Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 111 trang )

1. Mở đầu
1.1. đặt vấn đề
Để theo kịp nhịp độ ph¸t triĨn chung cđa c¸c n íc trong khu vùc và trên
toàn thế giới, cũng nh tạo b ớc tiến cao hơn trên con đ ờng xây dựng và
phát triển ®Êt n íc, trong thêi kú qu¸ ®é hiƯn nay Việt Nam phải bằng mọi
cách thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, không có con đ ờng
nào khác là thúc đẩy sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp của đất n ớc.
Nông nghiệp là cơ sở phát triển công nghiệp, khoa học kỹ thuật nông nghiệp
phải đ ợc khai thác triệt để khả năng tiềm tàng của nền nông nghiệp nhiệt
đới, thâm canh tăng năng suất và tăng vụ cây trồng, trong đó khả năng mở
rộng diện tích còn lại rất ít, lại cần đầu t vốn lớn và đồng bộ. Do vậy thâm
canh tăng vụ đi đôi với việc bố trí lại hệ thống cây trồng nhằm khai thác hợp
lý và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi tự nhiên rất đ ợc coi trọng đang
đem lại hiệu quả khả quan.
Hoàn thiện hệ thống trồng trọt (HTTT) trên các vùng sinh thái là cơ sở
cho việc xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp toàn diện và bền vững.
Xác định hệ thống cây trồng (HTCT) hợp lý đảm bảo có hiệu quả về kinh tế
xà hội, môi tr ờng cho vùng là một biện pháp tổng hợp và quan trọng. Trong
những năm gần đây trên khắp mọi miền sinh thái của đất n ớc chúng ta đÃ
triển khai nghiên cứu hệ thồng trồng trọt, đặc biệt là những vùng đất bạc màu
trung du miền núi.
Hiệp Hoà là một huyện miền núi cách thị xà Bắc Giang 30 km về phía
Tây, mang đặc tr ng của vùng trung du có dạng địa hình đồi núi xen bÃi, địa
hình không bằng phẳng có diện tích đất tự nhiên là 20.108 ha.
- Phía đông và đông bắc giáp hai huyện Việt Yên và Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang.

1


- Phía tây giáp huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội.


- Phía tây nam giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.
- Sông Cầu đồng thời là ranh giới của huyện với Thái Nguyên, Hà Nội và
Bắc Ninh với chiều dài 52 km, thuận lợi cho giao thông đ ờng thuỷ. Quốc lộ
37 là con đ ờng nối liền quốc lộ 1 với quốc lộ 3 đều đi qua trung tâm huyện
cho nên huyện Hiệp Hoà có điều kiện giao thông khá thuận lợi, là một huyện
trung du địa hình khá phức tạp, đ ợc chia làm 3 vùng rõ rệt.
- Vïng 1: lµ vïng cao gåm 11 x· miỊn nói có điều kiện phát triển nông
nghiệp miền núi, chăn nuôi và cây ăn quả.
- Vùng 2: gồm 8 xà tiếp giáp giữa các xà vùng cao là vùng thấp có địa
hình t ơng đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển trồng cây l ơng thực và
cây công nghiệp ngắn ngày.
- Vùng 3: gồm 7 xà vùng thấp nằm giáp đê tả sông Cầu, th ờng bị ngập
úng về mùa m a, rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản.
Vị trí địa lí: huyện nằm ở phía tây của tỉnh giáp giới với các tỉnh Bắc
Ninh, Hà Nội và Thái Nguyên do đó có điều kiện giao l u, l u thông hàng hóa
tốt, địa hình đất đai có cả ba vùng vùng đất cao, đất bằng, đất thấp, nên có thể
bố trí nhiều loại cây trồng hợp lý, tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn.
- Đối với vùng đồi núi chủ yếu là đồi núi trọc, đất bị đá ong hoá nhiều
cho nên việc canh tác còn gặp nhiều khó khăn.
Diện tích đất bằng chủ yếu là bạc màu dinh d ỡng kém. Một số diện tích
đất thấp th ờng bị ngập n ớc vào mùa m a, trong khi đó nguồn thu nhập nông
nghiệp chiếm 92% trong tổng thu nhập, hơn nữa đất nông nghiệp chủ yếu là
trồng trọt trong đó sản xuất l ơng thực chiếm 65%.
Hiện nay trình độ sản xuất thâm canh của huyện còn hạn chế, năng suất

2


cây trồng không cao, đời sống kinh tế vật chất cũng nh thu nhập bình quân
của một nhân khẩu trong năm hiện nay còn rất thấp.

Việc xây dựng một HTTT hoàn thiện ổn định, có năng suất hiệu quả kinh
tế cao phù hợp tiểu vùng sinh thái của địa ph ơng nhằm phát huy tiềm năng
vốn có của vùng về lao động và đất đai, nâng cao dân trí và phát triển xà hội
tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị tr ờng cao hơn HTCT cũ đây là
điều trăn trở đối với lÃnh đạo và ng ời dân của huyện.
Để thấy đ ợc những loại cây trồng nào Hiệp Hoà có u thế hơn các vùng
khác của tỉnh Bắc Giang và ng ợc lại những cây trồng nào ch a thích hợp với
vùng sinh thái từ đó có thể phát huy thế mạnh, khắc phục những hạn chế trên cơ
sở nghiên cứu cơ cấu cây trồng và những nghiên cứu khác của ngành trồng trọt,
để tìm ra đ ợc cơ cấu cây trồng mới hợp lý nhất, những biện pháp kỹ thuật tốt
nhất cho hiệu quả kinh tế cao nhất phù hợp với sự phát triển của xà hội.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển kinh tế một huyện nghèo nh
Hiệp Hoà dựa chính vào sản xuất nông nghiệp. Để trả lời đ ợc câu hỏi này
phải thấy đ ợc lợi thế của huyện là gì? hạn chế là gì và làm thế nào để đẩy
mạnh sản xuất phát triển tr ớc hết là ngành trồng trọt từ đó tạo điều kiện thúc
đẩy cả nền kinh tế đi theo.
Để giải đáp đ ợc câu hỏi này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

Nghiên cứu một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống
trồng trọt tại huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang.
1.2. Mục đích của đề tài
Từng b ớc hoàn thiện hệ thống trồng trọt với năng suất và hiệu quả kinh
tế cao, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển để từng
b ớc nâng cao đời sống nh©n d©n

3


1.3. Yêu cầu của đề tài
* Đánh giá các mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xÃ

hội có tác động trực đến hiệu quả sinh thái của hệ thống trồng trọt tại huyện
* Khảo sát thực trạng HTTT cũ thông qua số liệu thứ cÊp, th«ng qua
pháng vÊn cã sù tham gia cđa ng ời dân.
* Xác định hệ thống trồng trọt phù hợp với loại đất của vùng có hiệu quả
kinh tế cao, nghiên cứu đề xuất mô hình HTTT có khả năng cho hiệu quả ổn
định gắn với thị tr ờng tiêu thụ.
1.4. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu hệ thống trồng trọt của huyện Hiệp Hoà trong mối quan hệ biện
chứng với điều kiện tự nhiên kinh tế xà hội và các tiến bộ kỹ thuật nhằm thu
đ ợc hiệu quả kinh tế cao nhất trên cơ sở phát triển nền nông nghiệp bền vững.
*Về lý luận: đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ thêm mối quan hệ một
cách biện chứng giữa hệ thống trồng trọt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
kỹ thuật x· héi cđa tõng tiĨu vïng trong hun.
*VỊ thùc tiƠn: kết quả nghiên cứu sẽ đ a ra một số giải pháp góp phần
cải thiện hệ thống trồng trọt tại Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang, góp phần thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp của huyện, tiến tới phát triển một nền nông nghiệp bền
vững tại địa ph ơng.

4


2. Tổng quan tài liệu và những vấn đề
liên quan tới nội dung của đề tài
2.1. cơ sở lý luận
2.1.1. Các lý thuyết về hệ thống

Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác đ ợc xuất phát từ lý thuyết hệ
thống, đà đ ợc các nhà khoa học Speeding, 1979 [35] Đào Thế Tuấn, 1987
[26], Phạm Chí Thành, Đào Châu Thu, Trần Đức Viên, Phạm Tiến Dũng 1996
[17] đề cập tới. Các tác giả đều cho rằng: hệ thống là mét tỉng thĨ cã trËt tù

cđa c¸c u tè kh¸c nhau có quan hệ và tác động qua lại. Một hệ thống có thể
xác định nh một tập hợp các đối t ợng hoặc các thuộc tính đ ợc liên kết
bằng nhiều mối t ơng tác.
Hệ thống canh tác (Farming system) là một hệ thống độc lập, ổn định
giữa các hoạt động sản xuất phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xà hội
nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nông hộ, do đó khi xem xét, đánh
giá một hệ thống canh tác tại một vùng nào đó có phù hợp hay không, chúng
ta phải đánh giá chúng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xà hội của vùng đó. Nh vậy, hệ thống canh tác là một tổ hợp sản xuất (bao
gåm nhiỊu ngµnh nghỊ cã mèi quan hƯ mËt thiÕt với nhau) và tiêu thụ.
Cấu trúc của hệ thống không phải là phép cộng đơn giản các yếu tố, các
đối t ợng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối t ợng. Chúng có
tác động qua lại với nhau và có quan hệ ràng buộc với môi tr ờng (Đào Thế
Tuấn - 1977) [22].
Hệ thống canh tác là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành
sản xuất và các kỹ thuật do một xà hội hiện thực để thoả mÃn các nhu cầu của
họ. Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học sinh thái và môi tr ờng tự nhiên là đại diện và một hệ thống xà hội văn hoá,

5


qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật. Nh vậy: hệ thống
nông nghiệp là một phạm trù rộng còn hệ thống canh tác là một tổ hợp cây
trồng trong không gian và thời gian của một vùng khí hậu, thổ nh ỡng đặc
thù, trong một điều kiện kinh tế xà hội nhất định (Barkef, 1996) [33].
Hệ thống canh tác là một tổng thể thống nhất gữa môi tr ờng và cây
trồng, vật nuôi và nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với xà hội và điều kiƯn ph¸t
triĨn kinh tÕ khu vùc. C¸c hƯ thèng phơ trong hệ thống canh tác có liên quan
với nhau, tác động qua lại với nhau và cũng chịu sự tác động qua lại của yếu
tố bên ngoài đó là môi tr ờng, tạo thành Hiệu ứng hệ thống rất đặc thù. Vì

thế hệ thống canh tác phải đ ợc xây dựng trên cơ sở phân tích một cách khách
quan các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xà hội và đặc điểm sinh học của cây
trồng, vật nuôi để vừa cho hiệu quả kinh tế cao, vừa có tác dụng lâu bền.
Hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng bố trí theo thời gian và không gian
với hệ thống biện pháp kỹ thuật thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và
nâng cao độ phì của đất đai (Nguyễn Văn Luật, 1990) [12].
Nghiên cứu hệ thống canh tác là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đến
môi tr ờng của hệ thống canh tác, nh đất đai, khí hậu thời tiết, sâu bệnh, mức
đầu t và trình ®é khoa häc n«ng nghiƯp, vÊn ®Ị "hiƯu øng hƯ thống" của hệ
thống canh tác. Vì vậy hệ thống canh tác phải đ ợc hình thành từ lý luận của
sinh thái học nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1984) [24].
Do hệ thống cây trồng mang đặc tính động, vì vậy nghiên cứu hệ thống
cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là
việc làm th ờng xuyên để tìm ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những
giải pháp khắc phục ®Ĩ chun ®ỉi hƯ thèng c©y trång nh»m mơc ®Ých khai
thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh
tế xà hội phục vụ cuộc sống con ng ời (Đào Thế Tuấn, 1984) [24].
Việc nghiên cứu hệ thống canh tác th ờng bắt đầu từ tiÕp cËn hÖ thèng.

6


Tiếp cận hệ thống là con đ ờng nghiên cứu và xử lý các phức hệ có tổ chức. Tiếp
cận hệ thống toàn diện hơn tiếp cận phân tích (Phạm ChÝ Thµnh, 1994) [16].
* HƯ thèng trång trät, hƯ thèng canh tác và hệ thống nông nghiệp:
Tr ớc khi hiểu vỊ hƯ thèng trång trät ta h·y hiĨu vỊ hƯ thống trồng trọt
và hệ thống canh tác. Theo FAO (1989) khái niệm về hệ thống trang trại
(Faming systems) đà có từ thế kỷ thứ XIX do nhà nông học ng ời Đức
Vonwalfen đề xuất. Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems)
đầu tiên để các nhà địa lý sử dụng để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và

nghiên cứu sự tiến hoá (Grigg, 1979) (dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1984) [24].
Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp
các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xà hội thực hiện để thoả mÃn nhu cầu. Nó
biểu hiện sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh học, sinh thái và môi tr ờng tự
nhiên là đại diện hệ thống xà hội văn hoá qua các hoạt động xuất phát từ những
thành quả kü thuËt (Visasac, 1979 dÉn theo NguyÔn Duy TÝnh) [21].
HTNN thích ứng với các ph ơng thức khai thác nông nghiệp trong không
gian nhất định do một xà hội tiến hành, là kết quả của việc phối hợp các yếu
tố tự nhiên, xà hội - văn hoá, kinh tế và kỹ thuật (Touve 1988 dẫn theo
Nguyễn Duy Tính)[21].
Theo Đào Thế Tn (1987) [27] HTNN vỊ thùc chÊt lµ sù thèng nhất của
hai hệ thống:
1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự
nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng l ợng, vật chất và thông tin với
ngoại cảnh tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ
sinh thái.
2) Hệ kinh tế xà hội, chủ yếu là hoạt động của con ng ời trong sản xuất
để tạo ra của cải vật chất của toàn xà hội.

7


Một số tác giả của viện lúa quốc tế cho rằng hệ thống cây trồng (HTCT)
là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt chăn
nuôi và tiếp thị. Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng
chung những nguồn lực nhận từ môi tr ờng. Khái niệm này đ ợc dùng để hiểu
(HTCT) v ợt khỏi ranh giới cụ thể của từng nông trại.
HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong
nông trại ở mọi môi tr ờng nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra sản
phẩm nông nghiệp sơ cấp. Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến,

nó v ợt quá hình thức phổ biến ở các nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi và
trồng trọt riêng biệt, nh ng nó bao gồm những nguồn lực của nông trại đ ợc
sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó (IRRI, 1989 dẫn theo Nguyễn
Duy Tính) [21]. Nh vậy đặc điểm chung nhất của HTCT là bao gồm nhiều hệ
thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến tiếp thị, quản lý kinh tế đ ợc bố trí một
cách có hệ thống, ổn định phù hợp với mục triêu của từng nông trại hay tiểu
vùng nông nghiƯp [21].
Theo Ngun Duy TÝnh thùc chÊt HTCT ®ång nhÊt với khái niệm hệ
thống nông nghiệp (HTNN). HTCT (Farming systems) dïng nhiỊu trong c¸c
n íc nãi tiÕng Anh, HTNN dïng nhiều trong hệ thống nông nghiệp của Pháp
[21]. Các khái niệm về HTCT cũng nh HTNN là một ph ơng thức khai thác
môi tr ờng trong một không gian và thời gian nhất định nhằm thoả mÃn nhu
cầu của con ng ời và bảo đảm phát triển bền vững [21].
Hệ thèng trång trät (HTTT), NguyÔn Duy TÝnh (1995) [21] cho rằng:
HTTT là hệ thống con và là trung tâm của HTNN, cấu trúc của nó quyết định
sự hoạt động của các hệ phụ khác nh chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, với
khái niệm HTCT nh trên thì HTTT là bộ phËn chđ u cđa HTCT.
HTTT, theo Dufumier (1996) [38], lµ thành phần các giống và loài cây
đ ợc bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp
nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tù nhiªn, kinh tÕ x· héi.

8


Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp vì nó liên quan đến
các yếu tố môi tr ờng nh đất đai, khí hậu ảnh h ởng đến cây trồng, vấn đề sâu
bệnh, mức đầu t phân bón, trình độ khoa học nông nghiệp và vấn đề hiệu ứng
hệ thống của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên tất cả vấn đề nghiên cứu trên đều
nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất cây trồng.
Theo Đào Thế Tuấn (1984) [24] hệ thống cây trồng là thành phần các loại cây

đ ợc bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng trong một vùng
sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý các tài nguyên kinh tế xà hội.
Hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao
gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp cây trồng và mối quan
hệ giữa chúng với môi tr ờng. Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật
lý và sinh học cũng nh kỹ thuật, lao động và quản lý (Zandstra, 1982) [32].
Hệ thống nông nghiệp

Hệ thống
chăn nuôi

Hệ thống
chế biến

Hệ thống
trồng trọt
Hệ thống cây trồng

Môi tr ờng
điều kiện tự
nhiên kinh tế
xà hội

Cây trồng

Đầu
vào

Đầu
Công thức luân canh


ra

Năng suất chất
l ợng giá cả

Hình 1: Sơ đồ mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng trọt
Khi phân tích mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng
trọt các tác giả đều cho rằng hệ thống trồng trọt là hệ trung tâm, diễn biến và
xu h íng ph¸t triĨn cđa hƯ thèng trång trät cã tính chất quyết định đến xu
h ớng phát triển của hƯ thèng n«ng nghiƯp. Do vËy hƯ thèng n«ng nghiƯp hay

9


hệ thống canh tác không thể tách rời hệ thống trồng trọt và ng ợc lại (Xem
hình 1).
Nghiên cứu hệ thèng trång trät trong hƯ thèng n«ng nghiƯp nh»m bè trí
lại, cải thiện các thành tố trong hệ thống hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số
sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lợi thế so sánh của từng
vùng sinh thái nông nghiệp, cũng nh sử dụng hiệu quả tiền vốn, lao động và
kỹ thuật... để nâng cao năng suất, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và giá trị lợi
nhuận trên một đơn vị diện tích canh tác trong một năm. Tóm lại là xây dựng
một nền nông nghiệp bền vững có hiệu quả kinh tế cao, (Dẫn theo Nguyễn
Duy Tính) [21].
2.1.2. Cơ sở khoa học của xác định cơ cấu cây trồng

Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất
đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống
cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh

tác còn có mối quan hệ chặt chẽ với ph ơng h ớng sản xuất ở vùng, khu vực
đó. Một mặt ph ơng h ớng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, ng ợc lại cơ
cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý nhất để xác định ph ơng h ớng sản xuất của
vùng hoặc khu vực đó. Vì vậy nghiên cứu bố trí hệ thống cây trồng có cơ sở
khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản lý có cơ sở để xác
định ph ơng h ớng sản xuất một cách đúng đắn (Đào Thế Tuấn, 1984) [24].
2.1.3. Quan điểm phát triển nông nghiệp theo ph ơng pháp
hệ thống

Lý thuyết về hệ thống nông nghiệp (HTNN) đà đ ợc Mazoyer, Roudant
(1997) nêu lên, theo các tác giả này thực tế nông nghiệp trong các khu vực
khác nhau của thế giới ở mỗi giai đoạn là đại diện cho rất nhiều dạng thức có
tính địa ph ơng, vùng biến đổi theo không gian và thời gian nhất định. H¬n

10


nữa, mỗi một dạng xuất hiện nh những đối t ợng sinh thái và kinh tế phức
tạp. Cũng theo tác giả này, quan điểm về HTNN là một công cụ cho phép hiểu
đ ợc tính phức tạp của mỗi dạng thức bởi sự phân tích có ph ơng pháp về tổ
chức, chức năng của hệ sinh thái trồng trọt và của hệ sản xuất xà hội và mối
quan hệ của chúng. Nó cũng cho phép phân biệt và phân loại vô số hình thức
khai thác nông nghiệp trong quá khứ và trong hiện tại bằng giới hạn của
những hệ thống, mỗi loại giữ một vị trí xác định trong thời gian và không
gian. Lý thuyết về diễn biến của hệ thống là một công cụ giải thích sự biến đổi
của một khu vực, xác định thời kỳ lịch sử nhất định
Theo Phạm Bình Quyền, Phạm Chí Thành và Trần Đức Viên (1992) [13]
trong phát triển nông nghiệp, phải coi nông nghiệp là một hệ thống để tác
động vào nó một cách đồng bộ tích cực. Phải xem nông nghiệp là sự đan xen,
kết hợp giữa 3 lĩnh vực: khoa học sinh học, kinh tế và xà hội. Phải xác định

vùng nghiên cứu có môi tr ờng tự nhiên, kinh tế xà hội nh thế nào những
điều kiện của vùng nh ®Êt ®ai, lao ®éng, vèn, ®Çu t , kinh nghiƯm quản lý và
những định h ớng phát triển kinh tế trong những năm tr ớc mắt và lâu dài nh
thế nào.
Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1996) [29] phân tích: ph ơng pháp tiếp
cận hệ thống có 3 đặc điểm.
1) Tiếp cận từ d ới lên là quan điểm quan träng nhÊt, mét sè tiÕp cËn
hiÖn nay trong khoa häc nông nghiệp áp dụng ph ơng pháp tiếp cận từ trên
xuống. Tiếp cận từ d ới lên dùng ph ơng pháp quan sát và phân tích hệ
thống xem hệ thống nông nghiệp có những hạn chế (điểm thắt) ở chỗ nào, tìm
cách can thiệp giải quyết các cản trở đó. Ph ơng pháp tiếp cận từ d ới lên
th ờng có 3 giai đoạn nghiên cứu: 1- chẩn đoán, 2- thiÕt kÕ vµ thư nghiƯm, 3triĨn khai. TiÕp cËn tõ d ới lên rất quan tâm đến việc tìm hiểu logic của
ng ời nông dân vì theo lý luận kinh tế, ng ời nông dân là một là một nhà t

11


sản tự bóc lột sức lao động của mình. Nếu không hiểu logic ra quyết định của
ng ời nông dân thì không thể đề xuất các biện pháp kỹ thuật mà ng ời nông
dân có thể tiếp thu.
2) Coi trọng mối quan hệ của xà hội nh các nhân tố của hệ thống. Trong
thực tế nông dân không áp dụng các kỹ thuật mới là do họ gặp phải cản trở về
kinh tế và xà hội, nếu không thay đổi đ ợc các nhân tố này thì không giải
quyết đ ợc vấn đề. Trong giai đoạn chẩn đoán việc phân tích kiểu hộ nông
dân là một khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu.
3) Phân tích động thái của sự phát triển, phân tích này giúp ta xác định
đ ợc hệ thống phát triển trong quá khứ và ph ơng h ớng phát triển hệ thống
nông nghiệp trong t ơng lai đồng thời giải quyết các vấn đề cản trở sao cho
phù hợp vơí xu h ớng phát triển ấy. Phải xác định vị trí của HTCT hiện tại
trong quá trình phát triển. Phải xem quá trình phát triển nông nghiệp từ thấp

đến cao là một quy luật. Theo Mazoyer (1993) [39] lịch sử phát triển nông
nghiệp của thế giới là:
1- Nông nghiệp du canh, du c .
2- Nông nghiệp định canh.
3- Nông nghiệp hỗn hợp.
4- Nông nghiệp chuyên môn hoá.
5- Nông nghiệp theo kiểu chuyên nghiệp...
Hiện nay ở Việt Nam nói chung và khu vực các tỉnh phía Bắc nói riêng,
nông nghiệp đang ở dạng nông nghiệp hỗn hợp, một số khu vực vẫn đang ở
trong tình trạng du canh. Tuy nhiên, trong hệ thống trồng trọt đà cã vïng
h íng chuyªn canh thĨ hiƯn râ nh vïng cây công nghiệp, cây ăn quả tập
trung, những ng ời nông dân vùng này có tính chuyên môn hoá ch a cao và
quy mô còn nhỏ. Nhìn chung một số nơi đà hình thành vùng sản xuất hàng

12


hoá tập trung nh ng nền nông nghiệp vẫn là nền nông nghiệp hỗn hợp theo
h ớng đa canh hoá hay đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và vật nuôi.
Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, Phạm Tiến Dũng và các cộng sự
(1996) [17] cho rằng: xác định và phân tích hệ thống canh tác là một nội dung
chính của nghiên cứu hệ thống canh tác. Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm
về phát triển hệ thống nông nghiệp.
1) Phát triển nông nghiệp theo quan điểm sinh thái, có nghĩa là đặt cây
trồng vật nuôi đúng vị trí của nó trong môi tr ờng (tự nhiên, kinh tế xà hội)
sao cho đạt năng suất cao, phát triển ổn định và bảo vệ môi tr ờng. 2) Phát
triển nông nghiệp theo quan điểm kinh tế thị tr ờng, nghĩa là nông dân tự do
kinh doanh, họ lấy lợi ích kinh tế là mục tiêu chính, họ chỉ sản xuất những gì
mà khách hàng cần họ cạnh tranh trong sản xuất và tiền tệ hoá quá trình sản
xuất. Cả hai xu h ớng phát triển trên đều có những u và khuyết điểm riêng.

Hợp lý hơn cả là phát triển nông nghiệp theo kinh tế thị tr ờng kết hợp hài hoà
với nông nghiệp sinh thái theo Đào Thế Tuấn (1984), Cao Liêm (1998) phát
triển nông nghiệp thực chất là điều khiển hệ sinh thái [22] khi xem xét về
nguyên tắc của nông nghiệp sinh thái (NNST) các tác giả nh Cao Liêm,
Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan (1995), Nguyễn Văn Mẵn, Trịnh Văn Thịnh
(1995) Lê Văn Khoa (1998) cho rằng NNST không phá vỡ môi tr ờng đảm
bảo năng suất ổn định, đảm bảo khả năng thực thi không phụ thuộc vào bên
ngoài và ít lệ thuộc vào hàng ngoại nhập. Nội dung của NNST là: 1) Tính đa
dạng sinh học bao gồm nhiều loài cây, luân canh, xen canh. Lai tạo giống
mới, trồng trọt theo ph ơng thức nông lâm kết hợp, bảo tồn và giữ gìn các
giống cây trồng và vật nuôi. 2) Nuôi d ỡng cho đất sống bao gồm th ờng
xuyên bón phân hữu cơ, che phủ mặt đất để chống xói mòn, rửa trôi, khử các
yếu tố gây hại cho đất. 3) Bảo đảm tái sinh học đất bao gồm việc cung cấp trở
lại l ợng phân hữu cơ cho đất.

13


2.1.4. Lý thuyết của một số mô hình phát triển nông nghiệp

Nghiên cứu phát triển nông nghiệp thế giới đà đ a ra những lý thuyết
khác nhau ở mỗi giai đoạn, những thuyết này ở mỗi giai đoạn đà định h ớng
cho sự phát triển của nông nghiệp thế giới nói chung. Tuy nhiên mỗi quốc gia
dựa trên điều kiện thực tế, có thể áp dụng và điều khiển nông nghiệp của mình
đi theo h ớng khác nhau, bằng con đ ờng khác nhau. Theo Đào Thế Tuấn
(1984) [24], các n ớc đang phát triển muốn đ a nông nghiệp phát triển với sự
tăng tr ởng từ 1%/ năm lên 4%/ năm đà áp dụng một trong những mô hình,
thuyết sau đây để giải thích quá trình phát triển:
1) Thuyết mô hình bảo vệ: thuyết này cho rằng sở dĩ nông nghiệp bị
thoái hoá là do độ màu mỡ bị giảm dần và kiệt quệ. Muốn tăng năng suất phải

phục hồi và bảo vệ độ màu mỡ của đất bằng luân canh, bón phân hữu cơ và
phân hoá học.
2) Thuyết mô hình thúc đẩy của thành thị công nghiệp: thuyết này chủ
tr ơng rằng nông nghiệp chỉ phát triển mạnh các vùng quanh và gần thành thị,
nguyên nhân chính là do thành thị cung cấp vật t nông nghiệp và là thị
tr ờng thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp.
3) Mô hình khuyếch tán: thuyết này cho rằng kỹ thuật tiên tiến và
ph ơng pháp quản lý trong nông nghiệp phổ biến dần từ nông dân này sang
nông dân khác, từ vùng này sang vùng khác nh giống cây trồng và gia súc
tốt. Do vậy chỉ đẩy mạnh và phổ biến kỹ thuật và kinh tế là thúc đẩy đ ợc sự
phát triển nông nghiệp.
4) Thuyết mô hình đầu t và hiệu quả cao: thuyết này cho rằng nông dân
cổ truyền sở dĩ không tiếp thu đ ợc kỹ thuật mới vì thiếu các đầu t có hiệu
quả cao. Tình trạng này đ ợc thay đổi từ khi xuất hiện các giống mì, lúa, ngô
năng suất cao do các trung tâm nghiên cứu quốc tế tạo ra. Các giống này phản
ứng nhanh mạnh với phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo đất nên mang lại hiệu

14


quả cao cho ng ời nông dân, thúc đẩy nông nghiệp phát triển với tốc độ
nhanh, tạo nên cuộc cách mạng xanh.
5) Thuyết mô hình phát triển bị kích thích: theo thuyết này sự thay đổi
giá cả trên thị tr ờng kích thích cải tiến kỹ thuật và tạo nên sự phát triển.
Quả thật theo quan điểm hệ thống, việc phát triển nông nghiệp theo
h ớng bền vững hiện nay không chỉ áp dụng một mô hình theo các thuyết kể
trên mà phải kết hợp hài hoà lý thuyết của 5 mô hình phát triển. Nh vậy so
sánh 5 thuyết đ a ra và các giai đoạn chiến l ợc của tăng tr ởng bền vững với
sự phát triển nông nghiƯp hiƯn nay cđa ViƯt Nam th× thÊy r»ng: ViƯt Nam là
n ớc đang phát triển, quá trình phát triển nông nghiệp hội tụ cả 5 thuyết phát

triển nói trên. Nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển sang sản xuất hàng
hoá tìm kiếm thị tr ờng, thu hút đầu t cải tiến kỹ thuật công nghệ đặc biệt là
công nghệ chế biến. Bài học về phát triển nông nghiệp thời gian qua cho thấy
việc tìm thị tr ờng đầu ra (nội địa hay xuất khẩu) cho các mặt hàng nông sản
quyết định đến đầu t và sự phát triển của các đối t ợng này.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài n ớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ở n ớc ngoài

Ch ơng trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972
lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm h ớng chiến l ợc phát triển sản
xuất nông nghiệp đà kết luận: "Hệ canh tác giành u tiên cho cây l ơng thực,
2 vụ ngũ cốc trên năm (2 vụ lúa, hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ lúa mì) đ a thêm vào 1
vụ đậu đỗ đà đáp ứng đ ợc 3 mục tiêu: khai thác tối u tiềm năng của đất đai,
ảnh h ởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của
ng ời nông dân" (Hoàng Văn Đức, 1992) [8].
Tại Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ng ời ta đà nghiên cứu
đ a giống cây hoa màu chịu bóng để trồng xen trong mía (cây công nghiệp

15


chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan) và giống cây hoa màu chịu hạn trồng
mùa khô để đ a vào trồng sau khi thu hoach lúa mùa.
Tại Trung Quốc, đà xác định đ ợc hệ thống cây trồng hợp lý trên các
vùng đất 2 vụ lúa, hệ thống cây trång chđ u lµ 2 vơ lóa vµ 1 vơ lúa mì (hoặc
đậu Hà Lan, khoai tây, cải...), trên các vùng đất lúa 1 vụ, hệ thống cây trồng
th ờng là một vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Triệu Kỳ Quốc, 1992) [10].
ở những khu vực đất bằng, nông dân Châu á đà sử dụng nhiều hệ canh
tác. Những hệ thống này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai
lang, ngô, đậu...). Luân canh giữa cây trồng n ớc và cây trồng cạn, giữa cây

l ơng thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian đÃ
đ ợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả. (Carangal, 1989).
Theo tài liệu của Trung tâm môi tr ờng và phát triển bền vững (1999),
hiện nay có khoảng 25% diện tích đất canh tác trên thế giới đang bị sa mạc
hoá, trong đó có 10% đà bị đà bị sa mạc hoá. Mỗi năm có 8.5 triệu ha đất
nông nghiệp bị mất do xói mòn (t ơng đ ơng 20 tỷ tấn đất). Đặc biệt việc sử
dụng nhiều phân đạm vô cơ trong sản xuất nông nghiệp đà làm cho hàm l ợng
NO3- tăng lên đáng kể, làm ô nhiễm mạch n ớc ngầm và chất l ợng nông sản
phẩm. ở Mỹ, mỗi năm đất bị mất khoảng 18 tỷ USD chất dinh d ỡng do bị
rửa trôi, xói mòn, trung bình mỗi năm có khoảng 8,5 triệu ha đất bị xói mòn
(t ơng đ ơng 22 triệu tấn đất) và khoảng 5,4 - 8,4 triệu tấn các chất dinh
d ỡng bị rửa trôi.
Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992) [40], trên thế giới, hàng năm có
khoảng 15% đất bị suy thoái vì các lí do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói
mòn do n ớc chiếm khoảng 55,7%, do giã: 28%, mÊt chÊt dinh d ìng do rưa
tr«i 12,2%. ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm
30% lÃnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 ha ®Êt

16


bị chua mặn; 4 triệu ha bị úng, lầy. ở ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu
ha đất trồng trọt. Tại khu vực Châu á và Thái Bình D ơng có khoảng 860 ha
đất đà bị hoang mạc hoá làm ảnh h ởng đến đời sống của 150 triệu ng ời.
Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp lâu dài, loài ng ời đà lựa chọn ra
những giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái
và con ng ời đà thiết lập nên các hệ thống cây trồng phù hợp cho từng vùng
sinh thái khác nhau.
Các nhà nông nghiệp trên thế giới đà và đang tập trung mọi nỗ lực
nghiên cứu cải tiến hoàn thiện hệ thống cây trồng bằng cách đ a thêm một số

loại cây trồng và hệ thống canh tác nhằm tăng sản l ợng l ơng thực, thực
phẩm trên một đơn vị diện tích.
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII chế độ canh tác phổ biến ở Châu Âu
là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống cây
trồng là ngũ cốc - ngũ cốc - bỏ hoá. Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ
này chỉ đạt 5 - 6 tạ/ ha. Khoai tây và ngô nhập vào Tây Âu từ khi tìm thấy
Châu Mỹ, cùng với việc đ a cây phân xanh họ đậu (cỏ 3 lá) vào hệ thống
đà có tác dụng to lớn, tạo ra những thay đổi có tính chất lịch sử vào nửa đầu
thế kỷ XIX. Đó là việc tạo ra chế độ luân canh mới: 4 khu, 4 năm (Norfolk)
với hệ thống cây trồng là cây củ quả (khoai tây) - ngũ cốc mùa xuân - cỏ 3
lá - ngũ cốc mùa đông. Tính chung cả sản l ợng thực phẩm cho ng ời và
thức ăn cho gia súc đà tăng gấp 4 lần. Tính riêng ngũ cốc năng suất tăng
gấp 2 lần (Bùi Huy Đáp, 1996) [5].
ở Châu Âu nhiều n ớc đà áp dụng chế độ (Nordfolk) thắng lợi: n ớc
Pháp áp dụng 5 khu: ngị cèc xu©n - c©y ph©n xanh - ngị cốc đông - đậu
Hà Lan, yến mạch. N ớc Đan Mạch thực hiện hệ thống 6 khu: củ quả ngũ cốc xuân - cây phân xanh - ngũ cốc đông - khoai tây - để nghỉ mùa
đông (Bùi Huy Đáp, 1996) [5].

17


Vào những năm 60, các nhà sinh lý thực vật đà phát hiện rằng: Trong tự
nhiên, không có một cây nào có khả năng sử dụng toàn thể tài nguyên thiên
nhiên ở một vùng, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới. Do vậy hiện nay trên đất đang
sản xuất nông nghiệp, ánh sáng, đất đai, nguồn n ớc còn ch a đ ợc sử dụng
đúng mức, còn nhiều khả năng tăng vụ, phát triển sản xuất.
Tại Châu á vào cuối thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu Viện Lúa Quốc tế
(IRRI) đà nhận thức rằng giống lúa mới thấp cây, đứng lá tiềm năng sản l ợng
cao chỉ có thể giải quyết vấn đề l ơng thực trong một phạm vi hạn chế. Do đó
từ những năm đầu của thập kỷ 70 các nhà khoa học của các n ớc Châu á đÃ

đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo h ớng lấy lúa
làm nền, tăng c ờng phát triển các loại cây hoa màu trồng cạn. Các chế độ
trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng đ ợc chú ý nghiên cứu. Theo
h ớng này ở Châu á đà hình thành Mạng l ới hệ canh tác Châu á, một tổ
chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều
quốc gia trong vùng. Nhìn chung các nghiên cứu hệ thống cây trồng mới rất
đa dạng và tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Tăng vụ ngắn ngày để thu hoạch tr ớc mùa m a lũ.
- Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh,
tăng vụ.
- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc
phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao.
Ch ơng trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972
lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm h ớng chiến l ợc phát triển sản
xuất nông nghiệp đà kết luận: Hệ canh tác dành u tiên cho cây l ơng thực,
chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc (2 vụ lúa n ớc, hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ lúa mì), đ a
thêm vào 1 vụ đậu đỗ và đáp ứng đ ợc 3 mục tiêu: khai thác tối u tiềm năng

18


của đất đai, ảnh h ởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi
ích của ng ời nông dân (Hoàng Văn Đức, 1992) [8].
ở Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng bố trí hệ thống cây
trồng hợp lý, ng ời ta đà nghiên cứu đ a các giống cây hoa màu chịu rợp
trồng xen trong mía (mía là cây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài
Loan), nghiên cứu cây hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đ a vào trồng sau
khi thu hoạch lúa mùa (IRRI, 1982) [36].
Gomer A.A; Zandstra H.G (1982), [37] khẳng định xen canh gối vụ có
tác dụng tăng tổng sản l ợng của các cây trồng cạn, do tạo ra đ ợc chế độ che

phủ đất tốt hơn, tận dụng đ ợc bức xạ mặt trời trong suốt thời gian sinh
tr ởng. Các cơ cấu cây trồng đà đ ợc thực hiện: ngô + lúa, lúa + đậu xanh; lúa
+ lúa mì; lúa + rau; lúa + lúa mì + ngô; lúa + lúa mùa.
ở Trung Quốc, từ những năm 1980, ở khu vực phía Nam đà thí nghiệm
xây dựng nền nông nghiệp sinh thái. ở Xiaoliang, một vùng đồi của Quảng
Đông bị sa mạc hoá, xói mòn mạnh, nhiệt độ mặt đất cao, tr ớc đây ng ời
ta trồng bạch đàn nh ng đều không thành công. Cuối cùng đà chọn hệ
thống cây trồng theo h ớng đa dạng hoá cây trồng và trồng nhiều tầng.
Theo Triệu Quốc Kỳ (1990) trên đất lúa 2 vụ thuộc vùng núi phía Nam
th ờng đ ợc canh tác 2 hoặc 3 vụ với hệ thống cây trồng là: lúa - lúa mì khoai tây (hoặc lạc - đậu t ơng - lúa mì). Trên đất lúa 1 vụ thuộc vùng cao
nguyên (gồm tỉnh Vân Nam, Quế Châu, Tứ Xuyên và Tây Tạng), th ờng
đ ợc canh tác với hệ thống cây trồng là lúa luân canh với cây trồng cạn
(Triệu Quốc Kỳ, 1994) [10].
ở Thái Lan trong điều kiện thiếu n ớc, một hệ thống cây trồng lúa xuân lúa mùa ít mang lại hiệu quả và chi phí tiền n ớc quá lớn cộng thêm sự độc
canh cây lúa làm ảnh h ởng xấu đến chế độ đất. Bằng việc chuyển dịch cây

19


lúa xuân sang cây đậu t ơng giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể, diện tích
tăng gấp r ỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì đất đ ợc nâng lên rõ rệt.
ĐÃ mang lại một thành công lớn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ë Th¸i
Lan (Tejwani, V.L - Chun K.Lai Indonesia, 1992) [41].
VÝ dụ: tại Chiềng Mai (Bắc Thái Lan) trong những năm 1971 - 1976 đÃ
thí nghiệm 6 công thức hệ thống cây trồng:
- Lúa + lúa mì + ngô.
- Lúa + cà chua + lạc.
- Lúa + đậu + đậu t ơng.
- Lúa + khoai lang + bắp cải.
- Lúa + cà chua + đỗ xanh.

- Lúa + lạc + bắp cải (hoặc ngô non).
Kết quả điều tra ở Chiềng Mai cho thÊy hƯ canh t¸c 2 vơ lóa + 1 vụ màu
hoặc lúa cạn là phổ biến nhất. Cây màu th ờng là đậu t ơng, thuốc lá, tỏi,
hành, đậu xanh, rau xanh. Tỷ lệ trồng 3 vụ trong năm (lúa - màu - lúa cạn) còn
ít.
ở Inđônêxia đà nghiên cứu mối quan hệ giữa khí hậu ở các vùng sinh
thái khác nhau mà hệ canh tác hiện có cho thÊy nh sau:
- T¹i tØnh Bogo cã mét mïa ít liên tục, một khoảng đứt quÃng ngắn
th ờng ở giữa tháng 6 và tháng 8, lúa thu hoạch suốt năm, một đỉnh nhỏ ở
tháng 6.
- Tại Banuma có mùa khô ngắn, mùa ớt dài. Hai đỉnh thu hoạch lúa
(khoảng tháng 9, tháng 10) chứng tỏ đa số nông dân trồng 2 vụ lúa trên một
diện tích. Ngô thu hoạch vào đỉnh mùa m a, đậu t ơng thu hoạch vào cuèi

20


mùa khô (tháng 10) hoặc vào cuối mùa m a (tháng 5), lạc thu hoạch quanh
năm (Nguyễn Điền - Trần Đức, 1993) [7], (Bùi Thị Xô, 1994) [31].
ở những khu vực đất bằng, nông dân Châu á đà sử dụng nhiều hệ canh
tác. Những hệ này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai
lang, ngô, đậu...) nói chung hệ thống cây trồng luân canh giữa chế độ cây
trồng n ớc và chế độ cây trồng cạn, giữa cây l ơng thực và cây họ đậu, hệ
thống luân canh giữa không gian và thời gian đà đ ợc nhiều nhà nghiên cứu
đề cập và kết luận có hiệu quả (Hoàng Văn Đức, 1992) [8], (Triệu Quốc Kỳ,
1994) [10].
Vấn đề đạt hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất lúa cũng
đ ợc nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt ở ấn Độ và Pakistan. Nghiên cứu
vấn đề này các tác giả đà đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phụ
thuộc vào điều kiện canh tác và giá cả nông sản trên thị tr ờng. Tại vùng

Dandkadi, năm 1981 có 13 công thức luân canh khác nhau đ ợc áp dụng, năm
1982 có 18 công thức luân canh, năm 1983 có 16 công thức luân canh trong đó
phổ biến nhất là cơ cấu 2 vụ. Tại vùng Mirrapur và Tangril có các công thức
đáng chú ý là lúa - lúa hè, đảm bảo nền cho việc tăng thêm vụ đông trên một
phần diện tích với các cây trồng là lúa mì, cải cay, khoai tây, ớt, kê... công thức
luân canh này đ ợc nông dân áp dụng rộng rÃi vì nó đảm bảo l ơng thực quanh
năm và có hiệu quả kinh tế cao (Bùi Thị Xô, 1994) [ 31].
Ch ơng trình SALT của Philippines đà khảo nghiệm có kết quả với hệ
thống cây trồng và biện pháp canh tác nh sau: các cây hàng năm và cây lâu
năm đ ợc trồng thành băng xen kẽ rộng từ 4 - 5 m, các loại cây họ đậu cố
định đạm đ ợc trồng thành 2 hàng dày theo đ ờng đồng mức để tạo thành
hàng rào. Khi những cây hàng rào cao 1,5 - 2 m ng ời ta đốn, để lại 40 cm
gốc, cành lá dùng để rải lên băng tạo lớp che phủ và giữ ẩm, chống xói mòn.
Cây lâu năm th ờng là cây cà phê, cao su, cam... Điểm trình diễn từ năm 1978

21


trên đất có độ dốc 200, thực tế thu nhập bình quân hàng năm trên 1 ha áp dụng
SALT cao gấp 3 lần so với hệ thống độc canh cổ truyền. Mô hình này cũng
đ ợc B.T.Kang (IITA) mang áp dụng ở Nigiêria gọi là canh tác theo băng
(Alley Cropping) (Hoàng Văn Đức, 1992) [8].
2.2.2. Thực tiễn nghiên cứu ở việt nam

Tại Việt Nam hệ thống canh tác đà đ ợc các nhà khoa học nghiên cứu từ
những năm 1960, các nhà khoa học miền Bắc đà dày công nghiên cứu đ a vụ
lúa xuân thành vụ sản xuất chính. Một hệ thống t ơng đối hoàn chỉnh gieo cấy
lúa xuân đà đ ợc xây dựng từ vụ xuân 1968 ở huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định
với 100% diện tích, vụ đông ở miền Bắc hoàn toàn thích hợp với các cây trồng
có nguồn gốc ôn đới nh bắp cải, su hào, khoai tây, hành tây... và một số cây

trồng nh ngô, thuốc lá, khoai lang, cà chua... (Bùi Huy Đáp, 1998) [4].
Ngày nay các nhà khoa học của n ớc ta cũng đà lai tạo, chọn lọc ra nhiỊu
gièng c©y trång míi, cã thêi gian sinh tr ëng ngắn, có năng suất cao, chống
chịu các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá, cũng đà tạo điều kiện cho việc bố trí
hệ thống cây trồng hợp lý (Tr ơng Đích, 1995) [6].
Các giống lúa ngắn ngày nh CN2, VX83, giống chống rầy CR203...các
giống ngô lai không quy ớc LS-6, LS-7, LS-8 phù hợp với các tỉnh miền núi
phía Bắc, các giống ngô thuần có thời gian sinh tr ởng trung bình, có tiềm
năng năng suất khá, thích nghi rộng nh : TSB2, Q2, VN1, CV1... thÝch hỵp
cho nhiỊu vïng sinh thái. Việc ngày càng có nhiều giống ngô mới đà tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển nhiều hệ cây trồng hợp lý.
Nh vậy, n ớc ta có tập đoàn cây trồng khá phong phú, từ các cây trồng
có nguồn gốc nhiệt đới đến các cây trồng có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới,
từ tập đoàn giống cây trồng ngắn ngày đến trung bình và dài ngày đó là cơ sở
để đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm nông sản, góp phần tăng thu
nhập cho nông dân (Bùi Huy Đáp, 1998) [4].

22


Một số tác giả cho rằng ở n ớc ta có 3 loại hình luân canh tăng vụ:
Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau.
Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng n ớc.
Luân canh giữa cây trồng n ớc với nhau.
ở chân đất quanh năm không ngập n ớc, thành phần cơ giới nhẹ, dễ
thoát n ớc th ờng luân canh cây họ đậu (đậu t ơng, lạc, đậu cô ve, đậu
xanh...). Ngoài luân canh tăng vụ cây l ơng thực, cây công nghiệp, cây thức
ăn gia súc còn có những hệ thống cây trồng luân canh giữa cây d ợc liệu (Bạc
hà, Địa hoàng, Bạch chỉ...) với cây l ơng thực hoặc cây công nghiệp ngắn
ngày (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc, 1987) [2].

Nghiên cứu đ a cây đậu t ơng vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt
Nam đà có kết luận: đậu t ơng hè có có năng suất khá cao khá ổn định, có thể
mở rộng vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu
t ơng hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [3].
Đặc biệt trong những năm gần đây, để góp phần thực hiện các mục tiêu
về sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà n ớc, cùng với việc chọn tạo, du
nhập, khu vực hoá nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao vừa có khả
năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, vừa ngắn ngày. Nhiều cơ
quan khoa học, nhiều nhà khoa học đà quan tâm nghiên cứu và có nhiều kết
quả quan trọng đóng góp cho sự phát triển hệ thống canh tác nh :
- Nghiên cứu đ a cây đậu t ơng vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt
Nam, đà có kết luận: đậu t ơng hè có năng suất khá cao ổn định, có thể mở
rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu
t ơng hè - lóa mïa (Lª Song Dù, 1990) [3].
- Nghiªn cøu øng dụng các biện pháp kỹ thuật sử dụng hợp lý ®Êt b¹c

23


màu, đà có kết luận: đất bạc màu ở ngoại thành Hà Nội có tiềm năng sản xuất
lớn, có tập đoàn cây trồng phong phú và hệ thống luân canh đa dạng hơn các
đất khác. Tuy nhiên năng suất cây trồng còn thấp, cần có biện pháp thâm canh
phù hợp nhất là thâm canh lạc, khoai lang (Nguyễn Minh Thực, 1990) [20].
Đánh giá hệ thống canh tác ở tiểu vùng sinh thái bạc màu ngoại thành Hà
Nội, Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải (1990) [19] đà khẳng định: có thể nâng
cao hệ số sử dụng đất (2 - 4 vụ/ năm) và trồng đ ợc nhiều vụ l ơng thực, hoa
màu, cây công nghiệp ngắn ngày (nhất là cây có củ, đậu đỗ, thuốc lá...) trên
đất bạc màu, trừ chân ruộng quá cao hoặc trũng. Để có năng suất cây trồng
cao và ổn định thì phải xác định hợp lý cơ cấu giống đầy đủ, thuỷ lợi, phân
bón phù hợp.

D ơng Hữu Tuyền (1990) nghiên cứu hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/ năm ở
vùng trồng lúa đồng bằng sông Hồng đà kết luận: đồng bằng sông Hồng có
thể trồng 3 - 4 vụ / năm. Khi trồng 3 vụ không nên độc canh 3 vụ lúa mà nên
bố trÝ 2 vơ lóa, 1 vơ mµu hay 2 vơ màu, 1 vụ luá, trong đó có thể 2 vụ cây a
nóng, 1 vụ cây a lạnh hay cả 3 vụ là cây a nóng. Trồng 4 vụ có thể thực hiện
ở những chân ruộng đất nhẹ, t ới tiêu chủ động và nguồn nhân lực dồi dào.
Khi nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng gò đồi Hà Tây,
Lê H ng Quốc (1994) đà đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và
hoàn thiện cơ cấu cây trồng. Tác giả cũng đà góp phần hoàn thiện hệ thống
cây trồng thích hợp và biện pháp canh tác đi kèm dựa trên 3 cơ sở là giống,
tăng vụ và đổi mới công nghệ.
Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996) [9] đánh giá tiềm năng
sản xuất 3 vụ trở lên trên đất phù sa sông Hồng, địa hình cao không đ ợc bồi
hằng năm có đủ điều kiện về tài nguyên đất, nhân lực để có thể áp dụng hệ
thống 3 - 4 vụ cây ngắn ngày 1 năm, đ a hệ số quay vòng đất từ 2,2 lên 2,49
hoặc 2,6 lần.

24


Tạ Minh Sơn (1996) [14] điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các
nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng, đà kết luận: các hệ thống canh
tác 3 - 4 vụ /năm bằng các loại rau cao cấp đạt giá trị cao nhất (trên 60 triệu
đồng/ ha/ năm). Những hệ thống cây trồng có giá trị thu nhập cao hiện nay là
các hệ thống trên đất chuyên màu, đất 2 màu - 1 lúa và đất 2 lúa - 1 màu.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hữu Hồng,
Trần Đức Hạnh, xác định hệ thống trồng trọt hợp lý cho vùng đất trung du bạc
màu huyện Phổ Yên, Bắc Thái (1995) cho biết: trong các mô hình trồng trọt
đ ợc thử nghiệm, 3 mô hình có hiệu quả kinh tế cao do đ a vào sản xuất các
giống mới đó là:



Lúa Xuân- Lúa mùa.



Lúa Xuân - Lúa mùa - khoai lang Đông.



Đậu t ơng - lúa Hoa san - khoai lang.

Theo Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê (1998) [30]: phát triển nông nghiệp
bền vững là bảo tồn đất đai, nguồn n ớc, các nguồn di truyền động, thực vật,
môi tr ờng không thoái hoá, kỹ thuật canh tác phù hợp, kinh tế phát triển. Để
phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta phải xem xét chúng trên cả hai mặt:
bền vững sinh thái (cần thiết phải giới hạn việc sử dụng những nguồn năng
l ợng th ơng mại và tái tạo sự đa dạng sinh học) và bền vững kinh tế - xà hội.
Để có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, tr ớc hết cần quan tâm
đến việc đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học, đặc biệt nếu số l ợng loài và
loại t ơng tác dinh d ỡng trong hệ sinh thái sẽ dẫn đến tính ổn định cao trong
một hệ sinh thái nhân tạo. Các loài trong một quần thể có thể có ích cho nhau
trong việc phòng trừ sâu bệnh, phục hồi dinh d ỡng của đất.
Tóm lại: trong phần tổng quan chúng tôi xin đ ợc tóm tắt các nội dung
cơ bản trên và xem đây là ph ơng pháp t duy của chúng tôi trong quá trình

25



×