Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Đề tài một số giải pháp để việt nam hội nhập thành công khu vực mậu dịch tự do ASEAN – trung quốc TIỂU LUẬN môn KINH tế QUỐC tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (274.3 KB, 29 trang )

Tiểu luận Kinh tế quốc tế
ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

----------

TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài:

Một số giải pháp để Việt Nam hội nhập thành công Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc

Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Quang Minh
Sinh viên thực hiện
Lớp

Đoàn Phương Anh

: Đoàn Phương Anh
: KTTG 17A

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế

Hà Nội - 2011

MỤC LỤC


TIỂU LUẬN .................................................................................................................1
MƠN: KINH TẾ QUỐC TẾ ........................................................................................1
Đề tài:............................................................................................................................1
...................................................................................2

1.1. Sự hình thành ACFTA...........................................................................4
1.2. Nội dung của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Asean và
Trung Quốc.................................................................................................5
1.2.1. Mục tiêu của Hiệp định: .........................................................................5
1.2.2. Các biện pháp hợp tác kinh tế:................................................................6
1.2.3. Nội dung cam kết....................................................................................7

3.1. Chun mơn hố sản xuất và chế biến những mặt hàng xuất khẩu mà ...18
Việt Nam có năng lực cạnh tranh hơn so với Trung Quốc............................18
3.2. Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh đối với những mặt hàng ....19
có khả năng cạnh tranh thấp hơn so với hàng hoá Trung Quốc ....................19
3.3. Thúc đẩy cải cách kinh tế, tăng cường tự do hoá thương mại và xúc ......20
tiến đầu tư..................................................................................................20
3.3.1. Đẩy nhanh tốc độ cải cách kinh tế và tự do hoá thương mại................21
3.3.2. Xúc tiến đầu tư......................................................................................21

3.4. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại.............................................22
3.4.1. Đối với cơ quan quản lý........................................................................22
3.4.2. Đối với các doanh nghiệp ....................................................................23
Về phía các doanh nghiệp, dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của Nhà nước, cũng
nên chủ động tìm ra những biện pháp hợp tác có hiệu quả, đồng thời không
ngừng nỗ lực tự đổi mới, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có thể
thơng qua một số biện pháp cụ thể như sau : .................................................23

3.5. Phát huy lợi thế về vị trí địa lý để nâng cao kim ngạch thương mại ........24

song phương .............................................................................................24
3.6. Tích cực hợp tác với với các nước trong khối ASEAN để đi đến nhất....25
thể hoá thị trường khu vực nhằm cạnh tranh với thị trường Trung Quốc.......25

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay toàn cầu hóa đang là một vấn đề rất được quan tâm trên thế
giới, nó đi liền với cơ hội và rủi ro. Môi trường hội nhập là một môi trường
cạnh tranh đầy khốc liệt, nếu có đủ năng lực thì vươn lên nhanh chóng,
khơng thì sẽ tụt hậu, yếu thế và thậm chí là bị đào thải. Do đó để cạnh tranh
được với các khu vực khác trên thế giới, một xu hướng tất yếu là sẽ có nhiều
nước liên kết nhau lại, các khu vực mậu dịch tự do như NAFTA, ACFTA,
AKFTA,… ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình với các nước
thành viên và với kinh tế toàn cầu.
Trung Quốc và các nước ASEAN vốn là những nước láng giềng có
quan hệ thương mại ngày càng phát triển. Năm 2002 lãnh đạo các nước
ASEAN và Trung Quốc ký kết Hiệp định khung thành lập Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA: ASEAN – China free trade area).
Việc thành lập ACFTA sẽ có lợi đối với tiềm năng tăng trưởng kinh tế của
hai bên và tạo ra một cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế ở
khu vực, cho phép ASEAN và Trung Quốc có tiếng nói lớn hơn trong các
vấn đề thương mại quốc tế. Bên cạnh những cơ hội đó, ACFTA cũng sẽ tạo
ra nhiều thách thức lớn đối với các nước tham gia, đặc biệt đối với các thành
viên mới của ASEAN trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài
tiểu luận “Một số giải pháp để Việt Nam hội nhập thành công Khu vực

mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc” nhằm đưa ra một số giải pháp giúp
Việt Nam tham gia hiệu quả ACFTA trong bối cảnh quan hệ thương mại
giữa Trung Quốc và các nước ASEAN ngày càng phát triển.

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
NỘI DUNG
I. Giới thiệu về ACFTA và nội dung của Hiệp định khung về Hợp tác
kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc
1.1. Sự hình thành ACFTA
Ý tưởng về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa Trung
Quốc và ASEAN xuất phát từ đề xuất của Cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu
Dung Cơ tại Hội nghị thượng đỉnh khơng chính thức ASEAN lần thứ 4 tổ
chức vào tháng 11/2000. Trong năm này, Trung Quốc còn thoả thuận sẽ tăng
cường hợp tác và đưa ra những hạng mục hợp tác cụ thể như khai thác sông
Mekong, xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á…
Đến năm 2001, những thoả thuận này giữa Trung Quốc và ASEAN đã
có những bước tiến mới. Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của ASEAN thiết lập
khu vực khơng có vũ khí hạt nhân, xem xét ký kết Hiệp định hợp tác hữu
nghị Đông Nam Á, cam kết đầu tư 5 triệu USD để nạo vét sông Mekong và
tài trợ 1/3 chi phí xây dựng tuyến đường cao tốc Bankok - Côn Minh. Đặc
biệt, tại Hội nghị giữa những nhà lãnh đạo ASEAN - Trung Quốc tổ chức
vào ngày 6/11/2001 tại Banda Seri Begawan (Brunei), các nhà lãnh đạo
Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đi đến nhất trí về việc thành lập Khu
mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong vịng 10 năm, đồng
thời chính thức uỷ quyền cho các bộ trưởng và quan chức của hai bên đàm

phán về vấn đề này.
Từ sau khi đạt được thỏa thuận thành lập ACFTA, hai bên đã nỗ lực
xúc tiến các cơng tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA. Các tổ chức như
Uỷ ban đàm phán thương mại ASEAN - Trung Quốc (TNC - Trade
Negotiation Committee) và Hội đồng thương mại ASEAN - Trung Quốc đã
được thành lập. Đồng thời các cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo hai bên để
đàm phán về phát triển hợp tác kinh tế thương mại đã diễn ra liên tục trong
năm qua như: Cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cao cấp ASEAN - Trung
Quốc (SEOM - Senior Economic Officials Meeting) lần thứ 3 hồi tháng
5/2002 tại Bắc Kinh, Hội thảo quốc tế về hợp tác trong thương mại, đầu tư và
phát triển ASEAN - Trung Quốc diễn ra vào tháng 6 tại Cơn Minh Trung
Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
Quốc, Diễn đàn về hợp tác ASEAN - Trung Quốc vào tháng 8 tại Kuala
Lumpur (Malaysia), Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN - Trung Quốc lần
thứ nhất vào tháng 9 tại Brunei, cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cấp cao
của hai bên vào tháng 10 tại Singapore, … Bên cạnh đó, cịn có rất nhiều các
cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo cũng như của các nhóm khảo sát của
hai bên đến cả Trung Quốc và ASEAN để tìm hiểu tình hình thị trường và
tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Với những nỗ lực của cả hai bên, ngày 4/11/2002, tại Hội nghị thượng
đỉnh ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở thủ đô Phnompenh (Campuchia), các nhà
lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã chính thức ký bản hiệp định khung về
hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc (Framework Agreement on
Asean–China Comprehensive Economic Cooperation - FAACCEC), mở
đường cho việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc

(ACFTA) trong 10 năm tới. Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước
phát triển mới của quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong thế kỷ này.
1.2. Nội dung của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Asean và
Trung Quốc
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế tồn diện giữa ASEAN và Trung
Quốc kí ngày 4/11/2002 gồm tổng cộng 16 điều và 4 phụ lục kèm theo. Nội
dung chính của hiệp định được chia làm 3 phần: Phần 1 (từ điều 3 đến điều
6) đề cập đến thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và chương
trình thu hoạch sớm; Phần 2 (điều 7) là về hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực
khác; Phần 3 (từ điều 8 đến điều 16) cũng là phần cuối cùng gồm các quy
định về khung thời gian của các chương trình hợp tác, về chế độ đãi ngộ
MFN, các ngoại lệ chung, cơ chế giải quyết tranh chấp và một số điều khoản
khác liên quan đến sự sửa đổi, hiệu lực… của Hiệp định.
1.2.1. Mục tiêu của Hiệp định:
i.

Tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa
ASEAN và Trung Quốc;

ii.

Xúc tiến thương mại hàng hoá, dịch vụ, cũng như cơ chế đầu tư thơng
thống, rõ ràng;

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế

iii. Khai thác các lĩnh vực mới và thiết lập các biện pháp thích hợp cho hợp
tác kinh tế chặt chẽ hơn giữa các bên;
iv. Tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn của các nước thành
viên mới của ASEAN và tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các bên.
1.2.2. Các biện pháp hợp tác kinh tế:
i.

Tích cực loại bỏ thuế và hàng rào phi thuế đối với hầu hết thương mại
hàng hoá;

ii.

Tiến tới tự do hoá thương mại dịch vụ về cơ bản tất cả các lĩnh vực;

iii. Thiết lập một cơ chế đầu tư cạnh tranh và cởi mở để tạo thuận lợi và
thúc đẩy đầu tư trong khuôn khổ FTA;
iv. Áp dụng các ứng xử đặc biệt, khác biệt và linh hoạt cho các nước thành
viên mới của ASEAN;
v.

Áp dụng linh hoạt cho các bên trong đàm phán FTA đối với khu vực
nhạy cảm của lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, dựa trên nguyên tắc
có đi có lại và cùng có lợi;

vi. Thiết lập các biện pháp tạo thuận lợi đầu tư và thương mại có hiệu quả,
bao gồm nhưng khơng hạn chế việc đơn giản hoá thủ tục hải quan và các
thoả thuận công nhận lẫn nhau;
vii. Mở rộng hợp tác kinh tế ra các lĩnh vực khác có thể đồng thuận được
của cả hai bên ASEAN và Trung Quốc, mà sẽ bổ sung vào việc làm sâu

sắc thêm liên kết đầu tư và thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc,
hình thành nên các chương trình hành động để thực hiện các lĩnh vực
hợp tác;
viii. Thiết lập các cơ chế thích hợp nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả
hiệp định này.

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
1.2.3. Nội dung cam kết
i. Thương mại hàng hố
Bên cạnh chương trình thu hoạch sớm, các bên tiến hành đàm phán
loại bỏ thuế quan và dỡ bỏ các quy định khác hạn chế thương mại đối với hầu
hết thương mại hàng hoá giữa các bên (ngoại trừ các mặt hàng cần thiết phù
hợp với quy định của Điều 24 (8) (b) của Hiệp định chung về thương mại và
thuế quan của WTO).
Các mặt hàng thuộc chương trình cắt giảm thuế và loại bỏ thuế quan
theo điều khoản này sẽ bao gồm các mặt hàng không tham gia chương trình
thu hoạch sớm và sẽ được phân chia theo 2 danh mục:
 Danh mục mặt hàng thông thường (NT - Normal Track): Những
mặt hàng được liệt kê trong danh mục này có thuế suất MFN áp dụng tương
ứng bị cắt giảm dần hoặc loại bỏ phù hợp với lịch trình và mức thuế suất
trong suốt thời gian từ 01/01/2005 đến 2010 đối với ASEAN 6 (bao gồm
Bruney, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và Trung
Quốc; từ 01/01/2005 đến 2015 với ngưỡng thuế suất khởi điểm cao hơn và
bước cắt giảm khác đối với các thành viên mới của ASEAN (bao gồm Việt
Nam, Lào, Campuchia và Myanmar). Đối với những dòng thuế đã được cắt

giảm nhưng chưa cắt giảm xuống 0% trong giai đoạn kể trên, thuế suất của
những mặt hàng đó sẽ được loại bỏ tích cực trong phạm vi thời gian do các
bên thoả thuận.
 Danh mục mặt hàng nhạy cảm (ST – Sensitive Track): Những mặt
hàng được liệt kê trong danh mục ST sẽ có thuế suất MFN áp dụng tương
ứng bị cắt giảm phù hợp với thuế suất cuối cùng vào ngày cuối cùng hoàn
thành cắt giảm do các bên thoả thuận; và nếu có thể áp dụng được, sẽ tiến tới
loại bỏ thuế trong phạm vi thời gian do các bên thoả thuận.
ii. Thương mại dịch vụ:
Để tăng cường mở rộng thương mại dịch vụ, các bên đồng ý sẽ tiến
hành đàm phán để tích cực tự do hố thương mại dịch vụ về cơ bản hầu hết
các lĩnh vực. Các vòng đàm phán sẽ trực tiếp đề cập đến các vấn đề:

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
 Cơ bản loại bỏ các đối xử phân biệt giữa các bên và nghiêm cấm
tạo ra các biện pháp phân biệt đối xử mới liên quan tới thương mại dịch vụ
giữa các bên, ngoại trừ các biện pháp được phép theo Điều khoản V(1)(b)
của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO;
 Phát triển theo chiều sâu và mở rộng phạm vi tự do hoá thương mại
dịch vụ theo hướng các nước ASEAN và Trung Quốc cam kết trong khuôn
khổ GATS;
 Hợp tác dịch vụ được mở rộng giữa các bên nhằm cải thiện tính
hiệu quả và sự cạnh tranh, cũng như làm phong phú nguồn cung cấp và phân
phối dịch vụ của các bên.
iii. Đầu tư

Để thúc đẩy đầu tư và thiết lập một cơ chế đầu tư cạnh tranh, tự do,
thuận lợi và minh bạch, các bên thoả thuận:
 Tiến hành đàm phán nhằm tích cực tự do hố cơ chế đầu tư;
 Tăng cường hợp tác về đầu tư, tạo thuận lợi cho đầu tư và cải thiện
tính minh bạch của các quy định và quy chế đầu tư;
 Đưa ra cơ chế bảo hộ đầu tư.
iv. Các lĩnh vực hợp tác khác :
5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên được các bên đưa ra là: nông nghiệp; công
nghệ thông tin và viễn thông; phát triển nguồn nhân lực; đầu tư; và phát triển
lưu vực sơng Mekong. Ngồi 5 lĩnh vực trên, hợp tác giữa các bên sẽ được
mở rộng ra cho các lĩnh vực khác, bao gồm nhưng khơng hạn chế các lĩnh
vực ngân hàng, tài chính, du lịch, cơng nghiệp, giao thơng vận tải, bưu chính
viễn thơng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), môi
trường, công nghệ sinh học, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoáng, năng
lượng và phát triển tiểu vùng.
Các biện pháp để đẩy mạnh hợp tác giữa các bên sẽ bao gồm những
biện pháp như: thúc đẩy và thuận lợi hoá thương mại hàng hoá, thương mại
dịch vụ và đầu tư; tăng cường tính cạnh tranh của SMEs; thúc đẩy thương
mại điện tử; nâng cao năng lực; chuyển giao cơng nghệ. Các bên cũng đồng ý

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
thực hiện các chương trình trợ giúp phát triển và hỗ trợ kỹ thuật cho các
nước, đặc biệt là các thành viên mới của ASEAN, nhằm giúp các nước này
điều chỉnh cơ cấu kinh tế và mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư với Trung
Quốc.

v. Khung thời gian thực hiện:
Hiệp định khung quy định khung thời gian cụ thể cho mỗi chương
trình hoạt động:
 Đối với thương mại hàng hoá, các cuộc đàm phán về cắt giảm và
bãi bỏ thuế quan và các vấn đề khác như trong điều 3 của Hiệp định bắt đầu
từ đầu năm 2003 và kết thúc vào 30/6/2004 để thiết lập ACFTA trong thương
mại hàng hoá vào năm 2010 đối với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, và
vào năm 2015 đối với các thành viên mới của ASEAN. Các cuộc đàm phán
về Quy tắc xuất xứ đối với thương mại hàng hố được hồn thành trước
tháng 12/2003.
 Đối với thương mại dịch vụ và đầu tư, các đàm phán về các thoả
thuận tương ứng bắt đầu từ năm 2003, có xét đến những lĩnh vực nhạy cảm
của các bên và những đối xử đặc biệt, khác biệt và linh hoạt đối với các thành
viên mới của ASEAN.
 Đối với các lĩnh vực hợp tác khác, các bên sẽ tiếp tục xây dựng
cách thức và bước đi có thể chấp thuận được đối với tất cả các bên có liên
quan.
vi. Chương trình thu hoạch sớm (Early Harvest Programme – EHP):
Đây là nội dung được đề cập kỹ nhất và cụ thể nhất trong Hiệp định
khung, cũng là một điểm đặc biệt của Hiệp định khung này. Vì như trên đã
nêu, thời gian thoả thuận hoàn thành ACFTA là trong vòng 10 năm, kết thúc
vào 2010 đối với Trung Quốc và ASEAN 5 (riêng Philippines khơng tham
gia vào Chương trình thu hoạch sớm), vào 2015 đối với 4 nước ASEAN mới.
Tuy nhiên, các bên đã linh động trong đàm phán đưa ra một chương trình
thực hiện sớm một số lĩnh vực trong khn khổ hợp tác nhằm mang lại lợi
ích ngay cho các bên trước thời hạn hoàn thành ACFTA.

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A



Tiểu luận Kinh tế quốc tế
Nội dung chính của Chương trình thu hoạch sớm là những thoả thuận
xố bỏ hàng rào thuế quan đối với một số mặt hàng, chủ yếu là hàng nông
sản cần thực hiện giữa các nước ngay sau khi kí kết hiệp định. Cụ thể như
sau :
 Những sản phẩm thuộc EHP : Đó là những sản phẩm thuộc mã số
HS 8/9, gồm 8 nhóm mặt hàng nông sản như :
01 Động vật sống
02 Thịt và các bộ phận nội tạng
03 Cá
04 Sữa và các sản phẩm từ sữa
05 Các sản phẩm từ động vật khác
06 Cây sống
07 Rau ăn
08 Quả ăn và các loại hạt
Tất cả các nước đều phải thực hiện EHP đối với những sản phẩm này.
Tuy nhiên, trong số những sản phẩm trên, một số nước được đưa ra danh
mục sản phẩm loại trừ (Exclusion List) được miễn đưa vào EHP. Cho đến
thời điểm ký Hiệp định, đã có 2 nước đã đàm phán xong với các bên còn lại
về danh mục sản phẩm loại trừ này, đó là Campuchia và Việt Nam. Danh
mục loại trừ của Campuchia gồm có 30 mặt hàng, trong đó nhiều nhất là các
mặt hàng thuộc mã 02, 07 và 08, chỉ có một loại mặt hàng thuộc mã 01 và
một loại mặt hàng thuộc mã 03. Danh mục loại trừ của Việt Nam có 15 mặt
hàng thuộc mã 01, 02, 04 và 08. Các nước Brunei, Indonesia, Myanmar,
Singapore, Thái Lan và Trung Quốc không được đưa ra danh mục loại trừ.
Các nước Lào, Malaysia và Trung Quốc hoàn thành xong việc đàm phán về
danh mục loại trừ trước 1/3/2003.
Ngồi 8 nhóm mặt hàng nơng sản trên, cịn có một số sản phẩm riêng

bao gồm cả những sản phẩm công nghiệp cũng được đưa vào EHP nhưng chỉ
được áp dụng giữa Trung Quốc với từng nước ASEAN trên góc độ song
phương. Các nước ASEAN này đều thuộc ASEAN 6. Cho đến nay, chỉ có
Indonesia và Thái Lan đã hoàn thành đàm phán với Trung Quốc về các sản
phẩm này.

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
 Mức giảm thuế:
Trừ những sản phẩm có mức thuế MFN 0% hoặc có mức thuế được
giảm xuống 0%, mức thuế vẫn sẽ giữ nguyên là 0%, còn lại tất cả các sản
phẩm thuộc chương trình EHP được chia thành 3 loại :
Loại 1: là các sản phẩm có mức thuế MFN > 15% đối với Trung Quốc
và các nước ASEAN 6, mức thuế MFN >=30% đối với các nước thành viên
ASEAN mới.
Loại 2: là các sản phẩm có mức thuế >= 5% và <= 15% đối với Trung
Quốc và ASEAN 6, mức thuế >=15% và < 30% đối với các nước ASEAN
mới.
Loại 3: là các sản phẩm có mức thuế < 5% đối với Trung Quốc và các
nước ASEAN 6, mức thuế < 15% đối với các nước thành viên ASEAN mới.
 Lộ trình giảm thuế:
Chương trình EHP được bắt đầu thực hiện từ 1/1/2004 với lộ trình cắt
giảm cụ thể như sau:
Bảng 1: Lộ trình giảm thuế theo EHP đối với Trung Quốc và các nước
ASEAN 6
Không muộn Không muộn Không muộn

Loại sản phẩm

hơn 1/1/2004

hơn 1/1/2005

hơn 1/1/2006

1 ( > 15%)

10%

5%

0%

2 ( > =5%, < 15%)

5%

0%

0%

3 ( < 5%)

0%

0%


0%

Nguồn: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc
(FAACCEC) – Ban thư ký ASEAN (www.aseansec.org).

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
Bảng 2: Lộ trình giảm thuế theo EHP đối với các nước thành viên
ASEAN mới
Bảng 2a: Các sản phẩm loại 1 - thuế suất > =30%
Không
muộn
hơn
1/1/2004

Không
muộn
hơn
1/1/2005

Không
muộn
hơn
1/1/2006

Không

muộn
hơn
1/1/2007

Không
muộn
hơn
1/1/2008

Không
muộn
hơn
1/1/2009

Không
muộn
hơn
1/1/2010

Việt Nam

20%

15%

10%

5%

0%


0%

0%

Lào và
Myanmar

-

-

20%

14%

8%

0%

0%

Campuchia

-

-

20%


15%

10%

5%

0%

Nước

Bảng 2b: Các sản phẩm loại 2 - thuế suất >= 15% và < 30%
Không
muộn
hơn
1/1/2004

Không
muộn
hơn
1/1/2005

Không
muộn
hơn
1/1/2006

Không
muộn
hơn
1/1/2007


Không
muộn
hơn
1/1/2008

Việt Nam

10%

10%

5%

5%

0%

0%

0%

Lào và
Myanmar

-

-

10%


10%

5%

0%

0%

Campuchia

-

-

10%

10%

5%

5%

0%

Nước

Không
Không
muộn

muộn
hơn
hơn
1/1/2009 1/1/2010

Bảng 2c: Các sản phẩm loại 3 - thuế suất < 15%
Không
muộn
hơn
1/1/2004

Không
muộn
hơn
1/1/2005

Không
muộn
hơn
1/1/2006

Không
muộn
hơn
1/1/2007

Không
muộn
hơn
1/1/2008


Không
muộn
hơn
1/1/2009

Việt Nam

10%

10%

5%

0 – 5%

0%

0%

0%

Lào và
Myanmar

-

-

5%


5%

0 - 5%

0%

0%

Campuchia

-

-

5%

5%

0 - 5%

0 - 5%

0%

Nước

Khơng
muộn
hơn

1/1/2010

Nguồn: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế tồn diện ASEAN - Trung Quốc
(FAACCEC) – Ban thư ký ASEAN (www.aseansec.org).

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
 Các quy định khác trong EHP:
Bên cạnh những thoả thuận về thuế quan đối với hàng hố, EHP cịn
có những quy định về ngun tắc xuất xứ và cách áp dụng các điều khoản
của WTO cho thương mại hàng hoá. Các bên cũng cam kết sẽ tìm ra những
biện pháp khả thi để áp dụng EHP đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ.
Chương trình EHP cũng đề cập đến việc thực hiện các hoạt động hợp
tác của 2 bên trên các lĩnh vực khác như dự án đường sắt nối Singapore Côn Minh và dự án đường cao tốc Bankok - Côn Minh theo khn khổ của
Chương trình hợp tác phát triển lưu vực sơng Mekong và Chương trình Tiểu
vùng sơng Mekong mở rộng; các kế hoạch phát triển trung và dài hạn của
Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS); việc ký kết Biên bản ghi nhớ về
hợp tác nông nghiệp giữa các bên, …
Nói tóm lại, có thể khẳng định Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn
diện giữa ASEAN và Trung Quốc kí ngày 4 /11/2002 có ý nghĩa rất quan
trọng đối với tiến trình hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung
Quốc. Với sự xác định rõ mục tiêu, phạm vi, biện pháp, thời gian, thời hạn
thực hiện sớm, các kế hoạch chi tiết liên quan đến hợp tác kinh tế, các cam
kết về đãi ngộ MFN cho các nước ASEAN kém phát triển và các kế hoạch
đàm phán trong tương lai về thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu
tư và các lĩnh vực hợp tác khác …, Hiệp định này là cơ sở pháp lý cho sự ra

đời của ACFTA hay nói cách khác là một cơ sở bằng văn bản và bằng chứng
hợp pháp của quan hệ hợp tác kinh tế trong tương lai giữa ASEAN và Trung
Quốc.
II. Kết quả thực hiện các cam kết
2.1. Thực hiện các cam kết của Việt Nam và một số nước
Sau khi các nước ASEAN và Trung Quốc ký Hiệp định khung về hợp
tác kinh tế tồn diện, trong đó có nội dung điều khoản về Chương trình Thu
hoạch sớm, ngày 25/2/2004, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định số
99/2004/NĐ-CP về danh mục hàng hóa và thuế suất nhập khẩu của Việt Nam
cho việc thực hiện Chương trình Thu hoạch sớm của Hiệp định khung hợp
tác toàn diện ASEAN – Trung Quốc. Ngày 10/3/2004 Bộ tài chính đã ban
hành thơng tư số 16/2004/BTC hướng dẫn thực hiện nghị định số
Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
99/2004/NĐ-CP. Trong đó hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN và
Trung Quốc để được hưởng ưu đãi theo EHP, cần phải đáp ứng được các tiêu
chuẩn sau:
- Thuộc danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam
tham gia EHP, ban hành kèm theo Nghị định số 99/2004/NĐ của chính phủ.
- Có xuất xứ từ Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN đã ký kết
hiệp định khung EHP, bao gồm Brunei, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar,
và Thái Lan.
Hàng hóa của các doanh nghiệp và các khu chế xuất tại Việt Nam, để
được hưởng thuế suất ưu đãi của EHP khi bán vào thị trường nội địa phải đáp
ứng đầy đủ các điều kiện: Nằm trong danh mục hàng hóa và thuế suất thuế
nhập khẩu của Việt Nam tham gia EHP ban hành kèm theo nghị định số

99/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ, có giấy chứng nhận xuất xứ
hàng hóa ASEAN - Trung Quốc (form E).
Theo hướng dẫn của bộ tài chính, đối với hàng hóa nhập khẩu từ các
nước ASEAN, Trung Quốc và hàng hóa của doanh nghiệp chế xuất tại Việt
Nam bán vào thị trường nội địa, nhà nhập khẩu được quyền lựa chọn mức
thuế suất thấp nhất trong các chương trình ưu đãi thuế quan mà Việt Nam
tham gia tại thời điểm nhập khẩu nhue EHP, MFN, AFTA ...
Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo hoạt động
bn bán với Trung Quốc, trong đó có những văn bản quy định riêng về trao
đổi hàng hóa qua biên giới, cho phép một số tỉnh có chung đường biên giới
với Trung Quốc được thực hiện một số chính sách ưu đãi tại khu kinh tế cửa
khẩu, bãi bỏ thuế suất nhập khẩu tiểu ngạch. Bên cạnh đó là các chính sách
khuyến khích xuất khẩu như chế độ thưởng xuất khẩu, hỗ trợ kinh phí xúc
tiến, cho nước ngồi hưởng hoa hồng mơi giới xuất khẩu, doanh nghiệp vay
vốn để sản xuất xuất khẩu được hưởng mức thuế ưu đãi. Việt Nam cũng thực
hiện việc tuyên truyền trong xã hội về Hiệp định khung để các doanh nghiệp
có thể có nhận thức rõ hơn về vấn đề này, từ đó tận dụng được các lợi thế của
mình. Ngồi ra, nhà nước ta cịn giúp đỡ các doanh nghiệp tăng cường các

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
hoạt động xúc tiến thương mại, thực hiện khảo sát thị trường. Đồng thời mở
thêm nhiều chi nhánh ngân hàng tại cửa khẩu để hỗ trợ cho hoạt động của
các doanh nghiệp.
Song song với những cố gắng của Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến
hành thực thi các cam kết trong khn khổ Hiệp định. Ngồi Hiệp định

khung toàn diện ký với ASEAN, Trung Quốc đã ký Hiệp định khung về
thương mại đầu tư với Hồng Kông (CEPA), ký kết FTA song phương với
từng nước thành viên ASEAN. Đối với EHP, Trung Quốc đã dành những ưu
đãi rất đặc biệt cho các đối tác, hàng nông sản Trung Quốc khơng có thời kỳ
bảo hộ, mức độ giảm thuế lớn, và khơng có sản phẩm loại trừ. Trong khi đó,
ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tổng cộng đưa ra “danh mục loại trừ”
gồm 229 sản phẩm, đưa các sản phẩm Trung Quốc có ưu thế như trứng gia
cầm, hoa quả ôn đới và rau vào danh mục loại trừ, còn hoa quả nhiệt đới và
bán nhiệt đới của Trung Quốc thuộc loại kém ưu thế thì khơng được bảo hộ.
Những thỏa thuận trên có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân
và nông nghiệp ở các tỉnh Trung Quốc. Cho nên việc Trung Quốc đồng ý với
danh mục loại trừ kể trên đã thể hiện thái độ rất tích cực của nước này khi
tham gia EHP.
Ngày 18 tháng 6 năm 2003, Bộ trưởng thương mại của hai nước Trung
Quốc và Thái Lan đã chính thức ký Hiệp định Thúc đẩy bỏ thuế nhập khẩu
đối với rau và quả. Theo Hiệp định này, thuế nhập khẩu đối với rau, quả và
hạt (theo mã HS là Chương 07 và Chương 08) giữa hai nước xuống 0% bắt
đầu từ ngày 01 tháng 10 năm 2003. Hiệp định này có tác dụng đối với 188
dịng thuế rau quả, trong đó bao gồm 108 dịng thuế rau chưa chế biến, và 80
dòng thuế quả, hạt chưa chế biến. Như vậy, tốc độ cắt giảm thuế đối với hai
chương 07 và 08 đã nhanh hơn so với Hiệp định khung ASEAN – Trung
Quốc từ 1 đến 2 năm. Theo Hiệp định khung thì mức thuế chỉ giảm xuống
0% bắt đầu từ 1/1/2004 đối với những dịng thuế có mức thuế dưới 5%, bắt
đầu từ 1/1/2005 đối với những dòng thuế có mức thuế từ 5-15% và bắt đầu từ
1/1/2006 đối với những dịng thuế có mức thuế hơn 15%. Theo hiệp định
giữa hai nước, mức giảm thuế sẽ có tác động tức thì đối với nơng sản của
Trung Quốc vào thị trường Thái Lan. Hiện nay, các sản phẩm thuộc Chương
Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A



Tiểu luận Kinh tế quốc tế
7 và 8 mà Thái Lan nhập khẩu từ Trung Quốc với số lượng đáng kể bao gồm
đậu các loại, táo, lê, quả mộc, mận, gai. Ngược lại, có 23 mặt hàng quả mà
Thái Lan có thế mạnh là sầu riêng, nhãn, măng cụt, chuối, vải, dừa, đu đủ,
khế, xồi, ổi, gioi, chơm chơm, dứa, lạc tiên, na, me, mít, quýt tangerine,
bưởi, cam. Điều này có nghĩa là Thái Lan, nước có nền nơng nghiệp phát
triển nhất trong 10 nước ASEAN sẽ đi tiên phong vào thị trường Trung
Quốc. Như vậy, Trung Quốc thực hiện EHP cùng với hiệp định thương mại
tự do song phương Thái Lan – Trung Quốc.
Thực hiện Hiệp định khung, Malaysia cũng đã ký với Trung Quốc
giảm thuế đối với 590 mặt hàng, kể cả các mặt hàng nông sản chưa chế biến,
cũng như dầu thực vật, sản phẩm ca cao, chất tẩy, trong đó có bao gồm cả 22
mặt hàng thuộc danh mục nhạy cảm. Nhưng Malaysia không dành ưu đãi cho
các nước ASEAN khác đối với 22 mặt hàng này mà chỉ áp dụng mức thuế ưu
đãi theo Chương trình cắt giảm theo CEPT. Sau khi thực hiện Hiệp định
khung, thương mại giữa Trung Quốc và Malysia tăng trưởng ổn định.
2.2. Kết quả thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc
2.2.1. Kết quả thương mại chung
Từ 01/01/2010, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
(ACFTA) chính thức được thiết lập và thực hiện một cách đầy đủ với cam
kết giảm thuế mạnh từ cả Trung Quốc và các nước ASEAN, theo đó có đến
khoảng 90% các mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào Trung Quốc và các
nước ASEAN 6 sẽ được hưởng mức thuế nhập khẩu từ 0 – 5%, bao gồm các
sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp (trừ một số mặt hàng thuộc Danh mục
nhạy cảm và nhạy cảm cao).
Với nhiều rào cản thương mại bị dỡ bỏ, ACFTA đã tạo hiệu quả rõ rệt
trong việc thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng nhanh. 6 tháng đầu
năm 2010, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN đạt

136,5 tỷ USD, tăng 55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc
xuất sang các nước ASEAN với tổng giá trị đạt 64,6 tỷ USD, tăng 45% so
với cùng kỳ năm 2009. Riêng ASEAN xuất khẩu sang Trung Quốc với tổng
Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
giá trị 71,9 tỷ USD, tăng hơn 64% so với cùng kỳ năm 2009. Qua đó,
ASEAN đã vượt Nhật Bản trở thành đới tác thương mại lớn thứ ba của Trung
Quốc.
2.2.1. Kết quả thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc
Về kết quả thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, kể từ khi thực hiện
chương trình EHP, giao dịch thương mại hai chiều tăng mạnh. Nếu như cuối
năm 2004, kim ngạch hai nước đạt 5 tỉ đô la Mỹ (vượt mức đề ra cho năm
2005) thì năm 2007 đã lên tới 16 tỉ đơ la Mỹ, năm 2008 hơn 20 tỉ đô la Mỹ;
năm 2009 hơn 21,5 tỉ đô la Mỹ và năm 2010 là 25 tỷ đơ la Mỹ. Tính đến hết
năm 2009, giá trị xuất khẩu các sản phẩm nông-lâm thủy sản đạt được như
sau: hạt điều đạt 177 triệu USD, tăng 10,5%; thủy sản đạt 155 triệu USD tăng
55%; sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 506 triệu USD. Hiện nay, lượng doanh
nghiệp làm thủ tục theo hình thức xuất khẩu chính ngạch cùng với nhu cầu
cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) tại các cửa khẩu tăng lên nhanh do được
hưởng các ưu đãi về thuế quan trong ACFTA là 0%.
Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc kể từ khi thực
hiện EHP tăng mạnh nhưng không tăng nhanh bằng tốc độ hàng hóa Trung
Quốc thâm nhập thị trường Việt Nam, nên nhập siêu cũng gia tăng nhanh
chóng, chẳng hạn năm 2008, mức nhập siêu từ Trung Quốc đạt 11,11 tỷ
USD, tăng 21%; trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập siêu hơn 8 tỉ đô la Mỹ,
hơn gấp 2 lần giá trị hàng xuất sang Trung Quốc.

Ngoài ra, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
cũng chưa có sự chuyển dịch tích cực, nhóm hàng nguyên nhiên liệu vẫn
chiếm tỷ trọng cao, trung bình khoảng 55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tiếp đó là nhóm hàng nơng, lâm, thủy hải sản chiếm tỷ trọng trung bình
khoảng 15%. Đây được coi là nhóm hàng có lợi thế cạnh tranh, và nhóm
hàng cơng nghiệp (chiếm tỷ trọng khoảng 10%) đang có mức tăng trưởng cao
và sẽ là động lực tăng trưởng chính của xuất khẩu Việt Nam trong tương lai.

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
Như vậy, qua các số liệu trên đây ta có thể thấy mặc dù Việt Nam cũng
đã nỗ lực thực hiện các cam kết trong khuôn khổ ACFTA và tận dụng những
cơ hội mà ACFTA mang lại. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chưa cao, giá trị
nhập siêu từ Trung Quốc thậm chí cịn tăng cao hơn mức tăng thương mại hai
chiều. Vì vậy, dưới đây đưa ra một số giải pháp để Việt Nam có thể hội nhập
thành cơng ACFTA.
III. Một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam vào ACFTA
Để Việt Nam có thể tận dụng những lợi thế so sánh của mình, tận dụng
phát huy những lợi ích mà ACFTA mang lại, sau đây là một số kiến nghị để
thúc đẩy hội nhập của Việt Nam vào ACFTA nhằm đạt được sự hợp tác các
bên cùng có lợi và sự phát triển có hiệu quả hơn của ACFTA.
3.1. Chun mơn hoá sản xuất và chế biến những mặt hàng xuất khẩu mà
Việt Nam có năng lực cạnh tranh hơn so với Trung Quốc
Về nơng sản, các nước ASEAN có nhu cầu về sản phẩm nhiệt đới cịn
Trung Quốc lại có ưu thế về sản phẩm ôn đới và hàn đới. Do vậy, Trung
Quốc có nhu cầu nhập sản phẩm nhiệt đới và tài nguyên của ASEAN. Việt

Nam nên tận dụng lợi thế này bởi vì một con đường khơn ngoan là phải biết
tận dụng thế mạnh của mình để vươn lên chứ khơng chỉ tìm cách nâng cao
sức mạnh thuộc nhiều lĩnh vực phải cạnh tranh gắt gao.
Để phát huy thế mạnh trong xuất khẩu những mặt hàng này, Việt Nam
có thể tiến hành một số biện pháp như:
 Đầu tư đầy đủ vào việc sản xuất, nuôi trồng những mặt hàng nông
sản nhiệt đới nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm cũng như
tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu.
 Tăng cường đầu tư vào khâu chế biến các loại sản phẩm này nhằm
giảm tỷ lệ hàng hóa sơ chế trong tổng lượng hàng nơng sản xuất khẩu. Đây
cũng là một biện pháp đảm bảo các mặt hàng nông sản xuất khẩu trở nên đa
dạng và phong phú hơn. Chẳng hạn, từ một loại trái cây như vải, có thể đầu
tư sản xuất thêm nhiều sản phẩm khác như vải ngâm nước đường, vải sấy
khô và nhiều loại sản phẩm khác.
Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
 Nghiên cứu thay đổi bao bì sản phẩm xuất khẩu theo hướng ngày
càng đa dạng, hấp dẫn hơn nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng hàng hố
đóng gói bên trong và tiết kiệm chi phí bao bì.
 Thống nhất cao tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các
sản phẩm xuất khẩu song song với nới lỏng các hàng rào phi thuế quan.
 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nơng sản tích
cực và chủ động thâm nhập thị trường thế giới, đẩy mạnh công tác đàm phán
song phương và đa phương nhằm khai thác không chỉ thị trường Trung Quốc
mà cả những thị trường mới.
Về công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam nên tập trung vào xuất khẩu các

sản phẩm điện tử cơ khí, một số nguyên vật liệu dùng cho sản xuất hoặc tập
trung phát triển những ngành dịch vụ mà Trung Quốc đang có nhu cầu lớn
như tư vấn, tài chính, giáo dục, quản lý cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị, …
Đồng thời, để khắc phục xu hướng ngày càng trở nên yếu thế trước
Trung Quốc trong những ngành hàng mà cả hai bên đều có ưu thế cạnh tranh
sau khi ACFTA được thành lập, tránh tình trạng hàng hố Trung Quốc thâm
nhập ồ ạt vào thị trường nội địa, Việt Nam cần cố gắng xác lập lợi thế so
sánh bằng cách nhanh chóng tăng năng suất lao động và hàm lượng tri thức
trong sản phẩm tiêu thụ cuối cùng để tạo nên những mặt hàng có nét độc đáo.
Tùy theo mỗi chủng loại hàng hố và thị hiếu mà có thể cải thiện theo những
hướng khác nhau. Chẳng hạn, đối với hàng may mặc, nên tăng tính thời
trang, chú ý sự quan trọng của kiểu dáng vì khi khơng tính tới nhân tố giá cả
thì mẫu mã và kiểu dáng của sản phẩm may mặc là nhân tố thu hút sự chú ý
nhất của người tiêu dùng; hay đối với sản phẩm tạp hóa, đồ dùng trong nhà,
trong văn phịng, điểm quan trọng cần chú ý lại là sự tiện dụng và hữu ích.
3.2. Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh đối với những mặt hàng
có khả năng cạnh tranh thấp hơn so với hàng hoá Trung Quốc
Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hoá là yếu tố chủ yếu để hàng hố
Việt Nam có thể xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường rộng lớn của Trung
Quốc, đồng thời có thể cạnh tranh được với hàng hoá các nước trên thế giới
trong đó có Trung Quốc. Để nâng cao sức cạnh tranh, cần quan tâm tới các

Đoàn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
góc độ sau: giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay
đổi mẫu mã, marketing quản lý.

 Nâng cao chất lượng sản phẩm là khâu đầu tiên cần làm để có thể
có sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng trên thị trường thế giới. Các ngành
cơng nghiệp phải đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ; kỹ thuật quản lý,
điều hành sản xuất cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài hoặc tự bỏ vốn đầu tư là hai cách thức mà Chính phủ và
các nhà kinh doanh có thể lựa chọn khi quyết định đổi mới thiết bị, máy móc,
cơng nghệ, trong đó thu hút FDI hiện là con đường được Chính phủ và nhà
kinh doanh lựa chọn nhiều nhất.
 Hạ giá thành: Hai hàng hố có cùng chất lượng, mẫu mã mà hàng
nào rẻ hơn thì sức cạnh tranh tất nhiên sẽ cao hơn. Các doanh nghiệp Việt
Nam có thể dựa vào việc sử dụng lợi thế của mình về giá lao động rẻ kết hợp
với giảm chi phí đầu vào, đồng thời kết hợp các khâu của quá trình sản xuất
một cách chặt chẽ để hạ giá thành sản phẩm. Tận dụng quy chế tối huệ quốc
cũng là biện pháp hết sức hữu ích để giảm giá hàng hố.
 Thay đổi mẫu mã sản phẩm, tăng cường chất lượng các khâu quảng
cáo, marketing trong bán hàng và phân phối từ lâu đã trở thành tiêu chí được
các nhà kinh tế quan tâm. Thực hiện biện pháp này sẽ giúp cho hàng hoá kịp
thay đổi và đáp ứng nhanh nhạy với nhu cầu, thị hiếu rất đa dạng và phức tạp
của người tiêu dùng Trung Quốc. Bởi vậy, đây cũng là một yếu tố tạo khả
năng cạnh tranh lớn cho hàng hoá Việt Nam.
3.3. Thúc đẩy cải cách kinh tế, tăng cường tự do hoá thương mại và xúc
tiến đầu tư
Với việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc,
Việt Nam sẽ có nhiều tiềm năng để thúc đẩy thương mại và đầu tư. Tuy vậy,
Việt Nam vẫn có thể lâm vào thế bất lợi so với Trung Quốc do sức ép cạnh
tranh từ người láng giềng khổng lồ này. Mặc dù vậy, cơ hội để phát triển vẫn
cịn nhiều. Chìa khố để mở cửa những cơ hội đó là ở tốc độ cải cách kinh tế
và chiến lược xúc tiến đầu tư.

Đoàn Phương Anh


Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
3.3.1. Đẩy nhanh tốc độ cải cách kinh tế và tự do hoá thương mại
Thứ nhất, Việt Nam nên tiếp tục chính sách cơng nghiệp hố hướng về
xuất khẩu nhằm đẩy mạnh tiến trình tự do hoá thương mại. Đa dạng hoá xuất
khẩu sẽ tiếp tục làm giảm sự phụ thuộc nặng nề vào dầu thô, gạo, hải sản,
nông nghiệp và ngư nghiệp; đồng thời tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút các nguồn lực bên ngồi hỗ trợ cho
q trình cơng nghiệp hố đất nước.
Thứ hai, cải cách doanh nghiệp và cải cách tài chính phải đi kèm với
tự do hoá giá cả và tự do hoá thương mại. Hội nhập thị trường trong nước và
hội nhập những lĩnh vực trên vào thị trường thế giới phải được tiến hành
đồng thời để đảm bảo giảm thiểu những yếu tố tiêu cực bên ngoài của những
nhân tố gây bóp méo cịn tồn tại và để tối đa hố lợi ích từ thương mại. Việc
tạo ra những thể chế liên quan tới thị trường có vai trị quan trọng trong việc
tối đa hố lợi ích của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Với việc không ngừng nỗ lực phát triển các thể chế và thị trường, Việt
Nam sẽ nổi lên là một nền kinh tế mạnh hơn sau khi hội nhập.
3.3.2. Xúc tiến đầu tư
Đầu tư nước ngồi vẫn ln là một nhân tố quan trọng thúc đẩy xuất
khẩu của các quốc gia. Đầu tư nước ngoài đồng nghĩa với việc tăng cường
thu hút vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tạo khả năng cho nước nhận đầu
tư hiện đại hoá các ngành sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản
phẩm. Do vậy, để tăng cường thu hút đầu tư, Việt Nam cần thực hiện một số
giải pháp sau:
Trước hết, Việt Nam cần đảm bảo hơn nữa tính hấp dẫn của mơi
trường đầu tư. Để vượt qua thử thách về sức thu hút đầu tư của một thị

trường lớn như ở Trung Quốc, Việt Nam cần nỗ lực cải thiện môi trường đầu
tư bằng việc đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích, tạo ra mơi trường pháp lý
và chính trị thuận lợi, cải thiện cơ sở hạ tầng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc
tế và khuyến khích việc bảo vệ và bảo đảm lợi ích cho sở hữu trí tuệ. Chiến
lược đầu tư của Việt Nam nên nhằm vào thu hút FDI, trong đó tập trung vào
chuyển giao công nghệ và bao gồm nhiều ngành từ những ngành cơng nghiệp

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
hướng vào công nghệ cao để khai thác nguyên liệu cũng như những ngành
dịch vụ.
Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư cần được đẩy mạnh hơn nữa.
Nhà nước cần có các chính sách nhằm đa phương hố các đối tác đầu tư nước
ngồi, thu hút các nguồn vốn từ khu vực có trình độ công nghệ cao như Bắc
Mỹ, Tây Âu. Các địa phương nên tích cực, chủ động hơn trong q trình tiến
hành vận động đầu tư. Chính quyền địa phương có quyền cân nhắc các dự án,
tập đoàn, các nhà đầu tư có tiềm năng trên cơ sở quy hoạch của Nhà nước và
danh mục đã được phê duyệt. Các bộ ngành có liên quan như: Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao nên phối hợp chặt chẽ với nhau
trong việc nghiên cứu thị trường đầu tư, tình hình kinh tế và chính sách luật
pháp của các nước, các tập đoàn đa quốc gia, song song với việc nghiên cứu
các chính sách của các quốc gia trong khu vực để xây dựng cho Việt Nam
một chính sách thu hút FDI hợp lý.
Thứ ba, để thu hút FDI nhiều hơn, Việt Nam cũng cần cải thiện các
điều kiện để có thể cung ứng các dịch vụ cần thiết cho nền kinh tế như lao
động, cơ sở hạ tầng… Theo nhiều nhà đầu tư nước ngoài, trên thị trường lao

động Việt Nam, lao động giản đơn thì dư thừa quá nhiều trong khi kỹ sư và
các chuyên viên có trình độ cao trong các ngành khoa học tự nhiên lại thiếu
nên tiền lương phải trả cho họ rất cao, làm cho mơi trường đầu tư kém hấp
dẫn. Chính vì vậy, Việt Nam cần chú ý cải thiện môi trường đầu tư theo
hướng này.
3.4. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại
3.4.1. Đối với cơ quan quản lý
 Nắm bắt kịp thời những thay đổi của bạn để đề ra các giải pháp
thích hợp phục vụ tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam trong công tác xuất
khẩu hàng sang Trung Quốc.
 Tổ chức các kênh thông tin giao lưu, trao đổi giữa doanh nghiệp hai
nước thơng qua:

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
 Hội chợ triển lãm: Hàng năm, Cơ quan xúc tiến thương mại Trung
Quốc sẽ tổ chức cho các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia Hội chợ thương
mại quốc tế do Bộ thương mại Việt Nam chủ trì. Ngược lại, Cục xúc tiến
thương mại Việt Nam cũng tổ chức cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia
các hội chợ lớn của Trung Quốc.
 Trao đổi đoàn quan lại: Các cơ quan quản lý hai nước cần tạo điều
kiện thuận lợi dể các tổ chức kinh tế xã hội, các doanh nghiệp ở trung ương
cũng như ở các tỉnh có chung biên giới thường xuyên trao đổi đoàn qua lại.
Hai bên giới thiệu các đối tác kinh doanh có thực lực, có uy tín cho nhau để
các doanh nghiệp ngoại thương hai nước tiến hành trao đổi, buôn bán.
 Tổ chức hội thảo: Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên

đề cũng như tuần giao lưu thương mại Việt – Trung tại các địa điểm thuận lợi ở
khu vực biên giới để đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế thương mại hai nước.
 Thông tin: Tổ chức xúc tiến thương mại hai nước nối mạng trang
web để phục vụ cho doanh nghiệp hai bên. Định kỳ hàng năm tổ chức xúc
tiến thương mại hai bên gặp gỡ nhau luân phiên tại thủ đô hai nước để trao
đổi chương trình hợp tác.
3.4.2. Đối với các doanh nghiệp
Về phía các doanh nghiệp, dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của Nhà nước,
cũng nên chủ động tìm ra những biện pháp hợp tác có hiệu quả, đồng thời
khơng ngừng nỗ lực tự đổi mới, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp,
có thể thơng qua một số biện pháp cụ thể như sau :
 Bằng các kênh thông tin của mình hoặc thơng qua kênh thơng tin
của Bộ Thương mại, tìm hiểu tình hình thị trường, tình hình cung cầu, đặc
điểm, yêu cầu, biến động và những tiềm năng phát triển của thị trường Trung
Quốc, việc này sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác thị trường, tìm ra và nắm
bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh ở nước bạn.
 Tìm hiểu chính sách, chủ trương của Nhà nước Trung Quốc một
mặt là để nắm bắt kỹ hơn về thị trường và kinh doanh có hiệu quả trong thị
Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


Tiểu luận Kinh tế quốc tế
trường đó, mặt khác rất quan trọng là để so sánh các cơ hội kinh doanh giữa
thị trường Trung Quốc với thị trường các nước ASEAN khác nhằm lựa chọn
thị trường kinh doanh có hiệu quả nhất về một ngành nghề cụ thể nào đó.
 Tìm hiểu chính sách, cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp ở
Trung Quốc và các nước khác trong khu vực. Đây là điều kiện tiền đề cho sự
hợp tác có hiệu quả. Các doanh nghiệp Việt Nam nên tìm hiểu những chế độ

sở hữu khác nhau, những đặc điểm mới trong thể chế lãnh đạo, hệ thống
quản lý, chính sách marketing, … của các doanh nghiệp có quy mơ khác
nhau của Trung Quốc.
 Tích cực tham gia vào các cuộc triển lãm, khảo sát thị trường nước
ngoài, tổ chức nhiều đợt xúc tiến thương mại, toạ đàm kinh tế, … để tìm hiểu
thơng tin, tìm đối tác, tạo cơ hội giao thương, đầu tư và tăng cường sự hiểu
biết lẫn nhau cho doanh nghiệp hai nước.
 Thành lập các hiệp hội doanh nghiệp trong một số ngành cùng với
các doanh nghiệp khác trong khu vực để cùng trao đổi ý kiến, cùng hợp tác
sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
khu vực.
 Đồng thời, bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải nỗ lực tự đổi
mới về cách thức quản lý kinh doanh sản xuất, tiếp cận và kịp thời đưa các
kỹ thuật mới vào sản xuất, không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, hạ
giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh từ nội lực doanh nghiệp cũng
như tăng cường sức cạnh tranh của hàng hố vì người tiêu dùng Trung Quốc
đã khác nhiều so với mấy năm trước đây.
3.5. Phát huy lợi thế về vị trí địa lý để nâng cao kim ngạch thương mại
song phương
Về mặt địa lý, Việt Nam nằm ở giữa Trung Quốc và các nước
ASEAN, Việt Nam lại có vùng bờ biển dài 2500 km với nhiều cảng nước sâu
từ Bắc tới Nam. Nếu phát triển tốt các hệ thống đường bộ xuyên Á cả theo
hướng Bắc – Nam và Đơng – Tây thì các cảng biển này sẽ thực sự trở thành
cửa ngõ cho quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc. Hơn nữa, một số tỉnh
phía Nam Trung Quốc có thể qua cảng Hải Phịng, Cái Lân tới các nước

Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A



Tiểu luận Kinh tế quốc tế
ASEAN. Trung Quốc cũng có thể thông qua các cảng ở miền Trung và Nam
Bộ Việt Nam tới Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar, Campuchia. Việt Nam
cịn có thể là một điểm trung chuyển chế xuất sang các nước Đơng Nam Á.
Vì vậy, để phát huy lợi thế về vị trí địa lý:
Thứ nhất, phải xây dựng những kết cấu hạ tầng cần thiết bao gồm: các
tuyến đường xe lửa, đường cao tốc, đường hàng không xuyên Á theo cả
hướng Bắc Nam và Đông Tây, các cảng nước sâu cần thiết, hệ thống thông
tin liên lạc xun Á thuận lợi, …
Thứ hai, cần có chính sách và cơ chế đầu tư hấp dẫn, linh hoạt để kích
thích nhu cầu sử dụng “đầu cầu và cửa ngõ” Việt Nam của Trung Quốc và
các nước ASEAN khác, đồng thời thể hiện Việt Nam sẵn sàng là một “đầu
cầu và cửa ngõ” cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.
Thứ ba là đẩy mạnh mậu dịch biên giới phát triển. Nói cách khác,
mậu dịch biên giới phải được coi là một bước khởi đầu đối với Việt Nam để
thúc đẩy phát triển kinh tế tiểu vùng và đây đồng thời cũng là nội dung quan
trọng của ACFTA vì mậu dịch biên giới sẽ khơng chỉ đóng vai trị như một
thí điểm cho ACFTA, mà cịn thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế thương mại
giữa Trung Quốc và Việt Nam.
3.6. Tích cực hợp tác với với các nước trong khối ASEAN để đi đến nhất
thể hoá thị trường khu vực nhằm cạnh tranh với thị trường Trung Quốc
Các nước ASEAN đều có lợi ích chung từ việc thành lập ACFTA. Hợp
tác với Trung Quốc, một nền kinh tế lớn mạnh và có quy mơ lớn hơn cả 10
nước ASEAN gộp lại, sẽ đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng có khơng ít thách
thức. Nếu trong nội bộ các nước ASEAN khơng có sự đồn kết hợp lực trong
quan hệ với Trung Quốc thì ASEAN sẽ khó có thể đạt được những lợi ích
chung đó, thậm chí cịn kìm hãm sự phát triển chung của cả khu vực này. Vì
vậy, trong quá trình xây dựng ACFTA, Việt Nam và các nước ASEAN cần
phải đẩy mạnh đoàn kết nhất trí hơn nữa, đứng trên lập trường chung trong

giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như chính trị, cùng hợp lực để bảo vệ
quyền lợi của mình trong các quan hệ hợp tác với Trung Quốc, cùng giúp đỡ
nhau phát triển, khắc phục những khó khăn trong việc thực hiện các cam kết
trong ACFTA. Đặc biệt là đối với những nước ASEAN mới, trong đó có Việt
Đồn Phương Anh

Lớp: KTTG 17A


×