệnh thì con người mới có nhu cầu được chạy chữa mà
chăm sóc sức khoẻ ban đầu lại là hết sức quan trọng. Từ khi chưa sinh ra, thai nhi
đã được hưởng các chương trình phòng chống bệnh tật hay các dịch vụ chăm sóc
khác qua chăm sóc người mẹ (tiêm chủng cho phụ nữ mang thai, khám và theo dõi
định kỳ thai nhi..). Suốt toàn bộ đời sống của mình con người luôn luôn đòi hỏi
được phòng ngừa bệnh tật tối đa và đến khi mắc bệnh lại cần điều kiện chữa trị tốt
nhất. Một chu trình phòng chống bệnh tật cho con người cứ diễn ra liên tục suốt
toàn bộ quá trình tồn tại của con người. Chính vì vậy, nhu cầu về các dịch vụ y tế
cho con người là vô cùng to lớn, mỗi người đều muốn mình nhận được những dịch
vụ y tế tốt nhất có thể có.
Do nhu cầu về các dịch vụ y tế rất lớn như vậy và lại mang tính chất đơn lẻ
của các cá nhân nên nhu cầu cần được xác định một cách thống nhất, có thể phân
định ra hai loại nhu cầu sau: nhu cầu do cá nhân xác định và nhu cầu do Chính phủ
xác định.
Sự can thiệp của Chính phủ vào việc xác định các nhu cầu về dịch vụ y tế
cũng là một tất yếu trong quá trình quản lý bộ máy Nhà nước và quản lý nền kinh
tế, đời sống xã hội. Bởi vì việc xác định các nhu cầu về dịch vụ y tế của các cá
nhân chỉ xuất hiện khi họ thực sự cần phải được khám chữa bệnh chứ ít cá nhân lại
thấy được mình phải được phòng bệnh hay cần làm gì để ngăn chặn các đại dịch

xảy ra. Các nhu cầu được xác định bởi Chính phủ nhằm góp phần đẩy lùi các đợt
dịch bệnh lây lan hay phòng ngừa những bệnh dễ mắc phải trong dân cư.
Từ việc định hướng xác định nhu cầu về các dịch vụ y tế mà trong quá trình
quản lý, Nhà nước sẽ có kế hoạch và thực thi các chương trình mục tiêu để đảm
bảo sức khoẻ cộng đồng và hơn hết là gây dựng được sự tin tưởng vào bộ máy Nhà
nước, hệ thống chính trị.
 Tìm hiểu về thị trường dịch vụ y tế
Xuất phát từ nhu cầu các dịch vụ y tế của con người và các nhu cầu này lại
có khả năng chi trả từ phía các cá nhân cho nên các mức giá và sản lượng tương
ứng sẽ được xác định, theo đó hình thành nên cầu về các dịch vụ y tế. Có cầu thì có
cung đó là điều mà các nhà kinh tế học đã chứng minh: Cung các dịch vụ y tế là
cung hạn chế bởi tính đặc thù và chuyên môn cao vốn có của ngành y tế. Khi cung
và cầu về y tế gặp nhau hình thành nên thị trường các dịch vụ y tế.
Điều quan trọng ở đây không phải là chúng ta đi tìm hiểu xem thị trường các
dịch vụ y tế hoạt động ra sao, mà điểm cốt lõi là đặc trưng của thị trường này có gì
khác biệt với các thị trường khác, nhằm định hướng cho công tác triển khai các
hoạt động trong sự nghiệp y tế với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự
quản lý của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường thì mọi hàng hoá, dịch vụ được định giá bởi thị
trường nhưng dịch vụ y tế lại không nên để thị trường kiểm soát mà phải có sự
quản lý của Chính phủ và được trợ cấp bởi Chính phủ theo một số điểm quan trọng
sau:
+ Thị trường dịch vụ y tế hoạt động phải đem lại mục tiêu công bằng, nhất là
đối với xã hội XHCN tồn tại ở nước ta. Nếu giá cả và khối lượng dịch vụ y tế được
xác định hoàn toàn bởi thị trường thì gây ra tình trạng mất công bằng, chỉ có những
người có đủ tiền mới được hưởng những dịch vụ y tế có thể với chi phí cao mà
những người có thu nhập thấp hơn không thể có được.
+ Để đạt được công bằng trong thị trường các dịch vụ y tế thì phải mất đi
tính hiệu quả tương ứng với công bằng đạt thêm được, cho nên đóng vai trò kiểm
soát thị trường Chính phủ đứng ra trợ cấp để phát triển các dịch

vụ y tế ngày một tốt hơn thông qua những chính sách của mình bằng nguồn Ngân
sách Nhà nước.
+ Dịch vụ y tế không thể là hàng hoá công cộng thuần tuý mà chỉ gần gũi
với hàng hoá công cộng thuần tuý ( vẫn tồn tại sự cạnh tranh nhưng rất hạn chế )
bởi đây là một yếu tố kích thích và tích luỹ cho thị trường dịch vụ y tế phát triển.
Hơn nữa, đời sống con người ngày một nâng cao nên có thể trang trải một phần chi
phí cho việc sử dụng các dịch vụ y tế, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách Nhà
nước.
+ Thị trường y tế phát triển kém hơn các thị trường khác do thiếu động cơ
lợi nhuận là điều dễ hiểu nhưng cần phải duy trì thị trường này bởi tính đặc biệt
của nó là chăm sóc sức khoẻ và liên quan trực tiếp đến tính mạng con người. Khi
thị trường các dịch vụ y tế bị thu hẹp thì sẽ tạo điều kiện cho kiểm soát và định
hướng theo các mục tiêu của Nhà nước về quản lý nền kinh tế, xã hội dễ dàng hơn.
Do có những điểm khác biệt so với các thị trường khác nên việc quản lý và
định hướng phát triển thị trường các dịch vụ y tế phải được coi là một trong những
chương trình, chiến lược quốc gia quan trọng nhất. Ngoài ra, cần phải hạn chế
những tiêu cực do thông tin không tương xứng đối với người sử dụng các dịch vụ y
tế được cung cấp trên thị trường, người sử dụng dịch vụ y tế không biết được chính
xác thông tin về bác sĩ, về thuốc men, về bệnh viện... do không dễ gì có được trình
độ chuyên môn phù hợp.
 Sự nghiệp y tế đặt ra cho nền kinh tế nước ta
Mục tiêu và bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý
của Nhà nước ở nước ta, một Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, phải coi y tế
là một sự nghiệp chung cũng giống như sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vậy.
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một trong những công việc hết sức to
lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội. Với phương
châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện, coi trọng yếu
tố quyết định là con người thì không thể đặt các hoạt động y tế ngoài sự nghiệp
chung của toàn xã hội được.

Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã hội ở
nước ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả về chăm
sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất. Phấn đấu để mọi người dân đều được hưởng các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y
tế có chất lượng. Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt
về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và
phát triển giống nòi.
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển cơ chế mới thì sự nghiệp y tế được xác
định là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường
xuyên hay là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên, cụ thể được xác định như sau:
(
1
)

Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp [A]
(%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
X100%
Trong đó:
Tổng số thu sự nghiệp của đơn vị bao gồm:
+ Tiền thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nước ( phần được để lại đơn vị
thu theo quy định): Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng
và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối
với từng loại phí, lệ phí.
(
(
1
)

Việc phân chia loại hình sự nghiệp có thu được cụ thể hoá trong Nghị định số 10/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của
Chính phủ và Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính.
+ Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ: Mức thu từ các hoạt động
này do Thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí và
có tích luỹ.
+ Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có).
Tổng số chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ
được cấp có thẩm quyền giao và chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp, bao gồm:
+ Chi cho người lao động: chi tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp
lương; các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn theo
quy định...
+ Chi quản lý hành chính: vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin
liên lạc, công tác phí, hội nghị phí...
+ Chi các hoạt động nghiệp vụ.
+ Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí.
+ Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ ( kể cả chi nộp thuế, trích khấu
hao tài sản cố định).
+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa, máy
móc thiết bị...
+ Chi khác.
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên: Là
đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường
xuyên, ngân sách không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên cho
đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A lớn hơn hoặc bằng 100%).
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên, Ngân sách Nhà nước cấp một phần chi phí hoạt động thường xuyên
cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A nhỏ hơn 100%).
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay được chủ động hơn trong hoạt
động của mình khi áp dụng Nghị định 10/2002/NĐ-CP, phần nào giảm bớt đi gánh

nặng cho Ngân sách Nhà nước và thể hiện sự đổi mới trong quản lý các đơn vị sự
nghiệp có thu nói chung cũng như sự nghiệp y tế nói riêng.
1.1.2. Nội dung quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế tuyến cơ
sở
Sự nghiệp y tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong khám chữa bệnh và
thực hiện các chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu mà Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra, cho nên phần lớn nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế thuộc nguồn
Ngân sách Nhà nước. Nguồn Ngân sách Nhà nước cấp cho các đơn vị hoạt động sự
nghiệp y tế bao gồm:
(1)
 Đối với cả hai loại đơn vị sự nghiệp có thu, đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm
chi phí và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí, thì nguồn Ngân sách Nhà
nước cấp ( cả Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương) là các khoản sau:
+ Chi phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành;
chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm
quyền giao.
+ Kinh phí Nhà nước thanh toán cho đơn vị sự nghiệp theo chế độ đặt hàng
để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao, theo giá hoặc khung giá do Nhà
nước quy định ( điều tra, quy hoạch, khảo sát ...).
+ Kinh phí cấp để thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định
đối với số lao động trong biên chế dôi ra.
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự
nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự án được cấp có
thẩm quyền phê duyệt.
 Riêng đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí, nguồn Ngân sách Nhà
nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên. Mức kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp
(1)
(1)
Được quy định theo Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính
được ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ

tướng Chính phủ quyết định. Hết thời hạn 3 năm, mức Ngân sách Nhà nước bảo
đảm sẽ được xác định lại cho phù hợp.
Ngoài nguồn từ Ngân sách Nhà nước, chi cho các hoạt động sự nghiệp y tế
còn bao gồm các khoản khác như: nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị ( đã nêu ở
phần 1.2.1.) và các nguồn khác theo quy định ( các dự án viện trợ, quà biếu tặng...).
 Nội dung các hoạt động trong sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế tuyến cơ sở ( gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện,
thị xã ) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm
sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói
giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của
nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, các hoạt động y tế cơ sở phải là toàn
diện và nằm trong các hoạt động chủ yếu sau:
+ Các hoạt động khám chữa bệnh thông thường, sơ cứu bệnh nhân nặng và
chăm sóc sức khoẻ ban đầu trên địa bàn quận, huyện, xã, phường là chủ yếu
( những trường hợp bệnh nhân nặng phải chuyển lớn tuyến trên).
+ Hoạt động trong khuôn khổ các chương trình quốc gia về y tế: các đơn vị
sự nghiệp y tế tuyến cơ sở là các đơn vị trực tiếp triển khai các chương trình dưới
sự chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của các sở y tế, bao gồm các mục tiêu sau:
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt rét.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh bướu cổ.
+ Mục tiêu tiêm chủng mở rộng.
+ Mục tiêu phòng chống lao.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh phong.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
+ Mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.
+ Mục tiêu phòng chống HIV/AIDS.
+ Mục tiêu nâng cấp thiết bị y tế.
Ngoài ra, tuyến y tế cơ sở còn đóng góp hoạt động của mình trong các
nghiệp vụ sau:
+ Thường xuyên tổ chức kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý và khắc

phục nhanh chóng hậu quả của thảm họa, thiên tai, phòng chống tai nạn và thương
tích, nhất là tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hay xử lý các
tác động gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu đến sức khoẻ như chất thải bệnh
viện, hoá chất bảo vệ thực vật...
+ Trực tiếp tiếp tham gia các đợt phòng dịch và ngăn chặn các bệnh dịch lây
lan kịp thời như: dịch bệnh tiêu chảy, uốn ván, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, thấp tim,
giun sán... Tham gia triển khai chương trình sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia
đình như truyền thông, tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch, chăm sóc sản khoa...
+ Tổ chức cai nghiện ma tuý và tuyên truyền tác hại của ma tuý sâu rộng
trong mọi tầng lớp nhân dân.
+ Các hoạt động y tế khác.
Các hoạt động sự nghiệp y tế ở tuyến cơ sở trực tiếp tác động đến đời
sống nhân dân trên các địa bàn dân cư nên việc thực hiện quản lý các hoạt động
này có ý nghĩa quan trọng bậc nhất và tạo cơ sở vững chắc của cả thực hiện các
chủ trương chính sách về y tế của Nhà nước cũng như giảm bớt gánh nặng cho các
tuyến y tế cấp trên.

×