Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.46 MB, 59 trang )

SỞ Y TẾ NGHỆ AN

BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ
CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ VINH NĂM 2021
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Quỳnh Phương

Vinh, 2021


SỞ Y TẾ NGHỆ AN
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ
CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ VINH NĂM 2021

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Quỳnh Phương
Cộng sự:

Đậu Thị Hiền
Đinh Thi Thanh Hoa

Vinh, 2021



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BYT

Bộ Y tế

CSSKBĐ

Chăm sóc sức khỏe ban đầu

ĐTTC

Điều trị tích cực

GDSK

Giáo dục sức khỏe

HSCC

Hồi sức cấp cứu

HĐNB

Hội đồng người bệnh

NB

Người bệnh


ĐD

Điều dưỡng


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ

8

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

10

1.1. Giáo dục sức khỏe

10

1.2. Định nghĩa điều dưỡng

14

1.3. Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh

17

1.4. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng thế giới


18

1.5. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng tại Việt
Nam

19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

21

2.1. Đối tượng nghiên cứu

21

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

21

2.3. Thiết kế nghiên cứu

21

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

21

2.5. Các biến số nghiên cứu

22


2.6. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin

27

2.7. Xử lý và phân tích số liệu

29

2.8. Sai số và các phương pháp hạn chế sai số

30

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

31

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

31

3.2. Kiến thức chung của điều dưỡng về giáo dục sức khỏe

31

3.3. Đánh giá của người bệnh về công tác giáo dục sức khỏe của Điều

dưỡng

32

Chương 4: BÀN LUẬN

37

KẾT LUẬN

42


KHUYẾN NGHỊ

43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

44

PHỤ LỤC

47


DANH MỤC BẢNG
BẢNG

NỘI DUNG


Trang

Bảng: 3.1.

Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng

31

Bảng: 3.2.

Đặc điểm nhân khẩu học người bệnh

32

Bảng: 3.3.

Chất lượng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng

34

qua đánh giá của người bệnh


7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ

NỘI DUNG


Biểu đồ: 3.1. Đánh giá chung kiến thức tư vấn – GDSK của điều

Trang
31

dưỡng
Biểu đồ: 3.2. Tần suất người bệnh được điều dưỡng tư vấn giáo dục

33

sức khỏe trong thời gian nằm viện
Biểu đồ: 3.3. Thời điểm người bệnh được điều dưỡng thực hiện tư

33

vấn giáo dục sức khỏe
Biểu đồ: 3.4. Phương pháp giáo dục sức khỏe điều dưỡng đã áp dụng

36

Biểu đồ: 3.5. Cảm nhận chung của người bệnh về năng lực điều

36

dưỡng trong công tác tư vấn giáo dục sức khỏe


8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc sức khỏe cho người bệnh (NB) là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý
của nhân viên y tế (NVYT) nói chung, của điều dưỡng (ĐD) nói riêng và bệnh
viện là nơi để ĐD thực hiện nghĩa vụ này. ĐD là lực lượng đông đảo nhất trong
bệnh viện là người đầu tiên tiếp xúc với người bệnh trong q trình nằm viện.
Ngày nay, ĐD khơng chỉ đơn giản chỉ là thực hiện y lệnh mà họ còn trực tiếp
chăm sóc thơng qua q trình nhận định, lập kế hoạch và tư vấn giáo dục sức
khỏe cho NB [5], [6].
Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm
hướng tới mục tiêu thay đổi hành vi sức khỏe. Hoạt động GDSK có vai trò to lớn.
Nếu giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn
phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển [21].
Có thể nói cơng tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một mắt
xích quan trong trong cơng tác chăm sóc, cơng tác điều trị. Để thực hiện được vấn
đề này đồng bộ, hiệu quả và thiết thực nhà nước đã đưa ra rất nhiều quy định,
quyết định, thông tư cụ thể để triển khai như sau
Thông tư 07/2011/TTBYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc
người bệnh trong bệnh viên quy định: Bệnh viện có quy định và tổ chức các
hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp. Người bệnh nằm viện
được điều dưỡng, hộ sinh tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe trong thời gian
nằm viện và sau khi ra viện phù hợp với tình trạng bệnh tật [6]
Theo Quyết định số: 1352/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y
tế về chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam có 25 tiêu chuẩn thì tiêu
chuẩn 14 đã chỉ rõ điều dưỡng phải có năng lực xác định nhu cầu và tổ chức
hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng động
Quyết định 4858 QĐ-BYT ngày 3/12/2013 về bộ tiêu chí đánh giá chất
lượng bệnh viện. Trong 83 tiêu chí thì có 13 tiêu chí liên quan đến tư vấn giáo
dục sức khỏe cho người bệnh…


9

Cơng tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh có vai trò rất quan trọng, để
đạt được hiệu quả cao người điều dưỡng cần có nền tảng kiến thức và kỹ năng
giáo dục sức khỏe tốt. Từ đó đạt mục tiêu tăng cường chất lượng điều trị, tăng
khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, giảm số
lần nhập viện, tiết kiệm chi phí cho điều trị [6].
Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh là bệnh viện hạng 2 tuyến huyện với
mơ hình 500 giường bệnh kế hoạch, trung bình người bệnh ngoại trú mỗi ngày
khoảng 1800-2000 người, người bệnh nội trú 650 người. Trong những năm gần
đây bệnh viện đã phát triển toàn diện về mọi mặt: 1 trong những bệnh viện hàng
đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động khám
chữa bệnh. Bên cạnh chăm lo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển khoa học
kỹ thuật mới chuyên sâu thì hệ thống điều dưỡng cũng được bệnh viện quan tâm
chính vì vậy mà chất lượng chăm sóc, TTGDSK những năm gần đây luôn được
người bệnh đánh giá cao. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đánh giá mang
tính khách quan và khoa học về cơng tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại
Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh, đây là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên
cứu thực hiện đề tài “Thực trạng Công tác Giáo dục sức khỏe cho người Bệnh
nội trú của Điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2021”
với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người Bệnh
điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2021.


10
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giáo dục sức khỏe
1.1.1. Khái niệm
Giáo dục sức khoẻ (GDSK): là một quá trình tác động có mục đích và có
kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm tạo ra hành vi có lợi hoặc

làm thay đổi hành vi sức khỏe (từ có hại thành có lợi) cho cá nhân và cộng đồng
[5].
Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tượng tự nguyện tự giác
thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình.
Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức
khỏe tốt, bảo vệ và phục hồi sức khỏe [3],[6].
1.1.2. Tầm quan trọng của GDSK
GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi
sức khỏe. Nó có vai trị to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe
cho con người. Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ
lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển.
GDSK khơng thay thế được các cơng tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng
GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế, cũng như
thúc đẩy phát triển các dịch vụ này.
Trong thực tế đã thấy rõ, nếu khơng làm tốt GDSK thì nhiều chương trình
y tế sẽ đạt kết quả thấp và khơng bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại.
So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một cơng tác khó làm và
khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi
phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở.
Từ đó có thể thấy rằng GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời
của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và
của mọi cơ quan y tế từ Trung ương đến cơ sở. Nó là một chỉ tiêu hoạt động
quan trọng của một cơ sở y tế [5].


11
1.1.3 Các phương pháp GDSK
Phương pháp GDSK trực tiếp [3], [11].
Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp
xúc với đối tượng GDSK. Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt

hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng. Người GDSK có thể
nhanh chóng nhận được các thơng tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính
điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi.
Cách thức
+) Tư vấn trong GDSK:
Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá
nhân và gia đình. Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng,
động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải
quyết vấn đề. Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ
về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng.
+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:
Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được
nghe những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia
đình và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi
hành vi. Tuy nhiên phương pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ
khác.
Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:
- Xác định rõ chủ đề nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề nhất
định.
- Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để
họ chuẩn bị tới dự (chọn thời gian và địa điểm thích hợp).
- Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày.
- Xác định thứ tự trình bày.
- Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ thích hợp với chủ đề và thực tế tại địa
phương.


12
Khi nói chuyện cần:
- Phải tơn trọng đối tượng.

- Xây dựng mối quan hệ với đối tượng trước khi nói chuyện.
- Nên sử dụng ngôn ngữ địa phương rõ ràng, mạch lạc.
- Cần kết hợp với tranh ảnh, mơ hình và ví dụ minh họa.
- Cần bao quát, quan sát đối tượng để điều chỉnh, giải đáp thắc mắc đầy
đủ khi đối tượng yêu cầu.
- Kết thúc buổi nói chuyện cần tóm tắt những vấn đề mấu chốt nhất cho
đối tượng dễ nhớ.
+) Tổ chức thảo luận nhóm:
Rất có hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong GDSK.
Thảo luận nhóm trong GDSK là ứng dụng nguyên lý "sự tham gia của cộng
đồng" trong CSSKBĐ. Một nhóm thảo luận tốt nhất là từ 6 - 10 người để tạo cơ
hội cho tất cả các thành viên có thể trình bày và thảo luận làm sáng tỏ những vấn
đề chưa hiểu biết và nêu ra các biện pháp giải quyết các vướng mắc của họ hay
của cộng đồng trong đó có họ sinh sống.
Các điểm cần thực hiện khi tổ chức thảo luận nhóm:
- Xác định chủ đề, nội dung trọng tâm.
- Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm.
- Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm.
- Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên
những thông tin phù hợp với tình hình thực tế.
Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối
tượng bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục.
+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc
tiến hành các dịch vụ y tế.
Phương pháp GDSK gián tiếp [3],[11]


13
GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực
tiếp tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển

tải qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các
kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần
chúng nhân dân một cách có hệ thống. Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử
dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta.
Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận
hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng.
Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp
GDSK gián tiếp là:
- Đài phát thanh, vơ tuyến truyền hình, video.
- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi.
- Pano, áp phích.
- Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật.
1.1.4. Phương tiện GDSK [3],[11]
Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một
phương pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng phân
loại các phương tiện GDSK bao gồm:
Phương tiện bằng lời nói: Lời nói là cơng cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu
quả trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng. Sử dụng lời nói có thể
truyền tải các nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng. Lời
nói rất tiện lợi và mang lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với
mọi người, với 1 gia đình, 1 nhóm nhỏ, 1 cộng đồng... Lời nói có thể dùng trực
tiếp hay gián tiếp, lời nói cịn được dùng để hỗ trợ, phối hợp với các phương tiện
GDSK khác như tranh ảnh, pano, áp phích, mơ hình...Người nói nếu khơng nắm
chắc được nội dung truyền đạt có thể dẫn đến việc cung cấp thơng tin khơng
chính xác và gây hiểu lầm cho đối tượng
Phương tiện bằng chữ viết.


14

Phương tiện tác động qua thị giác (phương tiện GDSK trực quan) tranh,
ảnh, pano...
Phương tiện nghe, nhìn: ti vi, ...
1.1.5. Lựa chọn nội dung GDSK
Nội dung GDSK là những thông tin chính cần trao đổi với đối tượng
GDSK trong một thời gian nhất định.
Ví dụ: Nội dung GDSK về phịng chống một bệnh nào đó thường theo
trình tự sau:
+ Ảnh hưởng xấu do bệnh gây ra.
+ Tầm quan trọng của việc phịng chống bệnh đó.
+ Ngun nhân của bệnh, đường lây truyền.
+ Cách phát hiện và xử trí thơng thường tại nhà và các phương pháp
phịng bệnh thơng thường khác [3], [11].
1.1.6. Vai trị của GDSK trong cơng tác điều dưỡng
1.2. Định nghĩa điều dưỡng:
Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng
cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng: dự phòng bệnh và điều trị đáp ứng nhu
cầu sức khỏe con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng
và xã hội [6].
1.2.1. Phân loại điều dưỡng và chức năng nhiệm vụ:
Hiện nay ở Việt Nam, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã phân loại hoạt động thực
hiện các nhiệm vụ của điều dưỡng theo trình độ chuyên môn bao gồm: điều
dưỡng sơ cấp, điều dưỡng trung cấp, điều dưỡng cao đẳng và đại học, điều
dưỡng chính và điều dưỡng cao cấp [5]. Tuy vậy hiện nay phần lớn tại các bệnh
viện chỉ có đến đội ngũ điều dưỡng cao đẳng và đại học.
Nhiệm vụ cụ thể, Bộ Y tế cũng căn cứ vào trình độ phân loại nhiệm vụ
theo chuyên môn như điều dưỡng sơ cấp khi thực hiện kỹ thuật chun mơn có
thể tham gia trực tiếp hoặc trợ giúp trong chăm sóc.
1.2.2. Vai trị chức năng của người điều dưỡng.



15
Điều dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về
thể chất và tinh thần [5]. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng điều trị và chăm
sóc người bệnh, giúp người bệnh sớm bình phục sức khỏe thì đối tượng nào
cũng phải hồn thành tốt vai trị nghề nghiệp của mình đồng thời cần phải có sự
hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc và điều dưỡng. Hội điều dưỡng Mỹ, hội điều
dưỡng của các nước Singapore, Thái Lan, Philipin đã nêu rõ vai trò chức năng
của người điều dưỡng chủ yếu là [22]:
1. Người chăm sóc
2. Người truyền đạt thơng tin
3. Người giáo viên
4. Người tư vấn
5. Người biện hộ cho người bệnh
1.2.3. Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng.
Người điều dưỡng có bốn trách nhiệm cơ bản: nâng cao sức khỏe, phòng
bệnh tật, phục hồi sức khỏe và làm giảm bớt đau đớn cho người bệnh [6].
Đối với người bệnh, người điều dưỡng có trách nhiệm: chăm sóc cơ bản
cho những người cần tới sự chăm sóc; tạo ra một mơi trường trong đó quyền của
con người, các giá trị, tập quán và tín ngưỡng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng
đồng đều được tôn trọng; cần đảm bảo cho mọi cá thể nhận được thông tin cần
thiết làm cơ sở để họ đồng ý chấp nhận các phương pháp điều trị và chăm sóc;
giữ kín các thơng tin về đời tư của người mình chăm sóc, đồng thời phải xem xét
một cách thận trọng khi chia sẻ các thông tin này với người khác.
Trách nhiệm nghề nghiệp của người điều dưỡng với người bệnh phải dựa
trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh: ý thức trách nhiệm
trước cuộc sống của người bệnh đòi hỏi người điều dưỡng một sự quan tâm đặc
biệt và một sự sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người bệnh. Trong bất cứ hoàn
cảnh nào cũng cần nhớ rằng người bệnh đang gặp khó khăn và đang cần sự giúp

đỡ của người cán bộ y tế. Sự từ chối giúp đỡ người bệnh là vi phạm nghĩa vụ xã


16
hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức và khi cần phải bị xử phạt về
hành chính.
Giúp đỡ người bệnh loại trừ các đau đớn về thể chất: trước người bệnh
đang bị đau đớn vì bệnh tật, người điều dưỡng phải luôn thể hiện một sự thông
cảm và quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau đớn của người bệnh như nỗi đau đớn của
chính mình để tìm mọi cách cứu giúp. Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và
điều trị phải nhẹ nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho người
bệnh.
Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh: người điều dưỡng có nhiệm vụ
đấu tranh cho sự sống của người bệnh đến cùng, luôn dành sự quan tâm tối đa
cho người bệnh với tinh thần “cịn nước cịn tát”, khơng bao giờ xa rời vị trí để
người bệnh một mình đối phó với bệnh tật.
Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: trong khi nằm viện, tinh thần của
người bệnh chịu ảnh hưởng của bản thân bệnh tật, sự cách ly người thân, môi
trường bệnh viện và nhiều yếu tố khác. Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể
chất của người bệnh thực tế khác với tình trạng của người khỏe. Khi tiếp xúc với
người bệnh, người điều dưỡng phải gây được lòng tin của người bệnh vào hiệu
quả điều trị.
Tôn trọng nhân cách người bệnh: bản chất của y đức học được thể hiện
trong câu “phải đối xử với người bệnh như anh muốn người ta đối xử với anh”.
Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải tạo ra một mơi trường trong
đó mọi giá trị, mọi phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân đều
được tôn trọng. Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng không được cáu
gắt, quát mắng người bệnh [7].
1.2.4. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh



17
- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố
nguy cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến
kết quả điều trị tối ưu.
- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều
đặn, luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định.
- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày
có minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp
hiểu rõ nội dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm.
- Các nội dung giáo dục sức khỏe: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng
thuốc, hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu
hiệu nặng, cách vệ sinh.
- Kỹ thuật sử dụng thuốc
 Có vai trò rất quan trọng giúp tuân thủ điều trị.
 Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc
 Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành.
- Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:
 Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu.
 Có thái độ và cách xử trí thích hợp
 Giảm bớt di chứng, tỷ lệ tử vong
 Giảm bớt số lần nhập viện, thời gian nằm viện và chi phí y tế.
 Giúp người bệnh lựa chọn môi trường.
 Sống chung với di chứng bệnh với chất lượng cuộc sống tốt.
 Hướng dẫn chi tiết và chu đáo những vấn đề trong đời sống hàng
ngày,
 bao gồm cả đời sống tinh thần [5].
- Biết cách phòng bệnh
 Thực hiện tiêm phòng
 Lựa chọn thực phẩm.



18
Với các ý nghĩa trên, GDSK giữ vai trò quan trọng và là một bộ phận hữu
cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc
của điều dưỡng, của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ương đến
cơ sở. Kỹ năng GDSK cũng là một trong những tố chất cơ bản giúp người điều
dưỡng thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.3. Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh
- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức
khỏe.
- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người.
- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc
bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong nhất là ở các nước đang phát triển.
- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế.
1.4. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng thế giới
Năm 2015, trong một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Casey D [21] ở 3
bệnh viện công gồm Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại tỉnh
Addis Ababa, Ethiopia nhằm đánh giá cơng tác chăm sóc của điều dưỡng thơng
qua mức độ hài lịng của 631 NB, kết quả cho thấy: Trong khi, tỷ lệ NB hài lịng
với khả năng chun mơn của người điều dưỡng đạt 70% thì tỷ lệ NB hài lịng
với lượng thơng tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức
điều trị bệnh của họ chỉ đạt 40%.
Nghiên cứu nhận thức về chất lượng chăm sóc tại phịng cấp cứu và xác
định các khu vực cải tiến chất lượng của Muntlin, Gunningberg và Carlsson
(2016) tại Thụy Điển cho thấy hơn 20% người bệnh cho rằng đã không nhận
được các thơng tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [26]
Một nghiên cứu của Jenney và cộng sự (2014) về kiến thức của điều
dưỡng chỉ ra rằng có 21% điều dưỡng thiếu kiến thức về quy trình GDSK cho
người bệnh trước khi ra viện.

Nghiên cứu của tác giả Kelly và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng tuổi liên
quan rõ ràng với kiến thức. Điều dưỡng lớn tuổi thì kinh nghiệm làm việc nhiều,


19
họ có kinh nghiệm tốt hơn trong việc nắm bắt tình trạng bệnh và mức độ tiếp thu
của người bệnh so với điều dưỡng trẻ tuổi [23]
Nghiên cứu của Nguyen Hong Minh (2020) lại cho rằng trình độ của điều
dưỡng là yếu tố quan trọng liên quan đến kiến thức kỹ năng giáo dục sức khỏe,
trình độ giáo dục cao hơn có liên quan rõ ràng với kiến thức tốt hơn (80% điều
dưỡng có trình độ học vấn đại học có kiến thức tốt, trong khi con số này ở
những điều dưỡng có trình độ học vấn trung cấp chỉ khoảng 30%) với P= 0.002
[24].
Một nghiên cứu khác của Kelly Scott (2020) cũng chỉ ra rằng, số lượng
điều dưỡng có liên quan trực tiếp đến chất lượng chăm sóc, ở bệnh viện nào có
nhiều điều dưỡng có trình độ cao và số lượng đơng thì chất lượng chăm sóc cao
hơn hẳn các bệnh viện khác. Chất lượng chăm sóc điều dưỡng bao gồm việc
phòng ngừa té ngã người bệnh, phòng chống loét do tỳ đè, viêm phổi do thở
máy, nhiễm trùng máu do đặt catheter và đặt ống thông đường tiết niệu [23]
1.5. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà năm 2011 [15] về thực trạng
cơng tác chăm sóc của điều dưỡng thơng qua nhận xét của người bệnh điều trị
nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương cho thấy điều dưỡng viên làm
tương đối tốt các chức năng cơ bản như: hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y
lệnh của bác sĩ đạt 84,2%; theo dõi, đánh giá NB đạt 80,5%; tiếp đón NB đạt
78,9%; Tuy nhiên, cơng tác tư vấn, GDSK cho NB chỉ đạt 49,6%.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình Minh năm 2019 [14] tiến hành tại bệnh
viện đa khoa tỉnh Ninh Bình nhằm mơ tả thực trạng cơng tác chăm sóc điều
dưỡng cho thấy: về cơ bản ĐDV của bệnh viện đã hoàn thành tương đối tốt các
nhiệm vụ với 4 trong 5 nhiệm vụ được đánh giá đều đạt trên 90% như: cơng tác

tiếp đón NB đạt 95,8%, tiếp theo là hoạt động chăm sóc hỗ trợ về tâm lý, tinh
thần; theo dõi đánh giá NB lần lượt đạt 94,9% và 94,0%, và công tác phối hợp
thực hiện y lệnh của bác sỹ đạt 90,3%. Tuy nhiên, kết quả thực hiện công tác tư
vấn, hướng dẫn GDSK lại khá thấp chỉ đạt 66,2%.


20
Nghiên cứu của Phạm Thị Loan và cộng sự năm 2016 [12] khi lấy ý kiến
của 213 người bệnh nằm điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên để đánh giá công tác CSNB của ĐD, kết quả cho thấy 97,18%
người bệnh đánh giá được điều dưỡng thông báo và hướng dẫn sử dụng thuốc;
tỷ lệ điều dưỡng giải thích động viên người bệnh khi thực hiện tiêm truyền và
thủ thuật cũng được người bệnh đánh giá khá cao đạt 87,3%; Có 86,86% người
bệnh đánh giá được ĐD hướng dẫn về chế độ ăn uống.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thị Thanh Điều năm 2017 [8] về
thực trạng và một số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc
người bệnh tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình qn đội 108 (4/2016 - 6/2017),
cho thấy: Trong khi, những chăm sóc cơ bản như lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết áp
được đánh giá ở mức độ cao đạt > 95%; công tác chuẩn bị cho người bệnh trước
mổ đạt 97,5%; 96% người bệnh đánh giá được điều dưỡng đón tiếp vui vẻ, chăm
sóc tận tình, động viên giải thích rõ ràng, song các vấn đề khác như giao tiếp, giải
thích cho người bệnh trước khi làm các thủ thuật mới chỉ đạt ở 80,8%; cơng tác
chăm sóc ống dẫn lưu sau mổ cũng như chăm sóc vết mổ đạt từ 85,8% - 86,7%.
Tuy vậy, công tác hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc và phịng bệnh chỉ đạt
77,5%, cơng tác hướng dẫn người bệnh cách luyện tập phục hồi chức năng sau
mổ mới chỉ đạt 78,3%.
Khảo sát thực trạng giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng viên tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Hà Giang từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2009 của Phạm Khánh Vân
năm 2019 [20] cho thấy còn những tồn tại như 10,58 % điều dưỡng viên không
hướng dẫn chế độ ăn cho NB hoặc 6,88 % khơng giải thích và hướng dẫn NB
cách sử dụng thuốc v.v...

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Loan năm 2019 [13] tại Sơn La cho
thấy vẫn còn 22,4% người bệnh khơng được điều dưỡng tư vấn về phịng ngừa
kiểm sốt nhiễm khuẩn, 23,2% người bệnh khơng được tư vấn về hoạt động thể
lực…


21

Chương 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
- Điều Dưỡng, Hộ sinh trực tiếp chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa
khoa thành phố Vinh.
- Bệnh nhân là những người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa
thành phố Vinh
Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Điều dưỡng, Hộ sinh đã có chứng chỉ hành nghề.
+ Người bệnh sau khi kết thúc điều trị tại khoa hồn tồn tỉnh táo và có độ
tuổi từ 18 tuổi trở lên, có khả năng đọc hiểu khơng có rối loạn hay sa sút trí tuệ
và được lựa chọn giai đoạn kết thúc đợt điều trị
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Điều dưỡng, nữ hộ sinh khơng trực tiếp chăm sóc người bệnh làm việc
tại các phòng chức năng, phòng khám ngoại trú và các khoa cận lâm sàng.
+ Điều dưỡng, nữ hộ sinh trong thời gian nghỉ chế độ, đi học trong thời
gian nghiên cứu.


22

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 01/3/2021 đến tháng
01/10/2021
- Địa điểm: 11 khoa lâm sang
+ Nội tổng hợp, Nội tim mạch, Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương, Mắt,
Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Hồi sức tích cực – chống độc thận nhân tạo, Sản,
Bệnh nhiệt đới, Y học cổ truyền.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả cắt ngang theo phương
pháp chọn mẫu thuận tiện
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
a. Cỡ mẫu:
- Điều dưỡng, Hộ sinh có chứng chỉ hành nghề đang làm việc tại các khoa
lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa thành phố
- Người bệnh đang điều trị tại 11 khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa thành
phố Vinh
- Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi chọn chủ đích tổng số cỡ mẫu là
n=195
b. Phương pháp chọn mẫu:
Bước 1: Lựa chọn đối tượng điều dưỡng, Hộ sinh, KTV:
+ Lập danh sách Điều dưỡng, Hộ sinh, KTV có chứng chỉ hành nghề
(cung cấp bởi phịng tổ chức hành chính)
+ Lấy mẫu toàn bộ điều dưỡng viên trong danh sách, tra cứu hồ sơ bệnh
án của điều dưỡng viên thực hiện tại thời điểm hoàn thành hồ sơ thủ tục cho
người bệnh xuất viện đảm bảo (N=195)
Bước 2: Lựa chọn đối tượng bệnh nhân
+ Từ hồ sơ bệnh án của điều dưỡng viên được đưa vào nghiên cứu, lựa
chọn thuận tiện 01 bệnh nhân được điều dưỡng viên tương ứng chăm sóc để
phỏng vấn (N=195)



23
2.5. Các biến số nghiên cứu
STT

Biến số/chỉ
số

Diễn giải

Phân loại
biến

Đặc điểm nhân khẩu học của Điều dưỡng
Tuổi
Số lượng/Tỷ Rời rạc
1
lệ tuổi (dương
lịch)
của
ĐTNC
tại
thời
điểm
nghiên cứu,
theo
nhóm
tuổi
2
3


4

Số lượng/Tỷ Nhị phân
lệ nam hay nữ
Trình
độ Số lượng/ Tỷ Thứ bậc
Chuyên môn lệ bằng cấp
cao nhất của
ĐTNC
tại
thời
điểm
nghiên cứu
Thâm
niên Số lượng/ Tỷ
Rời rạc
lệ số năm
công tác
công tác theo
mốc thời gian
5 năm, 10
năm
Giới

Kiến thức chung của điều dưỡng về giáo dục sức khoẻ
Đánh
giá Số lượng/ Tỷ
Thứ bậc
5

chung
kiến lệ đạt kiến
theo
thức tư vấn thức
GDSK
cả mức độ xuất
sắc, giỏi, khó,
điều dưỡng

Phương pháp
thu thập

Theo danh sách

Theo danh sách
Theo danh sách

Theo danh sách

Phỏng vấn


24
trung
kém.

bình,

Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân
6


7
8

Tuổi

Số lượng/Tỷ Rời rạc
lệ tuổi (dương
lịch)
của
ĐTNC
tại
thời
điểm
nghiên cứu,
theo
nhóm
tuổi

Số lượng/Tỷ Nhị phân
lệ nam hay nữ
Trình độ học Số lượng/ Tỷ Thứ bậc
lệ bằng cấp
vấn
cao nhất của
ĐTNC
tại
thời
điểm
nghiên cứu.

Giới

Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe
Tần
suất Số lượng/ Tỷ Rời rạc
9
người bệnh lệ thực hiện
được ĐD tư GDSK theo
vấn trong thời tần suất 3 lần
gian nằm viện trở lên, 2 lần,
1 lần, không
lần nào
Thời
điểm Số lượng/ Tỷ Rời rạc
10
NB được điều lệ thực hiện
dưỡng thực GDSK theo
thời
điểm
hiện GDSK
trước, trong,
và sau thời
gian
nằm

Phỏng vấn

Phỏng vấn
Phỏng vấn


Phỏng vấn

Phỏng vấn


25
viện.
Nhóm biến số về chất lượng GDSK
Khi vào viện Số lượng/ Tỷ
11
NB có được lệ bệnh nhân
lời
hướng
dẫn trả
nội quy bệnh có/khơng
thực
viện,
khoa được
hiện nội dung
phịng
GDSK được
hỏi.
Giải thích cho Số lượng/ Tỷ
12
NB cách dùng lệ bệnh nhân
lời
thuốc,
mục trả
đích của sử có/khơng
thực

dụng thuốc, được
hiện nội dung
XN
GDSK được
hỏi.
Hướng dẫn Số lượng/ Tỷ
13
chế độ ăn lệ bệnh nhân
lời
uống
trong trả
q trình điều có/khơng
thực
trị và khi ra được
hiện nội dung
viện
GDSK được
hỏi.
Thơng tin về Số lượng/ Tỷ
14
tình trạng SK lệ bệnh nhân
lời
của NB trong trả
q trình điều có/khơng
được
thực
trị
hiện nội dung
GDSK được
hỏi.


Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn


×